Trường Đại Học Ngân Hàng TPHCM
Khoa Tín Dụng
Tiểu luận: Nhập môn Tài Chính – Tiền Tệ
Đề Tài: Lạm Phát Việt Nam 2011 – Thực trạng, giải
pháp và cái nhìn về tương lai.
Lớp: T08. (Nhóm 3)
GVHD: Nguyễn Văn Nghiện
Sinh viên:
Huỳnh Ngọc Đan Thanh. MSV: 030125090724
Trần Đại Trí. MSV: 030125090955
TPHCM – 8/11/2011
Mục lục:
1
Lời nói đầu ……………………………………………………………………Trang 3
1.Tình hình lạm phát ở Việt Nam 2011………………………………………..Trang 4
1.1. Đánh giá tình hình lạm phát 7 tháng đầu năm 2011……………………Trang 4
1.2 Nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam……………………………………Trang 5
1.2.1. Nguyên nhân tích tụ từ giai đoạn trước……………………………..………Trang 5
1.2.2. Nguyên nhân xuất hiện trong năm 2011……………………………….……Trang 7
1.3. Dự báo lạm phát Việt Nam những tháng cuối 2011……………………Trang 9
2.Các chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam……………………….…Trang 10
2.1.Các chính sách kiềm chế lạm phát 6 tháng đầu 2011..............................Trang 11
2.1.1 Chính sách tiền tệ………………………………..………………………….…Trang 11
2.1.2 Chính sách tài chính……………………………..……….……………………Trang 16
2.2 Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa 6 tháng cuối năm 2011 như thế
nào?…………………………………...…………………………………….…Trang 18
2.3 Các giải pháp phối hợp để kiểm soát lạm phát tại Việt Nam……………Trang 20
Lời kết…………………………………………………………………………Trang 23
Tư liệu tham khảo…………………………………………………………….Trang 24
LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát thể hiện giá cả chung cả nền kinh tế trong nước tăng lên theo thời gian, là sự
trưởng GDP 7,5%, tuy nhiên kinh tế thế giới đã có những diễn biến bất ngờ, giá vàng,
nhiên liệu tăng, bên cạnh đó Nhật Bản bị thảm họa động đất sóng thần; tình hình chính
trị bất ổn ở Lybia, tình hình khủng hoảng nợ công châu Âu… đã có những tác động đến
nền kinh tế toàn cầu. Nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi tại
châu Á phải đối mặt với bài toán khó, đó là kìm chế lạm phát nhưng vẫn bảo đảm phục
hồi tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh đó diễn biến lạm phát của Việt Nam năm 2011
gia tăng nhanh có nguy cơ lặp lại kịch bản của năm 2008. Giá cả nhiều mặt hàng thiết
yếu, đặc biệt là lương thực thực phẩm gia tăng, tác động không nhỏ đến đời sống
thường ngày của người dân. Bên cạnh đó, lạm phát khiến cho mặt bằng lãi xuất, chi phí
các yếu tố đầu vào tăng lên khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của không ít
doanh nghiệp trở nên khó khăn.
1.1. Đánh giá tình hình lạm phát 7 tháng đầu năm 2011
Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 7 năm 2011 tăng 22,16% so với cùng kỳ năm 2010, cao
gấp 3 lần so với mức tăng tương ứng của năm 2010 (8,19%) và cũng là mức tăng rất
cao so với nhiều năm gần đây ( chỉ thấp hơn cùng kỳ năm 2008 là năm lạm phát tăng
cao đột biến).
Bình quân 7 tháng tăng 16,95%, so với tháng 12 năm 2010 tăng 14,64%; trong đó tháng
7: 1,17%; tháng 6 1,29%; tháng 5 2,21%; tháng 4 3,32%; tháng 3: 2,17%; tháng
2:2,09% ; tháng 1 :1,74%. Lạm phát cơ bản tháng 6 tăng 14,88% so với cùng kỳ 2010
và tưang 9,1% so với tháng 12 năm 2010, tốc độ tăng có xu hướng chậm lại từ tháng 5
(tháng 1: 1,58%; tháng2: 1,57%; tháng 3: 1,63%; tháng 4:1,83%; tháng 5: 1,39%, tháng
6:0,76%)
Trong rổ hàng hóa tính CPI, cấu phần có ảnh hưởng lớn nhất đến CPI chung là hàng ăn
và dịch vụ ăn uống tăng 21,2% và chiếm tỉ trọng 59,1% (lương thực tăng 9,8% và
chiếm tỉ trọng 5,6%; thực phẩm tăng 26,12% và chiếm tỉ trọng 44,5%); tiếp đến nhóm
phương tiện đi lại, bưu điện tăng 19,05% (chiếm tỉ trọng 11,8%); nhóm nhà ở,vật liệu
xây dựng tăng 14,15%(chiếm tỉ trọng 10,6%); nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng
8,51%(chiếm tỉ trọng 1,99%); nhóm may mặc, giày dép, mũ nón tăng 8,65%( chiếm tỉ
trọng 4,4%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 6,48%(chiếm tỉ trọng 3,92%); còn
các nhóm hàng còn lại giao động từ mức 4,32% đến 6,36%; trừ mặt hàng bưu chính
ngành nông lâm nghiệp, công nghiệp, giáo dục đào tạo… lại chưa được đầu tư đúng
mức. Việc phát triển nền kinh tế không bền vững, lệ thuộc nhiều vào dòng vốn từ nước
ngoài được coi là nguyên nhân sâu xa dẫn tới tình trạng lạm phát cao của Việt Nam
trong những năm vừa qua.
