HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN QUÝ LONG
CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN
TIẾP CẬN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CỦA TRẺ EM VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 9 31 03 01
Hà Nội - 2020
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Nguyễn Hữu Minh
2. PGS. TS. Đặng Thị Ánh Tuyết
Phản biện 1:.........................................................
Phản biện 2:.........................................................
Phản biện 3:.........................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
thành niên. Đây là một nhóm xã hội đặc biệt, có sự thay đổi rất lớn về tâm sinh lý
trong quá độ phát triển từ trẻ em lên người trưởng thành. Lứa tuổi THPT cũng có
mức độ trưởng thành đáng kể trong hoạt động học tập. Khác với giai đoạn nhỏ tuổi,
trẻ em trong độ tuổi THPT có nhiều mối quan hệ xã hội hơn, sự giao tiếp xã hội
cũng nhiều hơn. Vì thế, việc tìm hiểu tiếp cận giáo dục THPT trong giai đoạn tuổi vị
thành niên của trẻ em là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết.
Việc tìm hiểu các yếu tố xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến tiếp cận giáo
dục THPT của trẻ em là một yêu cầu quan trọng và là nhiệm vụ chính của luận án.
1
Dựa trên những luận điểm đã phân tích, luận án lựa chọn vấn đề: “Các yếu tố xã
hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học phổ thông của trẻ em Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu. Thông qua cách tiếp cận xã hội học, đặc biệt là tiếp cận xã
hội học giáo dục, luận án mong muốn nhận diện đặc điểm, tính chất, các yếu tố ảnh
hưởng, xu hướng biến đổi về tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em Việt Nam. Qua đó
góp phần cung cấp bằng chứng cho việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách
về giáo dục THPT cho trẻ em ở Việt Nam.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu: Nhận diện thực trạng, đặc điểm, và những khác biệt
trong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em. Xác định những yếu tố xã hội ảnh hưởng
đến tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu về tiếp cận giáo
dục và làm rõ các khái niệm công cụ như: tiếp cận giáo dục, giáo dục THPT, trẻ em
và một số khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án.
- Tìm hiểu thực trạng, đặc điểm và những khác biệt về tiếp cận giáo dục trung học
của trẻ em Việt Nam.
- Xác định những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục trung học của trẻ
em. Đánh giá sự tác động của các yếu tố qua hai thời điểm 2016 và 2006.
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao tiếp cận giáo dục THPT của
5. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận, phương pháp luận:
- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục; lý thuyết xung đột
xã hội, lý thuyết vốn con người trong nghiên cứu về tiếp cận giáo dục THPT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
- Thu thập, phân tích số liệu, tài liệu về giáo dục từ năm 2006-2016. Các văn kiện,
đường lối, chủ trương, chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề giáo dục
cũng như xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Các văn bản pháp luật và chính sách như Luật Giáo dục, Luật trẻ em; Những chiến
lược về phát triển trẻ em, giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành khác;
- Các nghiên cứu, đề tài, các cuộc khảo sát, điều tra về vấn đề trẻ em, giáo dục ở
Việt Nam và ở nước ngoài.
5.2.2. Phương pháp định lượng
Luận án sử dụng số liệu Khảo sát mức sống dân cư (KSMS) Việt Nam năm
2016 và năm 2006. KSMS được triển khai trên phạm vi cả nước đại diện các vùng,
khu vực thành thị nông thôn và tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.
5.2.3. Phương pháp định tính
3
Luận án đã tiến hành thu thập thông tin định tính qua việc thực hiện các phỏng
vấn sâu trong quá trình nghiên cứu luận án.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận án vận dụng những lý thuyết xã hội học để phân tích đặc điểm và tính
chất về tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em nhằm cung cấp những luận cứ khoa học
để kiểm chứng những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận giáo dục THPT của trẻ
Mẫu phân tích của hai cuộc khảo sát quốc gia về mức sống dân cư chỉ bao
gồm trẻ em đang sống trong các hộ gia đình, không bao gồm các nhóm trẻ em di cư,
lang thang, đang làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, lao động tự do…Số
liệu của KSMS hộ gia đình Việt Nam ở hai thời điểm chưa bao phủ hết các nhóm trẻ
em có những đặc điểm riêng biệt cho nên những phân tích trong luận án chưa phản
ánh hết đặc trưng của trẻ em nói chung trong xã hội. Ngoài ra, luận án chỉ tập trung
phân tích các yếu tố xã hội còn các yếu tố mang tính chất vĩ mô, kinh tế, sinh học sẽ
không được đề cập đến.
