ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
NGUYỄN VĂN ĐỒNG
MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Nghiên cứu tại 2 xã Hoằng Lưu và Hoằng Trạch, Hoằng Hóa, Thanh Hóa)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
NGUYỄN VĂN ĐỒNG
MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ TỰ GIÚP NHAU
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Nghiên cứu tại 2 xã Hoằng Lưu và Hoằng Trạch, Hoằng Hóa, Thanh Hóa)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. ĐẶNG CẢNH KHANH
Hà Nội - 2016
hạn hẹp về kinh nghiệm. Vì vậy, nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót,
tôi mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của quý thầy cô cùng toàn thể bạn đọc. Mọi
thông tin liên quan tới nghiên cứu này có thể liên hệ tác giả Nguyễn Văn Đồng,
Điện thoại: 0987.089.398, email: [email protected]
Chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Đồng
MỤC LỤC
Tiêu đề
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................... 1
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................. 1
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ............................................................................. 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 3
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ........................................................................ 6
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn...................................................................... 21
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................... 22
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ............................................. 23
6. Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................................... 24
7. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................... 24
8. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 25
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm công cụ ...................................................................................... 29
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NCT
: Người cao tuổi
CLB
: Câu lạc bộ
DS-KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình
LĐ-TB&XH : Lao động - Thương binh và Xã hội
HAI
: Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế
VNAS
: Điều tra Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam
CSSK
: Chăm sóc sức khỏe
TDTT
: Thể dục thể thao
CTXH
: Công tác xã hội
Biểu 2.11. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT theo nhóm
tuổi ............................................................................................................................. 81
Biểu 2.12. Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT.......... 83
Biểu 2.13. Trợ NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao nhận
thức về chính sách. .................................................................................................... 85
Biểu 2.14. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao
nhận thức về chính sách theo địa bàn........................................................................ 88
Biểu 2.15. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao
nhận thức về chính sách theo nhóm tuổi ................................................................... 90
Biểu 2.16. Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao
nhận thức về chính sách ............................................................................................ 93
Biểu 3.1. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT .. 98
Biểu 3.2. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm cho
NCT ....................................................................................................................... 101
Biểu 3.3. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động giải trí - TDTT của NCT ... 104
Biểu 3.4. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức
về chính sách cho NCT ............................................................................................. 106
Biểu 3.5. Vai trò của nhân viên xã hội trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau ........ 109
Biểu 3.6. Đánh giá của NCT về vai trò của nhân viên xã hội trong mô hình liên thế hệ
tự giúp nhau ............................................................................................................... 112
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình (DS-KHHGĐ),
cuối năm 2011 Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, nhóm dân
số cao tuổi tăng nhanh chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm 1/10 dân số cả nước.
kể tới mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, đây là mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT
dựa vào cộng đồng đầu tiên ở nước ta, được thành lập năm 2004; với sự trợ giúp
của Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế (HAI), Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam phối
hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Mô hình liên thế hệ là một mô hình kết hợp
các hoạt động chăm sóc - trợ giúp nhiều mặt, CSSK; tạo việc làm cho NCT, thông
qua các CLB và hoạt động sinh kế; giải trí - TDTT; truyền thông nâng cao nhận
thức về chính sách với sự tham gia trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức xã hội,
đến nay mô hình liên thế hệ tự giúp nhau đã được triển khai ở 25 tỉnh, thành phố.
Việc chăm sóc - trợ giúp NCT cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam, để nâng cao chất lượng chăm sóc và hoạt động trợ giúp NCT, đồng
thời phát huy được vai trò của NCT trong cộng đồng như mục tiêu của Luật Người
cao tuổi (2009), Chương trình Hành động Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam
giai đoạn 2012-2020 đề ra, Bộ LĐ-TB&XH đã đề xuất Đề án Chăm sóc và phát
huy vai trò người cao tuổi giai đoạn 2012-2020 trong đó chú trọng vào việc xây
dựng và nhân rộng “Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau” [11; tr.69], đây là một
hướng đi đúng đắn, mang tính đột phá, phù hợp với điều kiện và tình hình già hóa
dân số ở nước ta.
