MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC HIỆU LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ CƠ BẢN. BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM VÀ MALAYSIA - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VƯƠNG MỸ TRINH
MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC
HIỆU LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ CƠ BẢN. BẰNG
CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM VÀ MALAYSIA

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT ................................................................................................................... - 1 CHƯƠNG 1: ............................................................................................................... - 2 GIỚI THIỆU ............................................................................................................... - 2 1.1 Lý do chọn đề tài ............................................................................................... - 2 1.2 Sự cần thiết của đề tài: ....................................................................................... - 3 1.3 Mục tiêu nghiên cứu: ......................................................................................... - 3 1.4 Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................. - 3 1.5 Phạm vi nghiên cứu: .......................................................................................... - 4 1.6 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................ - 5 1.7 Bố cục bài nghiên cứu: ...................................................................................... - 5 CHƯƠNG 2: ............................................................................................................... - 6 TỔNG QUAN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC HIỆU LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ CƠ BẢN... - 6 2.1. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ bản ........................ - 6 2.2. Những nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các
yếu tố kinh tế cơ bản trong thời gian gần đây ....................................................... - 10 2.2.1.Nghiên cứu của Ma and Kanas (2000) “Testing for a nonlinear relationship
among fundamentals and exchange rates in ERM” ........................................... - 10 2.2.2. Nghiên cứu của Grauwe và Vansteenkiste (2006) “Exchange rates and
Fundamentals: A Non – Linear Relationship” .................................................. - 11 -




DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB: Ngân hàng phát triển châu Á – Asian Development Bank
APT: Mô hình lý thuyết chênh lệch giá - Arbitrage Pricing Theory Model
CAPM: Mô hình xác định giá trị của tài sản vốn - Capital asset pricing model
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
CRO: Giám đốc quản trị rủi ro
EBIT: Thu nhập trước lãi vay và thuế - Earnings before interest and taxes
EPS: Lợi nhuận (thu nhập) tính trên 1 cổ phiếu - Earning Per Share
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài - Foreign Direct Investment
FED: Cục dự trữ liên bang Mỹ - Federal Reserve System
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội - Gross Domestic Product
IMF: Qũy tiền tệ quốc tế - International Monetary Fund
LBO: Mua lại bằng vốn vay - Leveraged buyout
NDE: Số cổ phần thường chưa chi trả của phương án tài trợ có sử dụng đòn bẩy tài
chính
NE: Số cổ phần thường chưa chi trả tương ứng của phương án tài trợ hoàn toàn
bằng vốn cổ phần
OLS: Phương pháp bình phương nhỏ nhất
QE3: Chương trình nới lỏng định lượng
ROE: Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu - Return on equity
SML: đường biểu diễn rủi ro của thị trường chứng khoán - Security Market Line
UNCTAD: Hội nghị liên hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển - United
Nations Conference on Trade and Development
WB: Ngân hàng thế giới – World Bank


-1-


thấp sẽ gây lạm phát vì tăng giá hàng nhập khẩu sẽ làm tăng chỉ số giá tiêu dùng.
Bên cạnh đó, tỷ giá hối đoái thực còn là một yếu tố vĩ mô có mối tương quan với
các yếu tố vĩ mô quan trọng khác trong và ngoài nước, vì thế, nếu không hiểu biết
về tỷ giá và hành động đúng đắn, một quốc gia có thể nhập khẩu rủi ro, biến động
xấu từ phần còn lại của thế giới. Do vậy, chính sách về tỷ giá của mỗi quốc gia là
yếu tố tiên quyết cho sự thành bại của họ trong quan hệ giao thương với các quốc
gia khác;các nhà hoạch định chính sách cần phải nắm bắt một cách rõ ràng về tình
hình biến động tỷ giá để đưa ra các chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, cũng như dẫn dắt nền kinh tế vượt qua các giai đoạn khó
khăn.
Để có thể đưa ra quyết định về một chính sách tỷ giá hữu hiệu thì việc
nghiên cứu các yếu tố kinh tế tác động đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực là cần thiết
nhưng nó lại không hề dễ dàng. Trong khi các tài liệu học tập cho rằng mối quan hệ
giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế là một mối quan hệ tuyến tính thì nghiên
cứu của Meese and Rogoff (1991) đã cho thấy sự thất bại của mô hình tuyến tính
trong việc giải thích mối quan hệ này. Từ đây có rất nhiều nghiên cứu của các tác