9. Kết cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung của luận án gồm 5 chương.
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TIẾP CẬN GIÁO DỤC THPT CỦA TRẺ EM
1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có hai xu hướng trái ngược nhau trong
mối liên hệ giữa yếu tố giới với việc trẻ em đi học ở bậc THPT. Nghiên cứu của một
số nước nhận thấy trẻ em gái đi học THPT thấp hơn trẻ em trai, ở một số nước khác
thì tỷ lệ nhập học của trẻ em trai lại thấp hơn.
Có sự khác biệt dân tộc trong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em trên toàn
thế giới. Các nhóm dân tộc thiểu số gặp bất lợi về giáo dục có thể bắt nguồn từ các
mô hình phân biệt đối xử và kỳ thị văn hóa lâu đời và thường xuyên hàng thế kỷ.
Tương tác với sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội đã duy trì sự loại trừ xã hội trong
giáo dục đối với trẻ em dân tộc thiểu số.
Một số nghiên cứu đã tìm thấy một mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa giữa
giáo dục của cha mẹ và giáo dục THPT của trẻ em. Sự tham gia của các bậc cha mẹ
đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng nhu cầu tiếp cận giáo dục của trẻ em,
trong việc tạo ra áp lực nâng cao chất lượng giáo dục và trong việc nâng cao tinh
5
chất nhà trường thiếu thốn và chất lượng dạy học thấp. Các tỷ lệ nhập học thấp hơn
6
ở nhóm dân tộc thiểu số là do các chi phí cơ hội và chi phí tiền mặt cao hơn và thiếu
nhận thức phù hợp về giáo dục.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của học vấn bố mẹ đối với tiếp cận giáo dục THPT
của trẻ em ở Việt Nam có những nét tương đồng với các nghiên cứu trên thế giới.
Tác động của học vấn bố mẹ đối với khả năng đi học THPT của con cái là do các
bậc bố mẹ được hưởng sự giáo dục tốt thì họ có khả năng am hiểu tốt hơn về cách
thức sử dụng các dịch vụ giáo dục. Trình độ học vấn của bố mẹ cao thì có thể mang
lại thu nhập và có mức sống cao hơn, nhờ đó mà các hộ gia đình mới có thể dành
thời gian và kinh phí cho con cái học tập.
Những nghiên cứu ở Việt Nam cũng phát hiện quy mô gia đình ảnh hưởng
đến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em như các nghiên cứu trên thế giới. Trong
một hộ gia đình có quy mô lớn, chi tiêu giáo dục cho mỗi trẻ em thường thấp hơn so
với hộ gia đình nhỏ vì phải phân bổ nguồn lực cho nhiều thành viên.
Một số nghiên cứu đã phân tích sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn
trong tiếp cận giáo dục của trẻ em ở Việt Nam và có những lý giải khác nhau. Hộ
gia đình ở thành thị có xu hướng sử dụng nhiều nguồn lực hơn trong giáo dục cho
con cái so với các hộ gia đình nông thôn. Điều kiện sống và cơ hội tiếp cận giáo dục
ở thành thị cao hơn và thuận lợi hơn, mạng lưới trường học các cấp cũng dày đặc
hơn với cơ sở vật chất tốt hơn và chất lượng giáo dục đồng đều, đặc biệt là nhận
thức về tầm quan trọng của giáo dục của bố mẹ thành thị tốt hơn so với nông thôn.
