Trường THCS Tây Sơn Giáo viên : Đặng Hoàng Anh
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1/ Họ và tên: Đặng Hoàng Anh
2/ Ngày, tháng, năm sinh: 25 – 05 – 1985
3/ Nam, nữ: Nam
4/ Địa chỉ: Ấp 2 – Phú Ngọc - Định Quán - Đồng Nai.
5/ Điện thoại:
6/ Pax: Email:
7/ Chức vụ: Giáo viên.
8/ Đơn vị công tác: Trường THCS Tây Sơn.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Học vị cao nhất: Cử nhân cao đẳng.
- Năm nhận bằng: 2006.
- chuyên nghành đào tạo: Toán - Tin.
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC.
− Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : Giảng dạy bộ môn Toán - Tin
− Số năm kinh nghiệm : 4 năm.
− Sáng kiến kinh nghiệm đã có: Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy,
học hình học 7 theo phương pháp dạy học tích cực.
− Tên sáng kiến kinh nghiệm : Sử dụng phương pháp bài toán ngược nhằm nâng cao
chất lượng dạy, học hình học 7 theo phương pháp dạy học tích cực.
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 1
Trường THCS Tây Sơn Giáo viên : Đặng Hoàng Anh
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Toán học là ngành khoa học cơ bản, toán học có tác dụng lớn đối với các ngành khoa
học khác. Đây là một khoa học suy diễn, mẫu mực về sự chính xác cao và suy luận chặt chẽ.
Môn toán có một vị trí quan trọng trong trường phổ thông, vì nó có khả năng to lớn trong việc
thực hiện nhiệm vụ của nhà trường. đồng thời nó giúp cho học sinh phát triển các năng lực và
phẩm chất trí tuệ. việc tìm kiếm, chứng minh một định lý, tìm một lời giải hay cho một bài
toán, có tác dụng rèn luyện cho học sinh các phương pháp khoa học trong suy nghĩ, trong suy
− Giáo viên tích cực trong giảng dạy và không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm
chất năng lực.
2. Khó khăn :
− Phần lớn học sinh chưa cảm nhận được vẻ đẹp, tính Logic, tư duy của hình học, rất ngại
học hình, vì tính trừu tượng cao, quá nhiều áp lực khi giải quyết hàng loạt các định lý, định
nghĩa, tiên đề, hệ quả,… Song bên cạnh đó, hệ thống bài tập thực hành còn ít, khó, không cụ
thể, không đa dạng.
− Số lượng học sinh trong lớp quá đông, dẫn đến việc chuẩn bị điều kiện học tập cho học
sinh của giáo viên quá nhiều, việc quản lí học sinh trong giờ học hoặc tạo điều kiện cho học
sinh phát biểu ý kiến của mình về kiến thức của mình còn ít, hoặc không thể thực hiện được.
− Một số học sinh chưa có thái độ đúng đắn, chưa tự giác trong học tập, chưa tập trung
chú ý, khám phá kiến thức, thực hiện các yêu cầu của giáo viên và sách giáo khoa đề ra, mà chỉ
ỷ lại ở bạn bè, phụ thuộc vào bạn bè trong các hoạt động học tập. điều đó dẫn đến hiệu quả,
chất lượng học tập không cao.
− Một số học sinh xem nhẹ việc học lý thuyết, việc vận lý thuyết vào thực tế giải toán.
− Phần lớn học sinh hiểu được vấn đề, song không diễn đạt được, hoặc không thể trình
bày được hoàn chỉnh, hoặc không định hướng được phương pháp giải toán trên hướng phân
tích tổng hợp.
− Phương tiện dạy học còn nhiều hạn chế về số lượng củng như chất lượng. Số lượng đèn
chiếu còn quá ít chưa sử dụng được do điều kiện địa phương chưa cho phép sử dụng rộng rãi.
3. Số liệu thống kê ban đầu :
Năm học
Tổng số
HS
Giỏi Khá T.Bình Yếu Kém
Năm học
2008-2009
70
7 10 28 15 10
10 % 14.3 % 40 % 21.4 % 14.3 %
− Định lí là khẳng định được suy ra từ những khẳng định được coi là đúng.
− Một định lý bất kì đều có thể tách ra phần : Giả thiết và kết luận. Giả thiết là cái đã biết
còn kết luận là cái cần chứng minh.
Như vậy, bất kì định lý nào cũng có thể biểu diễn được dưới dạng sau:
“Nếu A thì B”, trong đó: A : giả thiết B: kết luận.
Ví dụ: “Trong một tam giác cân trung tuyến ứng với cạnh đáy là đường cao”.
• Trong định lý này, đối tượng nào được xem xét?
- Tam giác cân với đoạn thẳng nối đỉnh của tam giác này với điểm trên cạnh đối diện.
• Xác định giả thiết của định lí?
- Trung tuyến của tam giác cân.
• Cần chứng minh điều gì?
- Đoạn thẳng này là chiều cao.
Nhận xét: Ta có thể dịch chuyển sự bằng nhau của các cạnh của tam giác vào giả thiết của
định lý.
2.2 Thiết lập mệnh đề đảo:
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 4
Trường THCS Tây Sơn Giáo viên : Đặng Hoàng Anh
Nếu định lý đã cho được phát biểu dưới dạng mệnh đề:
“Nếu A thì B” hay A ⇒ B thì định lý đảo sẽ là “nếu B thì A” hay B ⇒ A
Do đó để áp dụng thành công “Phương pháp bài toán ngược” cần thiết hình thành cho
học sinh thủ thuật tách ra giả thiết và kết luận của một định lý hay một bài tập nào đó, dạy học
cho học sinh phát biểu các mệnh đề dưới dạng “nếu … thì…”. Việc hình thành thủ thuật này
xảy ra khi giải bài tập, mặc dù bản thân thủ thuật nhiều khi không được nhận thức. Khi tách ra
giả thiết và kết luận là giai đoạn cần trên đường đi tới nhận được mệnh đề đảo, thì chú ý của
học sinh được cố định vào chúng mọt cách có mcuj đích. Sau khi giả thiêt và kết luận được
tách ra thì việc phát biểu mệnh đề đảo là hoàn toàn dễ dàng.
Ví dụ1: Định lý: “Trong một tam giác cân, trung tuyến dựng từ đỉnh là đường cao”.
Trong các tài liệu giáo khoa, khẳng định tương ứng được nói rằng: “Trong tam giác
cân, trung tuyến dựng từ đỉnh vừa là đường cao và là đường phân giác”, thì khẳng định này
cần giải thích rõ cho học sinh ở đây có sự hợp nhất (gộp) 2 định lý đã được nêu ở trên.
Sau đó ta kẻ phân giác AD, A
1
D
1
?
- AD = A
1
D
1
- Hãy chứng minh: ABD = A
1
B
1
D
1
(c.g.c :
·
·
1 1 1
BAD B A D=
, AB = A
1
B
1
,
µ
µ
1
B B=
). Dựa
B
C
D
D
1
C
1
A
1
B
1