-3-

giả để tìm hiểu mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ
bản nhưng đến gần đây mối quan hệ này vẫn là câu hỏi mở. Chính vì thế, tác giả
thực hiện đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các
yếu tố kinh tế cơ bản. Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam và Malaysia” góp
phần có thể tìm ra câu trả lời cho mối quan hệ này.
1.2 Sự cần thiết của đề tài:
Mỗi quốc gia muốn có được chính sách tỷ giá hối đoái hữu hiệu nhất đều cần
phải tìm hiểu các yếu tố cơ bản nào trong nền kinh tế tác động đến sự thay đổi của
tỷ giá hối đoái thực đồng thời các nhân tố này ảnh hưởng như thế nào cũng cần
được xem xét vì khi một chính sách tỷ giá được đề ra nó sẽ chịu tác động rất lớn từ

quy các biến khi mối quan hệ của chúng không phải là tuyến tính nhằm hỗ trợ cho
việc chạy mô hình ARDL.
Mô hình ARDL được dùng kiểm định mối quan hệ đồng liên kết của các biến
sau khi chyển đổi.Nếu tồn tại mối quan hệ đồng liên kết tuyến tính giữa các biến
sau chuyển đổi thì tác giả kết luận có tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa các biến
gốc. Tức là tỷ giá hối đoái thực hiệu lực có quan hệ phi tuyến với các yếu tố kinh tế
cơ bản.
Tác giả tiến hành kiểm định sự phù hợp của mô hình bằng một số kiểm định
gồm: kiểm định Breusch - Pagan để kiểm định phương sai thay đổi của mô hình,
kiểm định Breuch – Godfrey để kiểm định tự tương quan của mô hình, kiểm định
Cusum và Cusum of Square để kiểm tra sự ổn định của mô hình nghiên cứu, kiểm
định sự phù hợp của của dạng hàm bằng kiểm định Ramsey.
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
Tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực hiệu lực và các yếu
tố kinh tếcơ bản tại hai quốc gia Việt Nam và Malaysiađể tìm ra mối quan hệ phi
tuyến giữa chúng.Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu chiều hướng tác động của từng
yếu tố kinh tế cơ bản được lựa chọn lên tỷ giá hối đoái thực hiệu lực của hai đồng
tiền VND và MYRtại hai thị trường. Trong đó, các yếu tố kinh tế cơ bản được tác
giả lựa chọn gồm: PROD (chênh lệch trong năng suất: đại diện bởi chỉ số CPI – PPI
hoặc GDP bình quân đầu người), TOT (Tỷ lệ mậu dịch), GEXP (Chi tiêu chính
phủ), OPEN (Độ mở của nền kinh tế), NFA (Tài sản nước ngoài ròng).


-5-

1.6 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu theo quý của Việt Nam và Malaysia với 5 đối tác thương mại lớn của
hai nước giai đoạn Q1.2000 – Q3.2014 từ nguồn IFS IMF, DOTS IMF và GOS.
Năm đối tác thương mại lớn của Việt Nam: Trung Quốc, Úc, Hồng Kông,
Hàn Quốc và Singapore

Exchange Rate Behavior: Theory and Evidence from Developing Countries). Bằng
việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực và các yếu tố kinh tế cơ bản tại các nền kinh tế
đang phát triển với việc xem xét trên cả 3 loại hàng hóa (hàng hóa có thể xuất khẩu,
hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa phi thương mại). Các yếu tố kinh tế cơ bản được
tác giả lựa chọn là tỷ lệ mậu dịch (external terms of trade), tỷ lệ chi tiêu chính phủ
trên GDP (ratio of government consumption on non-tradables to GDP), thuế
quan đại diện cho mức thuế nhập khẩu (proxy for the level of import tariffs),
thước đo của tiến bộ công nghệ (measure of technological progress), lưu chuyển
vốn (capital

inflows), các nhân tố cơ bản khác như tỷ lệ đầu tư/GDP(other

fundamentals, such as the investment/GDP ratio). Bằng chứng thực nghiệm của
tác giả chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái thực bị tác động bởi các yếu tố kinh tế cơ bản.
Mặc dù vậy đến nghiên cứu của Meese và Rose (1989) (An Empirical
Assessment of Non – Linearities in Model of Exchange Rate Determination) khi