Có sự khác biệt giữa các vùng trong lĩnh vực tiếp cận giáo dục THPT của trẻ
em. So với vùng Trung du và miền núi phía Bắc, trẻ em sống ở Bắc Bộ có xác suất
đi học cao hơn, trong khi trẻ em sống ở vùng Tây Nguyên, Đông Nam và đồng bằng
sông Cửu Long ít đi học hơn.
Tiểu kết chương 1
Thông qua việc phân tích các tài liệu nước ngoài và trong nước, chương 1
quá trình xã hội hóa. Đó là quá trình học đóng vai trò cũng như tiếp thu kiến thức,
kỹ năng để tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể. Trẻ em trong luận
án được đề cập là nhóm dân số từ 15 đến 18 tuổi (bởi vì tuổi của trẻ em ở học kỳ 2
của lớp 12 là 18 tuổi).
2.1.5. Các yếu tố xã hội
Là một sản phẩm đặc biệt của xã hội nên giáo dục có hình thù, kích cỡ, dạng
thức của các yếu tố xã hội thể hiện dưới những dáng vẻ “hữu hình” có thể quan sát
được. Xã hội có những thành phần/giai tầng, nhóm xã hội nào thì trong giáo dục có
đầy đủ các thành phần giai tầng đó. Nhìn bên trong, giáo dục có cấu trúc xã hội
8
được tạo bởi các thành phần xã hội, nhóm trẻ em với các đặc trưng khác nhau. Với
những nguồn gốc xuất thân từ các nhóm khác nhau, việc tiếp cận giáo dục THPT
của trẻ em sẽ có sự khác biệt, thậm chí bất bình đẳng với nhau.
2.2. Các thuyết vận dụng trong nghiên cứu
2.2.1. Lý thuyết xung đột xã hội
Sử dụng lý thuyết xung đột xã hội sẽ giúp luận án tìm hiểu tiếp cận giáo dục
THPT của trẻ em dưới hình thức các cơ hội đi học và duy trì giáo dục được phân bổ
như thế nào giữa các nhóm xã hội. Lý thuyết xung đột cho rằng sự không bình đẳng
trong xã hội đã ảnh hưởng đến mô hình giáo dục và sự tiếp cận giáo dục. Những
khác biệt/ bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em là do địa vị xã
hội, nguồn gốc hay giai tầng xã hội của mình.
2.2.2. Lý thuyết vốn con người
Cơ sở cho việc áp dụng lý thuyết vốn con người là các gia đình đưa ra các
quyết định đầu tư vào giáo dục cũng tương tự như các nhà kinh doanh đưa ra quyết
định đầu tư bằng cách tính toán, so sánh lợi ích và chi phí. Các gia đình sẵn sàng bỏ
ra các khoản chi phí cần thiết cho giáo dục THPT bởi vì thực ra đó là những khoản
đầu tư cho sự phát triển trong tương lai của trẻ em. Nếu được học tập và hoàn thành
chương trình giáo dục THPT thì trẻ em sẽ có trình độ học vấn và kỹ năng chuyên
Có thể thấy rằng, sau 10 năm (2006~2016) tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc
THPT của trẻ em trong phạm vi cả nước có xu hướng tăng dần, từ 53,9% năm 2006
tăng lên đạt 68,6% vào năm 2016. Tỷ lệ trẻ em Việt Nam đi học đúng tuổi ở bậc
THPT cao hơn so với trung bình chung của thế giới và cao hơn so với các nước
cùng nhóm thu nhập dưới trung bình. Tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em Việt Nam
vẫn có sự khác biệt khá lớn giữa các tỉnh/ thành phố.
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc trẻ em đi học THPT đúng tuổi
3.2.1. Yếu tố giới
Phân tích của luận án đối với số liệu KSMS ở hai thời điểm khảo sát cách
nhau 10 năm cho thấy, trẻ em gái có tỷ lệ đi học THPT đúng tuổi cao hơn so với trẻ
em trai. Năm 2006, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc THPT của trẻ em gái là 56,4%, cao
hơn gần 5 điểm phần trăm so với trẻ em trai, 51,5%. Sau 10 năm, chênh lệch trong
tỷ lệ đi học đúng tuổi bậc THPT giữa trẻ em gái và trẻ em trai tăng lên, 73,6% so
với 63,7%. Như vậy, sự bất bình đẳng giới nghiêng về trẻ em trai trong tỷ lệ đi học
THPT đúng tuổi.
