LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố
định tại Công ty TNHH Thương mại
tổng hợp Bảo Yên
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
1
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự hình thành tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế thị trường. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư ban đầu và trong quá trình kinh
doanh, các doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục bỏ thêm vốn để mở rộng sản xuất
I/ VỐN CỐ ĐỊNH (VCĐ)VÀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH (TSCĐ) CỦA DOANH NGHIỆP.
1- Khái niệm.
1.1- Khái niệm tài sản cố định:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có tư liệu lao
động (TLLĐ), trong một doanh nghiệp thường có nhiều loại TLLĐ khác nhau,
một TLLĐ được coi là một TSCĐ phải đồng thời thảo mãn cả 4 tiêu chuẩn sau
(theo quyết định số: 206/ 2003/QQD – BTC ban hành ngày 12/12/2003 của Bộ
trưởng Bộ tài chính có hiệu lực từ ngày 01/01/2004).
- Chắc chắn thu đượ
c lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó.
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy .
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên .
- Có giá trị từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) trở lên .
Những TLLĐ không đủ các tiêu chuẩn quy định nói trên được coi là những công
cụ lao động nhỏ, được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động.
Như vậ
y tài sản cố định của doanh nghiệp là những TLLĐ không chỉ có giá trị
mà còn có giá trị sử dụng và đồng thời tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2- Vốn cố định của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường để hình thành TSCĐ đòi hỏi doanh nghiệp
phải ứng ra một lượng vốn nhất định. Số vốn ứng ra để hình thành nên TSCĐ
được gọi là vốn cố
định của doanh nghiệp.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định thực
hiện chủ chuyển giá trị của nó. Sự chu chuyển này của vốn chịu sự chi phối rất
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
bên ngoài để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình như vốn vay, phát hành
trái phiếu, cổ phiếu, thuê mua, thuê hoạt động ...
2- Phân loại TSCĐ.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
4
Doanh nghiệp có nhiều loại TSCĐ khác nhau, để nâng cao hiệu quả sử
dụng TSCĐ người ta phân loại theo một số tiêu thức sau:
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
5
2.1- Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Theo tiêu thức này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm ba
loại: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính.
2.1.1- TSCĐ hữu hình:
Theo quyết định số: 206/ 2003/ QĐ - BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài
chính thì TSCĐ hữu hình là những TLLĐ chủ yếu được biểu hiện bằng các hình
thái vật chất cụ thể bao gồm:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: Là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau
quá trình thi công xây dự
ng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào ....
- Máy móc, thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác.
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải
gồm những phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ ...
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, d
ụng cụ dùng trong công tác
quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, phục vụ quản
lý thiết bị điện tử…
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm là các loại cây
- TSCĐ đang sử dụng: là những TSCĐ đang trự
c tiếp hoặc gián tiếp tham
gia vào qúa trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm. Trong doanh nghiệp tỷ
trọng tài sản đã đưa vào sử dụng so với toàn bộ TSCĐ hiện có càng lớn thì hiệu
quả sử dụng TSCĐ càng cao.
- TSCĐ chưa sử dụng: là những tài sản do những nguyên nhân chủ quan,
khách quan chưa thể đưa vào sử dụng như: tài sản dự trữ, tài sản mua sắm, xây
dựng thi
ết kế chưa đồng bộ.
- TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý: là những tài sản đã hư hỏng
không sử dụng được hoặc còn sử dụng được nhưng lạc hậu về mặt kỹ thuật,
đang chờ để giải quyết. Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được
mức độ sử dụng có hiệu quả của TSCĐ.
2.3- Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế
:
- TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh.
- TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng.
- TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
7
Nói chung tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, doanh nghiệp
tự phân loại chi tiết hơn các TSCĐ của doanh nghiệp theo từng nhóm cho phù
hợp.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
8
2.4- Phân loại TSCĐ theo quyền sử hữu:
Theo cách phân loại này TSCĐ được chia ra:
- TSCĐ tự có: là những TSCĐ do doanh nghiệp xây dựng, mua sắm bằng
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
9
- Hao mòn vô hình: là loại hao mòn xảy ra do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật
làm cho TSCĐ bị giảm và lỗi thời. Do bị hao mòn nên trong mỗi chu kỳ SXKD
người ta tính chuyển một phần hao mòn vào giá thành quỹ để tái sản xuất
TSCĐ, công việc đó gọi là khấu hao TSCĐ. Như vậy, đối với nhà quản trị tài
chính cần phải xem xét, tính toán mức khấu hao sao cho phù hợp với thực trạng
kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2- Các phương pháp khấu hao (KH) :
3.2.1- Phương pháp khấu hao tuyến tính và tỷ lệ khấu hao TSCĐ (phương
pháp khấu hao theo đường thẳng).
Đây là phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian sử dụng.Theo
phương pháp này, mức khấu hao cơ bản và tỷ lệ khấu hao bình quân hàng năm
của TSCĐ không đổi và được xác định theo công thức sau:
NG
M
K
=
T
Trong đó: M
K
: mức KH cơ bản bình quân hàng năm của TSCĐ.
NG: nguyên giá của TSCĐ
T: thời gian sử dụng
Mức trích KH trung bình hàng tháng bằng số KH phải trích cả năm chia
cho 12 tháng.
- Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi,
doanh nghiệp phải xác định lại mức trích KH trung bình của TSCĐ bằng cách
T
K
Tỷ lệ KH tháng của TSCĐ: T
h
=
12
Ưu điểm của phương pháp này là việc tính toán đơn giản, tổng khấu hao
của TSCĐ được phân bổ vào giá thành một cách đều đặn làm cho giá thành ổn
định.
Nhược điểm: Do mức khấu hao, tỷ lệ khấu hao hàng năm được xác định ở
mức ổn định nên khả năng thu hồi vốn chậm, khó tránh khỏi bị hao mòn vô
hình.
Xác định mức trích khấu hao đối với nhữ
ng TSCĐ đưa vào sử dụng trước
ngày 01/01/2004.
Căn cứ các số liệu trên sổ kế toán, hồ sơ của TSCĐ để xác định giá trị còn
lại trên sổ kế toán của TSCĐ.
Xác định thời gian sử dụng còn lại của TSCĐ theo công thức sau:
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
11
t
1
T = T
2
( 1 - )
T
Xác định mức tính khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo công
thức dưới đây:
Mức tính trích khấu hao
Giá trị còn lại Tỷ lệ khấu
hàng năm của TSCĐ của TSCĐ hao nhanh
=
x
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
12
Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo
Tỷ lệ KH nhanh (%) phương pháp đường thẳng Hệ số điểu chỉnh.
Tỷ lệ KH TSCĐ theo phương pháp đường thẳng xác định như sau:
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo 1
phương pháp đường thẳng (%) = x 100
Thời gian sử dụng của TSCĐ
Hệ số điề
u chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại
bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng của TSCĐ Hệ số điều chỉnh
(lần)
Đến 4 năm (t ≤ 4 năm)
1,5
x Mức trích KH bình quân tính cho 1 đơn vị sản phẩm.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
14
Trong đó:
Mức tính KH Nguyên giá của TSCĐ
bình quân tính cho 1 =
đơn vị sản phẩm Số lượng theo công suất thiết kế
- Mức trích KH năm của TSCĐ bằng tổng mức trích KH của 12 tháng
trong năm và tính theo công thức sau:
Mức trích KH năm
của TSCĐ
=
Số lượng sản phẩm
sản xuất trong năm
x
Mức trích KH bình
quân tính cho 1 đơn vị
sản phẩm.
Trường hợp công suấ
t thiết kế và nguyên giá của TSCĐ thay đổi doanh
nghiệp phải xác định lại mức trích KH củaTSCĐ.
4- Lập kế hoạch KH TSCĐ và sử dụng quỹ KH TSCĐ của DN.
4.1- Lập kế hoạch KH TSCĐ theo phương pháp gián tiếp:
Xác định số tiền KH TSCĐ dự kiến theo công thức sau:
M
K
lên trong kỳ (và giảm bớt trong kỳ).
NG
t
x Nt NGg x Ng
NG
t
= NGg =
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
15
12 12
Trong đó: NG
t
, NGg: nguyên giá TSCĐ phải tính KH tăng lên hoặc
giảm bớt trong kỳ.
Nt: số ngày tăng
Ng: số ngày giảm
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, khối lượng tính toán không nhiều
nhưng độ chính xác của kết quả không cao.
4.2- Lập kế hoạch KH TSCĐ theo phương pháp trực tiếp.
- Số tiền KH trong kỳ kế hoạch được xác định như sau:
Số tiền KH dự kiến năm kế ho
ạch = Tổng số tiền KH của 12 tháng trong
năm kế hoạch.
- Số tiền KH của từng tháng có thể xác định được theo công thức:
n
KH
t
16
vốn do doanh nghiệp tự bổ sung được để lại làm nguồn vốn tái đầu tư TSCĐ cho
DN. Trong khi chưa thu hồi đủ vốn, doanh nghiệp có thể dùng tiền KH để bổ
sung vốn KD.
Đối với TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn vay, về nguyên tắc tiền KH
là nguồn để trả tiền vay.
Thông thường trong hoạt động kinh doanh việc tính KH TSCĐ của DN
được thực hiện hàng tháng. Tiền KH nhằm
để tái đầu tư TSCĐ. Do chưa có nhu
cầu đầu tư, doanh nghiệp được sử dụng linh hoạt số tiền KH để bổ sung vốn
kinh doanh nhằm đạt mức sinh lời cao.
II/ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỐ ĐỊNH .
1- Những nhân tố khách quan.
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: Trên cơ sở pháp luật kinh tế
và các biện pháp kinh tế, nhằm tạo môi trường và hành lang cho doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô. Vì
thế các doanh nghiệp chịu sự tác động rất lớn của các quy chế quản lý Nhà
nước.
Thị trường cạnh tranh: Vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là ph
ải có kế
hoạch cải tạo, đầu tư mới TSCĐ trước mắt cũng như lâu dài. Nhờ đổi mới máy
móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, thì những sản phẩm mà doanh nghiệp
sản xuất ra mới có năng suất cao, chất lượng đảm bảo, giá thành hạ do đó mới
dủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh đó lãi suất tiền vay cũng là một nhân t
ố ảnh hưởng quan trọng.
Lãi suất tiền vay ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Sự thay đổi
của lãi suất sẽ kéo theo những biến động cơ bản của dự án đầu tư, đặc biệt là
hiệu quả về mặt tài chính.