Thanh Hóa là địa phương đầu tiên nhân rộng mô hình CLB liên thế hệ tự
giúp nhau; đến nay, toàn tỉnh có 21 huyện, thị xã, thành phố có mô hình, thành
lập được 97 CLB liên thế hệ tự giúp nhau của NCT với tổng số thành viên tham
gia là 5.626 người. Mô hình đã hỗ trợ tạo việc làm cho NCT thông qua các hoạt
động sinh kế như: nuôi bò, nuôi lợn nái, nuôi gà, nuôi chim bồ câu, thủ công mỹ
nghệ... NCT khi tham gia mô hình này đều có việc làm và thu nhập ổn định, được
tập huấn kiến thức khoa học - kỹ thuật tiên tiến về chăn nuôi, trồng trọt, giới thiệu
các ngành nghề phù hợp với sức khỏe NCT, các thành viên CLB liên thế hệ tự
giúp nhau còn được hỗ trợ về vốn vay để phát triển sản xuất, được các tình nguyện
4
viên chăm sóc sức khỏe thường xuyên, giao lưu giải trí văn hóa - văn nghệ; tổ
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đến nay, nghiên cứu mô hình và hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT là đề tài
nghiên cứu được khai thác hết sức phong phú và đa dạng cả trên thế giới và Việt
Nam. Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của các cơ quan, tổ chức, các nhà
nghiên cứu... hầu hết các công trình nghiên cứu đó đều nhấn mạnh đến vai trò,
tầm quan trọng, những ảnh hưởng và tác động của các loại mô hình chăm sóc, trợ
giúp NCT đến đời sống của NCT; những hiệu quả của nó mang lại cho xã hội,
nhất là trong bối cảnh già hóa dân số thế giới đang diễn ra nhanh và mạnh như
hiện nay, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, khi vấn đề già hóa được đề
cập từ cuối năm 2011 sau kết quả thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ được công
bố, tỷ lệ NCT chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm hơn 1/10 tổng dân số cả nước.
2.1. Tổng quan nghiên cứu về người cao tuổi và mô hình trợ giúp người
cao tuổi trên thế giới
Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế
giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về NCT nhằm đề xuất các mô hình
chăm sóc, trợ giúp NCT phù hợp. Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng
có nhiều nghiên cứu về vấn đề NCT được triển khai từ những năm 1980 trở lại
đây, như: “Chương trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh tế, xã hội
của sự già hóa dân cư” [27], do Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu Á - Thái Bình
Dương tiến hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. ; hay nghiên cứu về “Sự phát
triển chính sách địa phương đối phó với sự già hóa dân cư” [14] do Hội đồng
châu Á - Thái Bình Dương tiến hành từ năm 1992 đến năm 1994 tại 6 nước, trong
đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra được xu hướng già hóa dân số và đề ra
những định hướng về mặt chính sách cho vấn đề già hóa dân số.
Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly and Who
Prerceives Them” [54] (Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe NCT và nhận
thức về chúng” của Anntte L.Fitzpatrick, Neil R. Powe, Lawton S. Cooper, Diane
G. Ives và John A. Robbins (Đại học Washington, Đại học John Hopkins, Đại học
Pittsburgh, Đại học California - Davis và Đại học Wake Forest). Nghiên cứu này
trình dựa trên cơ sở cộng đồng cho NCT.
7
Tại Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hóa [22] được tổ chức tại Madrid, Tây
Ban Nha (do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc triệu tập) năm 2002, Hội nghị tham
gia của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra tuyên bố chính trị bao gồm 19 điều,
trong đó điều 14 đã khẳng định vai trò của NCT trong đời sống, tầm quan trọng
của cộng đồng, các cơ quan và tổ chức trong việc chăm sóc, hỗ trợ NCT; giúp
NCT được tiếp cận các quyền bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời
sống vật chất và tinh thần; Hội nghị cũng nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có các
chính sách và bổ sung chính sách về chăm sóc, điều trị và trợ giúp NCT về mọi
mặt. Hội nghị đã đưa ra những chiến lược hành động cụ thể, thiết thực mang tính
toàn cầu trong việc can thiệp, trợ giúp và chăm sóc NCT nói chung, nó sẽ được
vận dụng phù hợp vào từng điều kiện cụ thể ở từng quốc gia khác nhau, phụ thuộc
vào tình hình NCT của quốc gia đó.