3.2.2. Yếu tố dân tộc
10
Tỷ lệ trẻ em dân tộc Kinh đi học THPT đúng tuổi cao hơn so với trẻ em dân
tộc thiểu số ở cả hai thời điểm khảo sát. Khoảng cách trong tỷ lệ đi học THPT đúng
tuổi giữa trẻ em dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số tăng lên 7 điểm phần trăm sau 10
năm. Qua đó cho thấy, trẻ em dân tộc thiểu số vẫn là một nhóm xã hội chịu nhiều
thiệt thòi và rất cần sự hỗ trợ nhiều hơn nữa về mặt chính sách nhằm duy trì quá
trình tham gia học đường ở bậc THPT.
3.2.3. Yếu tố học vấn của bố mẹ
Kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ của yếu tố học vấn mẹ hoặc bố với
tỷ lệ trẻ em đi học THPT đúng tuổi có sự tương đồng với nhau cả về xu hướng và tỷ
lệ. Trẻ em ở nhóm mẹ hoặc bố có học vấn cao hơn có tỷ lệ đi học THPT đúng tuổi
cao hơn. Chính những thành công về học vấn của cha mẹ đã giúp họ tự tin hơn và
em giảm xuống nếu gia đình tăng thêm một thành viên. So với trẻ em thành thị, trẻ
em ở nông thôn có xác suất đi học THPT đúng tuổi thấp hơn. Xác suất đi học THPT
đúng tuổi của trẻ em ở các vùng đều thấp hơn so với ĐBSH và thấp nhất là ĐBSCL.
Để đánh giá sự biến đổi về vai trò của các yếu tố tác động đến xác suất đi
học THPT đúng tuổi của trẻ em trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2016,
luận án đã lựa chọn cùng một hệ biến số độc lập để đưa vào mô hình phân tích. S ự
ảnh hưởng của yếu tố giới, dân tộc, học vấn bố mẹ, số thành viên gia đình, nơi cư
trú và vùng vẫn giữ nguyên khuôn mẫu và rõ nét hơn sau 10 năm.
Tiểu kết chương 3
Luận án đã cung cấp những tư liệu quan trọng về thực trạng, những khác biệt
và xu hướng của chỉ báo đi học THPT đúng tuổi của trẻ em. Mặc dù đi học THPT
phải đóng học phí và chi phí thêm nhiều khoản khác, mất chi phí cơ hội, tuy nhiên,
các gia đình và bản thân trẻ em vẫn nhận thấy việc đi học và đầu tư cho học tập ở
bậc THPT là một sự lựa chọn để đổi lấy những ‘phần thưởng’ trong tương lai. Luận
án cũng đã phân tích các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc đi học THPT đúng tuổi
của trẻ em cũng như xu hướng biến đổi sự ảnh hưởng của các yếu tố giữa hai thời
điểm khảo sát.
Chương 4
NHỮNG YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRẺ EM
KHÔNG ĐI HỌC THPT
4.1. Đặc điểm chung và thay đổi trong tỷ lệ trẻ em tuổi THPT không đi học
4.1.1. Những đặc điểm chung
Kết quả phân tích của luận án cho thấy, khoảng 31% trẻ em độ tuổi THPT
12
không đi học tại thời điểm năm 2016, tỷ lệ này giảm một nửa so với năm 2006,
63,1%. Tỷ lệ trẻ em tuổi THPT không đi học cao hơn ở những độ tuổi lớn hơn ở cả
hai thời điểm khảo sát. Rõ ràng là nhiều trẻ em vẫn chưa tiếp cận được với giáo dục
THPT, những trẻ em này sẽ không bao giờ có cơ hội thể hiện động lực và năng lực
Năm 2016, trẻ em tuổi THPT không đi học ở nông thôn có tỷ lệ đạt được học
vấn trung học cơ sở và tiểu học cao hơn so với trẻ em thành thị. Năm 2006, tỷ lệ trẻ
em tuổi THPT không đi học có tỷ lệ đạt được học vấn trung học cơ sở ở nhóm thành
thị cao hơn cao hơn so với trẻ em nông thôn.