-7-

nghiên cứu tỷ giá hối đoái với các yếu tố kinh tế cơ bản được lựa chọn là tiền tệ
(Money), sản lượng quốc nội (Domestic Output) và thặng dư cán cân thương mại
(Cumulated Trade Balance) bằng cách nghiên cứu đồng liên kết cùng với việc sử
dụng biến chuyển đổi bằng thuật toán ACE, tác giả đã không tìm ra được bất kỳ mối
quan hệ nào cả tuyến tính lẫn phi tuyến trong trường hợp này.
Trong suốt một thời gian dài câu hỏi về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực
hiệu lực với các yếu tố kinh tế cơ bản vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục nhất; liệu
rằngmối quan hệ này có tồn tại hay không, nếu tồn tại thì mối quan hệ này là tuyến
tính hay phi tuyến. Sau nghiên cứu của Meese và Rose (1989) có nhiều nghiên cứu
về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ bản. Tuy nhiên, tiêu

Economic

Fundamentals:


-8-

AMetgodological Comparison of BEERs and FEERs).Trong đó BEER là tỷ giá hối
đoái thực cân bằng hành vi (Behavioal Equilibrium Exchange Rate). BEERs được
sử dụng khá rộng rãi nhằm phân tích sự biến động của tỷ giá thực theo thời gian,
chứ không phải sự biến động của tỷ giá cân bằng trong trung và dài hạn. Phương
pháp BEERs được xây dựng dựa trên điều kiện ngang giá lãi suất không có bảo
hiểm thực (real UIP). Điều đó có nghĩa là thay vì sử dụng tỷ giá danh nghĩa, các
nhà nghiên cứu này đã coi tỷ giá thực đa phương như là một biến số chính của mô
hình.Còn FEER là tỷ giá cân bằng yếu tố kinh tế cơ bản (Fundamental Equilibrium
Exchange Rate). FEER là phương pháp xác định tỷ giá cân bằng trong trung hạn.
Tỷ giá cân bằng FEER sẽ được xác lập khi mà nền kinh tế đạt cả cân bằng bên trong
lẫn cân bằng bên ngoài, tức là khi nền kinh tế được đảm bảo đầy đủ công ăn việc
làm, giá cả ổn định, đồng thời trạng thái của cán cân vãng lai ở mức cân bằng bền
vững. Nói một cách khác, tỷgiá cân bằng FEER được xác định dựa trên một số
điều kiện kinh tế được xác định bởi các biến số kinh tế quan trọng (economic
fundamentals), còn các yếu tố mang tính chu kì trong ngắn hạn bị loại bỏ.Tác giả
kiểm kịnh mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ
bản tại ba thị trường phát triển Hoa Kỳ, Đức và Nhật Bản. Các nhân tố kinh tế cơ
bản được tác giả lựa chọn trong mô hình nghiên cứu là tỷ lệ mậu dịch (terms of
trade), tương quan giá cả giữa hàng hóa thương mại và phi thương mại (relative
price of nontraded to trade goods), tài sản nước ngoài ròng (net foreign asset),
chứng khoán nợ của chính phủ (relative stock of government debt), tỷ lệ lãi suất
thực (real interest rate). Kết quả cho thấy mặc dù mức độ tác động của các yếu tố
kinh tế cơ bản tại các thị trường khác nhau, nhưng hầu hết các biến đều có tác động

Equilibrium Real Exchange Rate) đã tổng hợp những yếu tố có ảnh hưởng nhất đến
tỷ giá hối đoái thực hiệu lực từ những nghiên cứu trước cộng với bằng chứng thực
nghiệm của mình. Montiel đã lựa chọn được các yếu tố thích hợp để đại diện cho
các yếu tố kinh tế cơ bản gồm: chênh lệch trong năng suất, tỷ lệ mậu dịch, tài sản
nước ngoài ròng, độ mở cửa của nền kinh tế, và mức chi tiêu chính phủ.
Từ đây những bài nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến của tỷ giá hối đoái
với các yếu tố kinh tế cơ bản được phát triển, nhiều nghiên cứu đã ra đời kể đến
như: Ma và Kanas (2000); Grauwe vàVansteenkiste (2006); Tang vàZhou (2013).