Theo tác giả John J.Macionis trong tác phẩm Sociology (2004) [57], tại
Chương Lão hóa và người lớn tuổi cho biết kết quả nghiên cứu từ Viện Nghiên
cứu Pháp (INED), thực hiện tại các nước thành viên Châu âu (EU) bao gồm Bồ
Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia,… nghiên cứu đã chỉ ra tình hình
NCT ở phía nam EU thì thích sống với những người thân trong gia đình. Các nước
phía bắc EU thì tình trạng NCT sống tại các trung tâm dưỡng lão đang có xu
hướng ngày càng tăng. Cụ thể nghiên cứu đã chỉ ra ở Hà Lan, chỉ có 8% số NCT
trên 75 tuổi đã ly hôn, góa bụa, hoặc độc thân sống chung với các thành viên khác
trong gia đình, số còn lại sống trong cơ sở xã hội. Cộng hòa Séc và Bồ Đào Nha
có đến 50% NCT sống chung với người thân. Đức và Hà Lan rất nhiều người sống
một mình trong nhà của họ vì các dịch vụ tạo điều kiện chăm sóc tại nhà tương
đối phát triển. Sự khác biệt trong cách chọn nhà của NCT ở nước EU là do chuẩn
mực về văn hóa, lý do về kinh tế, chính sách xã hội của từng quốc gia là khác
nhau; từ kết quả nghiên cứu của INED cho thấy ngày càng có nhiều người trên 75
thời các tác giả cũng tiến hành phân tích sự phát triển của việc CSSK cho NCT là
do các tổ chức cộng đồng Isan đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc quản
lý các tổ chức cộng đồng trong việc CSSK người cao tuổi là phương pháp hiệu
quả nhất. Tất cả công dân cao tuổi trong cộng đồng đều đồng ý rằng, việc chăm
sóc y tế được cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và ấm áp
hơn, đây cũn là một trong những phát hiện lớn của nghiên cứu này.
9
Trong cuốn sách “Aging and health: Asian and Pacific Islander American
Elders” [59] (Người già và sức khỏe: NCT Mỹ đến từ châu Á và Thái Bình
Dương) của các tác giả Melen R. Mcbride, Nancy Morioka. Douglas và Gwen
Veo, tái bản lần thứ 2. Trong cuốn sách này nhóm tác giả đã nghiên cứu sự đa
dạng văn hóa, hệ thống niềm tin, cấu trúc gia đình ảnh hưởng đến việc CSSK của
những NCT đến từ các nước khác nhau thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương
hiện tại đang sống ở Mỹ. Từ đó, các tác giả đánh giá nhu cầu, xác định những
thuận lơi, rào cản trong việc CSSK, tạo điều kiện để NCT này thể hiện được mong
muốn, nhu cầu của bản thân một cách tự nhiên nhất.
Các nghiên cứu thời kỳ này phần lớn đi từ việc tìm hiểu thực trạng đời sống
của NCT, những vấn đề họ đang gặp phải trong cuộc sống, những rào cản trong
việc tiếp cận các dịch vụ, các mô hình chăm sóc cũng như việc xây dựng những
Chương trình trợ giúp cho NCT phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia. Điều
này thể hiện được sự quan tâm của hầu hết các quốc gia đối với NCT.
Nghiên cứu của Quỹ dân số Liên hợp quốc - UNFPA and HelpAge (2012),
Ageing in the Twenty-First Century: A Celebration and A Challenge [61], đưa ra
nhận định, dự báo và phân tích, đó là năm 1950 toàn thế giới có 205 triệu người
từ 60 tuổi trở lên. Báo cáo phân tích thực trạng của NCT và rà soát tiến độ thực
hiện các chính sách hành động của chính phủ và các cơ quan liên quan kể từ khi
Hội nghị thế giới lần thứ hai về NCT diễn ra, nhằm thực hiện Chương trình Hành
động Quốc tế Madrid về NCT, đáp ứng những cơ hội và thách thức của một thế
lập Hội Người cao tuổi (1995); có Pháp lệnh Người cao tuổi (2000), có Luật
Người cao tuổi (2009); Chương trình Hành động Quốc gia về người cao tuổi
(2012-2020) được ban hành và xu thế già hóa dân số bắt đầu từ cuối năm 2011,
thì có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành, các đề tài nghiên cứu xoay quanh các
vấn đề: Chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất - tinh thần; các mô hình
chăm sóc - trợ giúp NCT; An sinh xã hội cho NCT; tạo việc làm cho NCT; những
nghiên cứu mang tính can thiệp về các vấn đề tâm sinh lý, bệnh tật ở NCT...