Trẻ em tuổi THPT không đi học có sự khác nhau giữa các vùng trong tỷ lệ
học vấn cao nhất đạt được. Tỷ lệ trẻ em không đi học có học vấn trung học cơ sở
cao nhất ở Đồng bằng sông Hồng ở cả hai năm 2016 và 2006 và thấp nhất ở Tây
Nguyên và Đông Nam Bộ (2016) và Đồng bằng sông Cửu Long (2006).
4.1.3. Làm việc
Trong số trẻ em tuổi THPT không đi học vào năm 2016 và 2006, có 63,5%
và 40,3% làm việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc tham gia các hoạt động sản
xuất kinh doanh của gia đình và như vậy số còn lại là không đi học cũng không làm
việc. Đối với trẻ em tuổi THPT không đi học cũng không đi làm cho thấy những
khó khăn khi chuyển từ đi học sang đi làm với một nguồn vốn con người thấp.
Ngoài việc mang lại cho cá nhân kiến thức, kỹ năng, đi học còn là yếu tố bảo vệ trẻ
em tránh tham gia vào những hành vi nguy cơ đến sức khỏe và tính mạng. Vì thế,
giáo dục thường được gọi là “vắc-xin xã hội”.
Tỷ lệ trẻ em tuổi THPT không đi học làm việc tăng theo độ tuổi. Mặc dù tỷ
lệ làm việc ở nhóm nhỏ tuổi nhất là thấp nhất nhưng nó cũng cho thấy vấn đề đáng
quan ngại và thách thức. Việc giảm thiểu và loại trừ lao động kiếm tiền của trẻ em ở
những độ tuổi còn nhỏ là điều hết sức cần thiết, bởi vì đây là nhóm trẻ em đặc biệt
dễ bị tổn thương với “gánh nặng kép”. Lao động ở độ tuổi còn nhỏ gây nhiều bất lợi
nhiều hơn về sức khỏe, sự sung mãn thể chất cũng như tinh thần cho trẻ em khi
trưởng thành.
Trẻ em trai tuổi THPT không đi học có tỷ lệ làm việc cao hơn trẻ em gái ở cả
hai thời điểm khảo sát. Kết quả này góp phần khẳng định trẻ em trai trong tuổi
THPT đi học đúng tuổi thấp hơn và không đi học cao hơn là do phải tham gia lao
động đóng góp thu nhập cho gia đình là có cơ sở. Nó cũng phần nào phản ánh lực
lượng lao động trẻ em trai được sử dụng nhiều hơn.
Trẻ em dân tộc thiểu số tuổi 15-18 không đi học có tỷ lệ làm việc cao hơn trẻ
Yếu tố giới được nhìn nhận là có mối quan hệ với tỷ lệ không đi học của trẻ
em và trẻ em gái luôn có tỷ lệ bỏ học/ ngoài nhà trường thấp hơn trẻ em trai. Theo
kết quả phân tích của luận án đối với số liệu năm 2016, trẻ em trai có tỷ lệ không đi
học cao hơn so với trẻ em gái. Việc có nhiều cơ hội hoặc áp lực hơn liên quan đến
việc đi làm cũng như ít hạn chế hơn đối với việc thoát ly có thể ảnh hưởng đến
15
quyết định không đi học của trẻ em trai tuổi THPT. Việc cùng trang lứa có ảnh
hưởng không nhỏ, đặc biệt là trẻ em trai, đến việc bỏ học và không tham gia học tập
ở bậc THPT của trẻ em thông qua những giá trị, chuẩn mực và biểu tượng. Trong
nhiều trường hợp, đặc biệt là những người trẻ tuổi đang tìm kiếm bản sắc riêng, bạn
đồng niên cùng giới có ảnh hưởng không kém gia đình hay nhà trường đến các
quyết định của trẻ em trong độ tuổi vị thành niên về việc tham gia học tập
4.2.2. Yếu tố dân tộc
Thành phần dân tộc của trẻ em có mối quan hệ với việc trẻ em tuổi THPT
không đi học. Theo kết quả phân tích, trẻ em dân tộc Kinh trong độ tuổi học THPT
có tỷ lệ không đi học thấp hơn so với trẻ em dân tộc thiểu số vào năm 2016 nhưng
không có sự khác nhau ở năm 2006. Thông tin định tính cho thấy trẻ em dân tộc
thiểu số phải bỏ học giữa chừng ở bậc THPT để tham gia hoạt động kinh tế gia đình
hoặc làm các công việc nội trợ trong gia đình hoặc bởi vì điều kiện kinh tế xã hội
của gia đình thấp.