- 10 -

2.2. Những nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái
và các yếu tố kinh tế cơ bản trong thời gian gần đây
2.2.1.Nghiên cứu của Ma and Kanas (2000) “Testing for a nonlinear relationship
among fundamentals and exchange rates in ERM”
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đề xuất hai thử nghiệm phi tham số cho
mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái với các yếu kinh tế cơ bản.Đầu tiên là
thử nghiệm đồng liên kết phi tuyến (Granger và Hallman, 1991; Breiman và
Friedman, 1985), thử nghiệm này được xem là thử nghiệm cho một mối quan hệ dài
hạn phi tuyến giữa tỷ giá và các yếu tố kinh tế cơ bản.Thử nghiệm thứ hai là thử
nghiệm quan hệ nhân quả phi tuyến Granger (Baek và Brock, 1992; Hiemstra và
Jones, 1994), được coi là thử nghiệm cho một mối quan hệ phi tuyến động.Thử
nghiệm này có thể phát hiện các mối quan hệ phi tuyến động Granger giữa tỷ giá và
nguyên tắc cơ bản bằng cách kiểm tra các giá trị của các yếu tố kinh tế cơ bản trong
quá khứ ảnh hưởng đến giá trị hiện tại và tương lai của tỷ giá hối đoái.Bằng chứng
về quan hệ nhân quả phi tuyến có thể được hiểu như là bằng chứng cho thấy mối
quan hệ động giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế cơ bản trong dài hạn. Tuy
nhiên, loại hình phi tuyến có thể xảy ra do bong bóng thị trường nên để loại bỏ tác
động này tác giả kiểm định theo mô hình (ARFIMA).

bản.Đồng thời tác giả cũng cho rằng mức độ lạm phát ảnh hưởng đến tính chất phi
tuyến tính của tỷ giá hối đoái.
Để ước tính các mô hình tác giả chọn dữ liệu tỷ giá hối đoái và các yếu tố
kinh tế cơ bản theo tháng. Đối với các nước lạm phát thấp, dữ liệu giá đồng nội tệ,
cung tiền, mức giá và lãi suất trong nước của Đức, Pháp, Ý, Nhật Bản, Vương quốc
Anh và Hoa Kỳ. Đối với các nước lạm phát cao, dữ liệu về các biến tương tự cũng
thu được cho Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Columbia và Ecuador. Đối với các
dữ liệu tỷ giá hối đoái, trong khi tác giả sử dụng cho các nước lạm phát thấp là tỷ
giá hối đoái chính thức, đối với các nước lạm phát cao, tác giả cũng sử dụng tỷ giá
hối đoái do thị trường quyết định (còn gọi là thị trường “đen” hoặc “song song”)
theo Reinhart-Rogoff (2004). Sử dụng tỷ giá hối đoái song song có lợi thế là được
xác định trong một thị trường tự do nên tránh được các tác động bóp méo chính
sách của chính phủ. Cuối cùng, tác giả xác định thời gian mẫu khi tỷ giá hối đoái


- 12 -

trong nước lạm phát cao trong giai đoạn thả nổi. Tác giả sử dụng điều này như là
một khởi đầu cho việc phân loại tỷ giá hối đoái được trình bày bởi Reinhart và
Rogoff (2004), và mở rộng phân tích nhờ các thông tin từ Ngân hàng Phát triển
Liên Mỹ Latinh.
Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy rằng đối với những nước có lạm
phát cao thì những mô hình nghiên cứu thế hệ đầu tiên về quan hệ giữa tỷ giá hối
đoái thực hiệu lực và các nhân tố kinh tế cơ bản dường như tốt hơn, tức là các nhân
tố kinh tế cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái ổn định trong thời kỳ nghiên cứu. Hay
nói cách khác đối với những nước có lạm phát cao mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái
và các nhân tố cơ bản của nền kinh tế là một mối quan hệ tuyến tính.Điều này trái
ngược với các nước có lạm phát thấp, khi mà các yếu tố kinh tế cơ bản tác động đến
tỷ giá hối đoái thay đổi theo thời gian. Hay nói khác là mô hình phi tuyến có khả
năng giải thích tốt hơn trong trường hợp các nước có lạm phát thấp.Để giải thích