Những nghiên cứu về NCT và các vấn đề liên quan đến NCT ở Việt Nam
được tiến hành từ những năm 70 của thế kỷ XX. Từ đó đến nay, NCT và các vấn
đề về NCT là đối tượng được tiến hành nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh
đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe, tâm sinh lý...
11
Nghiên cứu về “Người cao tuổi và những vấn đề đặt ra đối với chính sách
xã hội” [2], 1999 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Kết quả của đề tài
đã đưa ra kiến nghị với Đảng và Nhà nước sớm ban hành chính sách đồng bộ cho
NCT để chăm sóc NCT tốt hơn; “Chăm sóc và phát huy vai trò NCT trong sự
nghiệp đổi mới” [3], 1999 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đã chỉ ra
chăm sóc phải gắn với phát huy, chăm sóc tốt để phát huy tốt và ngược lại.
Trong nghiên cứu “Cơ sở thực tiễn và lý luận xây dựng chính sách xã hội với
người già ở Việt Nam” [47] của Vụ Các vấn đề xã hội của Quốc hội (2000).
Nghiên cứu đã góp phần giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh
Người cao tuổi năm 2000 đặt nền móng cho những những chính sách lớn về NCT
ra đời, nhằm cải thiện đời sống NCT về mọi mặt thông qua việc thực hiện chính
sách trợ giúp xã hội đối với NCT.
Nghiên cứu về “Đời sống người cao tuổi” [46] của Vụ các vấn đề xã hội,
Văn phòng Quốc hội, thực hiện năm 2000, nghiên cứu đã chỉ ra về đời sống vật
chất NCT: Trên 60% số cụ cho là khó khăn, 37% coi là trung bình, 1,0% dư dật.
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy, đời sống vật chất ở địa bàn Hà Nội cao hơn ở
(Trung ương Hội NCT Việt Nam). Nghiên cứu đã chỉ ra đời sống của NCT còn
gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đời sống của hơn 70% NCT đang sống ở nông
thôn không hưởng chính sách xã hội hoặc có lương hưu. Nghiên cứu cũng đề xuất
những giải pháp về mặt chính sách và hành động trong việc giúp NCT cải thiện
thu nhập và mức sống. Cũng trong “Điều tra thực trạng thu nhập và mức sống
của NCT Việt Nam” [34] được Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Người cao tuổi
(Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam) triển khai thực hiện năm 2005, điều
tra tại 5 tỉnh, bao gồm: Sơn La, Thanh Hóa, Kon Tum, Quảng Nam, TP. HCM
với tổng số 1.000 phiếu điều tra, dự án đã đi sâu phân tích và làm rõ thực trạng
thu nhập và mức sống của NCT ở nước ta hiện nay, từ nghiên cứu này đánh giá
được tình trạng sống, chất lượng sống của NCT và ảnh hưởng của nó tới hoạt
động chăm sóc sức khỏe và các hoạt động hằng ngày của NCT. Từ đó, đề xuất
những kiến nghị quan trọng trong việc chăm sóc và trợ giúp NCT.
Nghiên cứu, điều tra: “Thực trạng người cao tuổi tại Hải Dương, Quảng
Bình và Đăk Lăk” [33] năm 2005 của Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Người cao
tuổi (Trung ương Hội NCT Việt Nam), được nghiên cứu, điều tra tại 12 xã,
13
phường của 3 tỉnh về chăm sóc sức khỏe, về đời sống vật chất và tinh thần cho
NCT tại địa phương. Kết quả cho thấy, chưa có nhiều hoạt động chăm sóc NCT,
đặc biệt là 70% NCT sống ở nông thôn hiện vẫn chưa nhận được sự quan tâm
chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất cũng như tinh thần của cơ sở.