4.2.3. Yếu tố học vấn bố mẹ
Học vấn của bố hoặc mẹ có mối quan hệ nghịch biến với tỷ lệ không đi học
của trẻ em THPT qua số liệu khảo sát ở hai thời điểm. Năm 2016, trẻ em tuổi THPT
ở nhóm bố hoặc mẹ có học vấn cao hơn có tỷ lệ không đi học thấp hơn so với trẻ
em có bố mẹ với học vấn thấp hơn. Tỷ lệ trẻ em tuổi THPT không đi học chia theo
học vấn người bố có sự tương đồng với học vấn người mẹ. Các kết quả khảo sát
quốc gia cũng cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa học vấn bố mẹ và tỷ lệ trẻ em
tuổi THPT không đi học. 4.2.4. Yếu tố nghề nghiệp bố mẹ
THPT dân tộc Kinh có xác suất không đi học thấp hơn so với trẻ em dân tộc thiểu
số. Bố hoặc mẹ có học vấn cao hơn thì xác suất không đi học của trẻ em thấp hơn.
So với bố hoặc mẹ làm nghề chuyên môn, xác suất không đi học của trẻ em tuổi
THPT ở nhóm có bố hoặc mẹ làm nghề công nhân viên, lao động giản đơn cao hơn.
Nếu có thêm một thành viên trong hộ gia đình thì khả năng không đi học của trẻ em
tăng lên. Trẻ em tuổi THPT ở khu vực nông thôn có xác suất không đi học cao hơn
so với trẻ em khu vực thành thị. So với đồng bằng sông Hồng, chỉ có trẻ em tuổi
THPT ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long có xác suất không đi học cao hơn.
Luận án đã tìm hiểu về sự biến đổi vai trò tác động của các yếu tố đến việc
không đi học của trẻ em trong độ tuổi THPT giữa hai thời điểm năm 2016 và 2006.
Kết quả phân tích hai mô hình hồi quy cho thấy, trong vòng 10 năm, yếu tố giới vẫn
duy trì sự ảnh hưởng và trẻ em gái có xác suất không đi học thấp hơn so với trẻ em
trai.
17
Năm 2006, trẻ em dân tộc Kinh có xác suất không đi học cao hơn so với trẻ
em dân tộc thiểu số nhưng lại có xác suất không đi học thấp hơn so với trẻ em dân
tộc thiểu số sau 10 năm. Kết quả này cho thấy, khi điều kiện kinh tế-xã hội tăng lên
có lợi cho người Kinh trong việc tiếp cận với hệ thống giáo dục hơn.
Học vấn mẹ và bố cao hơn thì xác suất trẻ em không đi học thấp hơn và
khuôn mẫu ảnh hưởng này xuất hiện ở cả hai thời điểm khảo sát. Nghề nghiệp
người mẹ không có ảnh hưởng đến xác suất không đi học của trẻ em tuổi THPT
ở cả hai thời điểm. Xác suất trẻ em tuổi THPT không đi học thấp hơn ở nhóm có
bố làm nghề chuyên môn.