với các mối quan hệ tuyến tính thông thường, mối quan hệ phi tuyến cho thấy độ
đàn hồi của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực với các yếu tố kinh tế cơ bản thay đổi theo
thời gian.
Theo nhận định của tácgiả các yếu tố kinh tế cơ bản được lựa chọn đều có
ảnh hưởng đáng kể đến tỷ giá thực hiệu lực.Đặc biệt,tỷ lệ mậu dịch có tác động
mạnh nhất so với các yếu tố còn lại lên tỷ giá hối đoái thực hiệu lực.
Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy tỷ giá hối đoái thực hiệu lực với các
yếu tố kinh tế cơ bản tồn tại mối quan hệ phi tuyến tính. Đồng thời tác giả đưa ra
được nhận định về chiều hướng cũng như độ lớn tác động của các yếu tố kinh tế cơ
bản lên tỷ giá hối đoái thực hiệu lực:chênh lệch trong năng suất có tác động cùng
chiều đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực trong suốt thời kỳ nghiên cứu; tỷ lệ mậu dịch
có tác động cùng chiều đến tỷ giá hối đoái thực; độ mở thương mại có chiều hướng
tác động đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực lẫn lộn và tác giả cho rằng tỷ giá hối đoái
thực thường giảm giá sau khi các nước hoàn toàn mở cửa nền kinh tế của họ để kinh
doanh, nhưng một phần tự do hóa có thể dẫn đến tỷ lệ tăng giá hối đoái thực ngắn
hạn trong giai đoạn đầu của tự do hóa; chi tiêu chính phủ có tác động ngược chiều
với tỷ giá hối đoái thực hiệu lực, điều này ủng hộ quan điểm cho rằng chi tiêu chính
phủ được duy trì cao trong một thời gian dài gây ra lo ngại trong tính bền vững và


- 14 -

có thể làm suy yếu tăng trưởng kinh tế và làm mất giá đồng nội tệ; tài sản nước
ngoài ròng có tác động ngược chiều lên tỷ giá hối đoái thực hiệu lực.
Tác giả cũng đưa ra nhận định tỷ giá hối đoái danh nghĩa của đồng nhân dân
tệTrung Quốc phản ứng mạnh mẽ với sự thay đổi của các yếu tố kinh tế cơ bản
ngoại trừ tỷ lệ mậu dịch hơn tỷ giá hối đoái thực nhưng đối với đồng Won Hàn
Quốc thì kết quả lại cho thấy điều ngược lại; tỷ giá hối đoái danh nghĩa phản ứng
mạnh mẽ với sự thay đổi của các yếu tố kinh tế cơ bản hơn tỷ giá hối đoái thực kể
cả tỷ lệ mậu dịch.Điều này cho thấy tỷ giá hối đoái danh nghĩa phản ứng mạnh mẽ

giá. Và Malaysia từ năm 2005đã áp dụng chế độ tỷ giá định giá so với một giỏ các
loại tiền tệ và đạt được những thành tựu kinh tế đáng kể và hiện nay là một trong
những nền kinh tế năng động và phát triển nhanh nhất tại khu vực Đông Nam Á,
đây là điều chúng ta cần học hỏi ở họ. Malaysia từ sau khủng hoảng tài chính Châu
Á năm 1998, họ đã kiểm soát vốn chặt chẽ hơn, theo đuổi tỷ giá hối đoái cố định và
không cho phép giao dịch quốc tế đồng Ringgit, và từ đó có được chính sách tiền tệ
độc lập hơn, BNM có thể giảm lãi suất để kích thích tăng trưởng kinh tế mà không
cần phải lo lắng về luân chuyển vốn hoặc biến động tiền tệ. Tuy nhiên, đây chỉ là
phản ứng tạm thời và là giải pháp cuối cùng để các nhà hoạch định chính sách có