Trong “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá mô
hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” [35] của Trung tâm Nghiên
cứu, Thông tin và Dữ liệu (Tổng cục DS-KHHGĐ) thực hiện năm 2005. Nghiên
cứu đã chỉ ra được thực trạng chăm sóc sức khỏe của NCT tại các nước đang phát
triển, CSSK NCT tại khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra những
đánh giá liên quan đến chăm sóc sức khỏe NCT trong nước và một số địa bàn điều
tra như: Yên Bái, Hải Dương, Thái Bình, Quảng Bình, Đắc Lăk, TP. HCM, Sóc
tác giả Nguyễn Đình Cử (Viện Dân số và các vấn đề xã hội), có phân tích khá rõ
về tình hình già hóa dân số thế giới và đưa ra những nhận định rằng nước ta đang
bước vào ngưỡng già hóa dân số và số lượng NCT tăng không ngừng; hiện
tượng nữ hóa trong nhóm dân số cao tuổi đang có xu hướng tăng, tác giả còn
cho biết phần lớn NCT ở nước ta chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, là nông
dân và làm nông nghiệp, cứ 4 NCT thì có 1 người đang hoạt động kinh tế, ở
nước ta NCT chủ yếu sống với con và nhờ con; bởi vậy, nhu cầu trọng tâm nhất
hiện nay của NCT là chăm sóc sức khỏe, chăm sóc vật chất, tinh thần.
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản trong chính sách xã hội đối với người
cao tuổi” [49] do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện trong 2 năm (20082009). Nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu đồng bộ, sự bất cập trong việc ban hành
chính sách đối với NCT và chỉ ra tác động của những hạn chế đó đối với đời sống
của NCT. Từ đó, đề xuất những phương hướng, chiến lược trong hỗ trợ nhằm cải
thiện đời sống cho NCT nước ta.
Tại nghiên cứu“Thực trạng sức khỏe và bệnh tật của NCT Việt Nam” [51]
thực hiện trong năm 2008- 2009 của Viện Nghiên cứu NCT Việt Nam, đã chỉ ra
NCT có rất nhiều bệnh tật, trung bình một NCT có khoảng 3 loại bệnh mạn tính,
điều đó có tác động không nhỏ tới điều kiện sức khỏe và chăm sóc sức khỏe ở
NCT, nghiên cứu đã góp phần thiết kế điều 11 và 12 Luật NCT. Cũng trong nghiên
cứu “Thực trạng NCT tham gia xóa đói, giảm nghèo” [52] thực hiện trong năm
2010 - 2011 của Viện nghiên cứu NCT Việt Nam, nghiên cứu này đã chỉ ra được
15
khả năng xóa đói, giảm nghèo của NCT, tự NCT có thể phát huy những tiềm năng,
năng lực và kinh nghiệm trong việc tạo dựng việc làm, cải thiện thu nhập, góp
phần nâng cao mức sống; nghiên cứu cũng đưa ra những kiến nghị về mặt chính
sách, đề xuất quan trọng nhất là Nhà nước tạo điều kiện cho NCT vay vốn để xóa
đói, giảm nghèo, việc tiếp cận với nguồn vốn vay sẽ giúp NCT tham gia hoạt động
sản xuất thuận lợi hơn, tạo điều kiện xáo đói, giảm nghèo bền vững.
Theo tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), trong cuốn sách “Người cao tuổi
Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, Viện nghiên cứu Y - Xã hội học và
Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương tổ chức “Điều tra quốc gia về người
cao tuổi Việt Nam” (VNAS) [17; tr.28], đây là một phần của dự án “Tăng cường
các quyền của người cao tuổi thiệt thòi tại Việt Nam” được triển khai bởi Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Kết quả Điều tra quốc gia về NCT Việt Nam lần đầu
tiên được công bố là một cơ sở quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu và vận
động chính sách đối với NCT Việt Nam. VNAS thu thập số liệu từ tháng 10 12/2011 tại 12 tỉnh, thành phố đại điện cho 6 vùng sinh thái của Việt Nam (bao
gồm Thái Nguyên, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Huế, Đắk Lắk,
Đồng Nai, Sóc Trăng, Tiền Giang và TP. Hồ Chí Minh). Hơn 4.000 người đại
diện cho nhóm dân số cận cao tuổi và cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên) đã được phỏng
vấn trong cuộc điều tra này. Số liệu điều tra mô tả các đặc điểm kinh tế, xã hội,
tình hình sức khỏe, xu hướng bệnh tật, đời sống vật chất, tinh thần, nhu cầu chăm
sóc và được chăm sóc cũng như việc tiếp cận các mô hình trợ giúp, đến việc tiếp
cận các chế độ an sinh xã hội và dịch vụ y tế của NCT Việt Nam.