Ảnh hưởng của yếu tố nơi cư trú đối với xác suất không đi học của trẻ em
tuổi THPT vẫn giữ nguyên khuôn mẫu ở cả hai thời điẻm khảo sát. Trẻ em nông
thôn có xác suất không đi học cao hơn so với trẻ em thành thị. Trẻ em tuổi THPT
ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn có xác suất không đi học thấp
hơn trẻ em ở Đồng bằng sông Hồng mặc dù kết quả chưa cho thấy sự ảnh hưởng
5.1. Đặc điểm chung và thay đổi trong khả năng theo học THPT của trẻ em
Theo kết quả phân tích số liệu 2016, xác suất tích lũy đi học của trẻ em tuổi
THPT giảm dần theo độ tuổi. Gần một nửa trẻ em tuổi THPT không có trình độ học
vấn THPT và số trẻ em này sẽ tham gia vào thị trường lao động nhưng không được
trang bị đầy đủ những kỹ năng và kiến thức cơ bản cần. Điều này cho thấy, mục tiêu
đến năm 2020 có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT của
“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” là khó có thể đạt được.
5.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trẻ em theo học THPT
5.2.1. Yếu tố giới
Có sự khác biệt giới trong xác suất tích lũy theo tuổi trong đi học THPT của
trẻ em và xác suất này cao hơn ở trẻ em gái. Theo kết quả phân tích số liệu khảo sát
năm 2016, xác suất tích lũy trẻ em gái đi học tại thời điểm ở lớp đầu tiên của bậc
THPT lúc 15 tuổi là 0,969 và đến thời điểm 17 tuổi còn 0,617. Xác suất này ở nhóm
trẻ em trai lần lượt là 0,966 và 0,476.
5.2.2. Yếu tố dân tộc
Có sự khác biệt theo thành phần dân tộc trong xác suất tích lũy đi học THPT
của trẻ em ở từng độ tuổi ở cả hai thời điểm khảo sát 2006, 2016. Trẻ em dân tộc
thiểu số có khả năng từ bỏ việc theo học ở bậc THPT sớm hơn so với trẻ em dân tộc
Kinh.
5.2.3. Yếu tố học vấn bố mẹ
19
Học vấn của mẹ hoặc bố có mối quan hệ với xác suất tích lũy đi học đến độ
tuổi cuối cùng bậc THPT của trẻ em ở cả hai thời điểm khảo sát theo hình thức đồng
biến. Năm 2016, xác suất tích lũy đi học đến độ tuổi cuối cùng ở bậc THPT của trẻ
em có mẹ với học vấn từ tiểu học trở xuống là 0,368, xác suất này tăng lên 0,634 và
0,694 ở nhóm trẻ em có mẹ với học vấn trung học cơ sở và THPT trở lên.
5.2.4. Yếu tố nghề nghiệp bố mẹ
năng theo học đến lớp cuối cùng của bậc THPT cao hơn trẻ em có mẹ và bố với
học vấn tiểu học trở xuống. Tác động của yếu tố học vấn người bố mạnh nhất
trong mô hình, điều này khẳng định mối quan hệ giữa học vấn người bố với khả
năng tiến xa hơn trong giáo dục THPT của trẻ em là mối quan hệ trực tiếp và
nhân quả. Trẻ em ở nhóm người bố làm nghề chuyên môn có xác suất tích lũy đi
học ở độ tuổi cuối cùng của bậc THPT cao hơn so với trẻ em có bố làm nghề lao
động giản đơn. Trẻ em ở nông thôn có xác suất đi học đến tuổi cuối cùng của bậc
giáo dục THPT thấp hơn so với trẻ em khu vực thành thị. So với Đồng bằng sông
Hồng, xác suất về khả năng trẻ em hoàn thành giáo dục THPT ở các vùng khác
đều thấp hơn và thấp nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long. Điều này tiếp tục cho
thấy, Đồng bằng sông Cửu Long là ‘vùng trũng’ trong lĩnh vực tiếp cận với giáo
dục THPT của trẻ em.