- 16 -

thêm thời gian để xử lý các vấn đề trong nước và phục hồi kinh tế từ khủng hoảng.
Một khi một quốc gia thực hiện kiểm soát vốn, đặc biệt là trên các dòng vốn ra thì
các nhà đầu tư sẽ nghĩ rằng họ có thể bị kiểm soát một lần nữa trong tương lai, điều
này có thể ngăn cản các dòng vốn hiệu quả trong tương lai. Ngày 21/7/2005,
NHTW Malaysia chính thức công bố loại bỏ việc neo giá đồng Ringgit theo USD
và thay thế bằng chế độ tỷ giá định giá so với một giỏ các loại tiền tệ, từ đó lấy lại
được tính độc lập của chính sách tiền tệ. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý và chính
sách quốc tế hóa đồng Ringgit là các yếu tố quan trọng cho phép NHTW Malaysia
thiết lập được chính sách lãi suất phù hợp với tình hình trong nước.
Các cuộc khủng khoảng kinh tế có thể xảy ra bất kỳ lúc nào và là điều không
thể tránh khỏi trong tình hình kinh tế thế giới đang vô cùng phức tạp hiện nay, nền
kinh tế luôn phải đối mặt với những nguy cơ sụp đổ, các nhà hoạch định chính sách
cần đưa ra những chính sách hữu hiệu, kịp thời giúp nền kinh tế vượt qua khó khăn
và đem lại những bước phát triển vượt bậc.Và Malaysia là biểu tượng của tinh thần
vượt khó đó nên việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực hiệu lực với
các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam và Malaysia có thể giúp các nhà kinh tế
Việt Nam tìm ra được những tương đồng cũng như khác biệt để có thể học hỏi nước

Montiel (1999) phát triển một mô hình tổng hợp các phương pháp tiếp cận.
Trong mô hình này, tỷ giá hối đoái thực cân bằng dài hạn được xác định bởi các giá
trị trạng thái ổn định của các biến được xác định trước và giá trị lâu dài của cả hai
biến số chính sách và các biến ngoại sinh. Các biến có thể đóng vai trò là những
nhân tố dài hạn đến từ bốn nhóm.Nhóm thứ nhất bao gồm các yếu tố từ phía cung
trong nước, đặc biệt là hiệu ứng Balassa-Samuelson phát sinh từ sự tăng trưởng
năng suất nhanh hơn tương đối đối với các ngành hàng thương mại so với ngành
hàng phi thương mại.Thứ hai, cấu trúc của chính sách tài khóa, chẳng hạn như thay
đổi vĩnh viễn trong thành phần của chi tiêu chính phủ giữa hàng hóa thương mại và
phi thương mại cũng có liên quan. Thứ ba, những thay đổi trong môi trường kinh tế
quốc tế, bao gồm cả những thay đổi trong điều kiện bên ngoài của nền kinh tế
thương mại, các dòng chuyển vốn bên ngoài, lạm phát nước ngoài, và mức lãi suất


- 18 -

thực tế là rất quan trọng. Thứ tư, chính sách tự do hóa thương mại, ví dụ, việc giảm
trợ cấp xuất khẩu, có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực dài hạn.
Các đặc điểm kỹ thuật thực nghiệm được sử dụng trong bài viết này là một
ứng dụng của phương pháp tiếp cận của Menzie David Chinn (1991). Các hành vi
của tỷ giá thực hiệu lực (REER) VNĐ và Ringgitđược giả định được xác định bởi
một tập hợp các yếu tố kinh tế cơ bản theo cách sau:
REER = f (PROD, TOT,GEXT,OPEN,NFA)
Các biến phía bên phải là các biến tương ứng đại diện cho sự tăng trưởng
năng suất, về thương mại, chi tiêu chính phủ, mở cửa kinh tế, và các tài sản nước
ngoài ròng. Các biến này được lựa chọn phù hợp với hướng dẫn của Montiel (1999)
và chịu sự ràng buộc của các dữ liệu sẵn có.
3.2.2. Thuật Toán ACE (Alternating conditional expectation)
Thuật toán ACE được áp dụng giải quyết vấn đề khó khăn xảy ra khi sử dụng
mô hình phi tuyến tính vì khác với mô hình tuyến tính dạng hàm được xác định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status