Trong cuốn sách “50 năm chính sách giảm sinh ở Việt Nam (1961-2011):
Thành tựu, tác động và bài học kinh nghiệm” [7; tr.62] xuất bản năm 2011 của
tác giả Nguyễn Đình Cử (Viện Dân số và các vấn đề xã hội) trong phần 2 về tác
động của giảm sinh đến sự phát triển: thời cơ và thách thức, tác giả đã phân tích
và luận giải khá rõ việc giảm sinh nhanh khiến nước ta hình thành cơ cấu dân số
“vàng” một cách nhanh chóng; mức sinh giảm đã đưa đến thực trạng của già hóa
dân số, cũng từ những cơ sở này tác giả đã phân tích khá rõ về những đặc trưng
nổi bật của NCT Việt Nam và đề xuất những hình thức chăm sóc, trợ giúp NCT
một cách phù hợp để ứng phó với sự gia tăng của nhóm dân số cao tuổi.
17
Tác giả Phạm Vũ Hoàng (Tổng cục DS-KHHGĐ) trong bài viết “Đời sống
vật chất người cao tuổi Việt Nam - Thực trạng và khuyến nghị” [20] đăng trên
Tạp chí Dân số và Phát triển, số tháng 10/2011, bài viết đã nêu lên được thực trạng
đời sống vật chất của NCT Việt Nam phụ thuộc vào các yếu tố như: nguồn sống
cộng đồng” [29] được Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế (HAI) thực hiện
tháng 4/2013, tại 12 xã của huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tiến hành điều tra
NCT đang được chăm sóc, trợ giúp trong mô hình CLB liên thế hệ tự giúp nhau.
Điều tra này đã làm rõ được thực trạng chăm sóc - trợ giúp NCT trong mô hình
CLB liên thế hệ tự giúp nhau, những NCT gặp khó khăn trong cuộc sống hàng
ngày cần được giúp đỡ do mắc các bệnh mãn tính. Kết quả khảo sát đã nêu lên
được thực trạng hoạt động chăm sóc - trợ giúp của mô hình đối với NCT, đưa ra
được những khuyến nghị nhằm chăm sóc và trợ giúp NCT một cách hiệu quả hơn.
Trong bài viết “Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau - mô hình chăm sóc,
phát huy vai trò người cao tuổi” [11; tr.69] đăng trên Tạp chí Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, số 132 - tháng 10/2014, tác giả Nguyễn Văn Đồng đã đề cập tới thực
trạng hoạt động của mô hình CLB liên thế hệ tự giúp nhau ở nước ta, phân tích
sâu về hoạt động của mô hình, cơ cấu tổ chức của CLB. Tác giả đã chỉ ra được
tác động của mô hình CLB liên thế hệ tự giúp nhau tới đời sống NCT về mọi mặt,
những hiệu quả mà mô hình này mang lại: không những giúp NCT cải thiện điều
kiện sức khỏe, tạo việc làm và cải thiện thu nhập, nó còn là mô hình bảo vệ quyền
và lợi ích của NCT qua hoạt động truyền thông về chính sách, mô hình mang tính
ưu việt cao khi nó huy động được sự tham gia và nguồn lực từ phía cộng đồng;
cuối bài viết tác giả cũng đã đề xuất những giải pháp trọng tâm trong việc nâng
cao chất lượng hoạt động của mô hình, những chính sách và cơ chế mới đề xuất
để mô hình được hoạt động hiệu quả và nhân rộng.
Các nghiên cứu trên đã chỉ ra những hạn chế cần khắc phục, đề xuất những
giải pháp để hoàn thiện chính sách dành cho NCT, cải thiện cuộc sống cho NCT
ngày càng tốt hơn. Bên cạnh đó, các điều tra và nghiên cứu nói trên tập trung chủ
yếu vào những nội dung như: quy mô dân số cao tuổi; cơ cấu dân số cao tuổi; về
tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, mức sống
của NCT; chăm sóc sức khoẻ NCT; phát huy vai trò của NCT... đã góp phần làm
19