Để nhận diện sự biến đổi tác động của các yếu tố, luận án đã xây dựng hai
mô hình hồi quy lựa chọn cùng một hệ biến số độc lập trên hai cơ sở dữ liệu của hai
cuộc khảo sát. Yếu tố học vấn và nghề nghiệp bố mẹ vẫn duy trì khuôn mẫu tác
động để khả năng theo học THPT của trẻ em ở cả thời điểm khảo sát. Trẻ em ở
khu vực nông thôn có khả năng theo học THPT thấp hơn so với trẻ em thành thị ở
cả hai thời điểm khảo sát.
Một số yếu tố không có tác động đến xác suất tích lũy đi học THPT theo
tuổi của trẻ em vào năm 2006 nhưng trở nên có ảnh hưởng hơn vào năm 2016.
Điều này cho thấy, cùng với sự biến đổi kinh tế - xã hội thì việc theo học THPT
của trẻ em cũng thay đổi theo và có sự khác biệt lớn hơn theo các yếu tố xã hội.
Tiểu kết chương 5
Khả năng hoàn thành và đạt được giáo dục THPT của trẻ em phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố xã hội bao gồm đặc trưng cá nhân, gia đình và cộng đồng. Trẻ em
gái, dân tộc Kinh, cư trú ở thành thị có khả năng hoàn thành giáo dục THPT hơn
trẻ em khác. Trẻ em ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
có khả năng đạt được giáo dục THPT thấp hơn so với trẻ em ở các vùng khác.
21
Kết quả phân tích của luận án khẳng định giả thuyết 4, học vấn và nghề
nghiệp của bố mẹ là yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng xuyên suốt với các chỉ báo
22
tiếp cận giáo dục THPT của trẻ em. Bố mẹ có trình độ học vấn cao hơn và nghề
nghiệp có chuyên môn thì trẻ em có được tiếp cận với giáo dục THPT cao hơn.
KHUYẾN NGHỊ
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền. Cần phải tiếp
tục nhận thức ở cấp lãnh đạo các cấp về giáo dục THPT cho trẻ em vừa là mục tiêu
vừa là phương tiện của mọi quá trình phát triển nên phải thường xuyên theo dõi và
có những chỉ đạo sát sao.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các hoạt
động cung cấp giáo dục cho trẻ em. Rà soát lại các văn bản nhằm tránh hiện tượng
chồng chéo, mâu thuẫn cũng như tránh tình trạng vừa thừa vừa thiếu.
- Củng cố hệ thống giáo dục. Vai trò của hệ thống giáo dục được tăng cường đồng
nghĩa với việc trẻ em được dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ giáo dục THPT mà
không quá tốn kém, giảm dần chi tiêu của người sử dụng dịch vụ giáo dục. Cần đầu
tư đúng mức cho giáo dục THPT về trang thiết bị giáo dục và cơ sở vật chất.
- Cần có chính sách đầu tư hợp lý và tạo nguồn ngân sách để duy trì hoạt động và
phát triển hệ thống giáo dục THPT. Thực thi giáo dục THPT miễn phí và bắt buộc.
- Thực hiện những biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng xé lẻ thị trường lao động
cũng như sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới về tiền công lao động, lương. Điều này
sẽ hạn chế việc trẻ em trong độ tuổi lao động, đặc biệt là trẻ em trai bỏ học để tham
gia thị trường lao động, kiếm tiền cho bản thân và gia đình.
- Phải có sự chú ý đặc biệt đối với những vùng kém phát triển. Với các vùng có tỷ lệ
trẻ em đi học thấp, bỏ học cao và điều kiện sống của người dân còn kém thì việc ưu
tiên hàng đầu trong việc thực hiện chính sách giáo dục cho trẻ em dài hạn là phải
tăng cường đầu tư có hiệu quả hơn nữa cho phát triển giáo dục THPT.
- Cần phải có những biện pháp thay đổi các yếu tố có khả năng tác động đến những