Thứ ba, giá lương thực thực phẩm tăng cao: biến đổi khí hậu toàn cầu trên tế giới đã có
tác động nặng nề đến các nước, trong đó có Việt Nam. Tính bình quân trong vòng 10
năm qua, giá lương thực thực phẩm đã tăng 2,6 lần trong khi các hàng hóa khác tăng
1,7 lần. Đây cũng là nhân tố làm lạm phát ở Việt Nam tăng mạnh do nhóm các hàng
hóa này chiếm hơn 40% khi tính CPI tại Việt Nam.
5
1.2.2. Nguyên nhân xuất hiện trong năm 2011
Giá cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tăng cao:
Mở đầu cho việc tăng giá mặt hàng thiết yếu là ngày 24/2 năm 2011, giá xăng trên thị
trường nội địa Việt Nam tăng lên mức 19.300đồng/lít và đến ngày 26/7/2011 là
21.300đồng/lít. Sau chuỗi tăng giá xăng thì thị trường Việt Nam còn phải chịu thêm
gánh nặng của việc ngành điện quyết định tăng giá trong tháng 3 năm 2011. Theo đánh
giá của giới chuyên môn lần tăng giá này là cần thiết và hợp lý vì lâu nay ngành điện
luôn phải bù lỗ để có mức giá ưu đãi cho nhân dân. Tuy nhiên trong tình trạng giá cả
leo thang, các công trình thủy điện đang xây dựng gian dở cần huy động thêm vốn thì
việc tiếp tục bù lỗ trở thành điều không thể đối với ngành điện. Với việc 2 nguồn nhiên
liệu chủ yếu của xã hội là xăng và điện cùng tăng giá thì việc các loại hàng hóa trong xã
hội cũng dần dần tăng giá theo là một điều khó tránh khỏi.
Lạm phát tăng cao và nhanh ở 3 nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm; thuốc tân dược
và vật liệu xây dựng. Cả 3 mặt hàng này đều liên quan trực tiếp và thường xuyên đến
đời sống của đông đảo quần chúng, đặc biệt là những người hưởng lương, những người
dân có hoàng cảnh khó khăn và không có nguồn thu nhập. Sự tăng cao của giá cả tiêu
dùng có rất nhiều lý do nhưng các lý do sau đây cần phải quan tâm:
- Về tình hình sản xuất: Một số các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải thu
hẹp sản xuất vì thiếu vốn do lãi xuất vay ngân hàng cao có khi phải vay 25-26%,
hiện nay tuy có giảm cũng đang nằm ở mức 21-23%, sản phẩm sản xuất giảm
chế lạm phát của NHNN đã khiến một số ngân hàng nhỏ gặp khó khăn về thanh
khoản. Trong khi đó, các NH này bị hạn chế về thương hiệu, mạng lưới khiến
khó có thể cạnh tranh được với các ngân hàng lớn trong việc huy động vốn, nhất
là khi NHNN ấn định trần lãi suất huy động tối đa chỉ là 14%/năm. Các NH này
cũng gặp khó khăn trong việc đi vay từ NHNN trên thị trường mở do thiếu giấy
tờ có giá để giao dịch; NHNN cũng đang hạn chế lượng tiền cung ứng để kiềm
chế lạm phát. Khó khăn về thanh khoản khiến các NHTMCP nhỏ thường xuyên
phải vay trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng dư vốn đã tận dụng tình
trạng này để cho vay các NHTM thiếu vốn với lãi suất cao có lúc lên đến
20-21%/năm. Thực trạng này làm mất đi ý nghĩa vốn có của thị trường liên ngân
hàng là nơi đi vay và cho vay ngắn hạn giữa các ngân hàng với nhau, là nơi “bấu
víu” của các NH tạm thời thiếu thanh khoản. Không những vậy, việc làm này
còn khiến đồng vốn chỉ chạy lòng vòng trong các ngân hàng mà không đi vào
vùng kinh tế để phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh. Thậm chí nhiều NHTM
nhỏ không chấp nhận kiểu đi vay này đã quay trở lại thị trường 1 để huy động
vốn bằng mọi giá. Và khi các NHTM nhỏ khởi động cuộc đua, để giữ chân
khách hàng và duy trì nguồn vốn ổn định, các NHTM lớn cũng buộc phải đẩy lãi
suất huy động lên cao khiến cuộc đua lãi xuất bùng phát.
- Thiếu sự hỗ trợ thanh khoản đối với các ngân hàng TM từ công ty Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam: Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập đến việc chi trả tiền gửi cho
người gửi tiền khi NH bị phá sản, song đây không phải là nhiệm vụ chính yếu
của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là một kênh rất
7
quan trọng hỗ trợ cho các NHTM khi họ gặp khó khăn về thanh khoản nhưng
đến nay vẫn chưa có luật bảo hiểm tiền gửi để làm minh bạch cho nhiệm vụ và
quyền lợi của NHTM, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, người gửi tiền.
- Sự hỗ trợ thiếu hụt thanh khoản từ số dư tiền gửi bắt buộc từ NHNN: NHNN có
thể tăng, giảm tỉ lệ dự trữ bắc buộc để tác động đến mở rộng, thu hẹp hoạt động
kinh doanh của NHTM khi các NHTM chấp hành thực hiện chuyển tiền vào tài
khoản tiền gửi dự trữ bắc buộc tại NHNN. Nếu các NH chấp hành tốt thì thực sự