Phân tích tình hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh - Pdf 66

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và có độ chính xác cao.
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ
nguồn gốc. Đồng thời, tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện luận văn này tại
địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện luận
văn.

Học viên

Nguyễn Thị Linh


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
Chương 1. GIỚI THIỆU
1
1. 1 Lý do chọn đề tài
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
3
1.2.1 Mục tiêu chung
3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

14
2.6.1 Đối tượng đào tạo
14
2.6.2 Chính sách có liên quan
15
2.6.3 Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn
15
2.7 Các nghiên cứu liên quan
16
2.7.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề của một số nước
16
2.7.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương
nước ta trong thời gian qua
18
2.8 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Châu Thành tỉnh Tây
Ninh
24
2.8.1 Điều kiện tự nhiên
24
2.8.2 Điều kiện về kinh tế xã hội
28


2.9 Loại hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn đang diễn ra trên địa bàn
huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh
31
2.10 Đào tạo nghề nông nghiệp
33
2.10.1 Lĩnh vực đào tạo nghề
33

48
4.2 Tóm tắt ý kiến khảo sát của lao động qua đào tạo
55
4.3 Một số giải pháp nâng cao kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện
Châu Thành tỉnh Tây Ninh
55
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
57
5.1 Kết luận
57
5.2 Kiến nghị
56
5.2.1 Đối với chính quyền địa phương huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh
57
5.2.2 Đối với cơ sở đào tạo nghề
57
5.3 Hạn chế của luận văn
58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
59


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số trung bình phân theo giới tình và theo thành thị, nông thôn
Bảng 2.2 Diện tích các loại đất theo đơn vị hành chính
Bảng 2.3 Lao động làm việc trong các ngành kinh tế xã hội
Bảng 2.4 Thống kê cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Châu
Thành tính đến ngày 31/12/2014
Bảng 2.5 Các cơ sở tham gia đào tạo
Bảng 2.6 Tổng hợp tình hình đào tạo

Để làm tốt điều này, bên cạnh việc tăng cường năng lực cho hệ thống dạy nghề, cần
mạnh dạn đổi mới phương thức dạy nghề.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008, hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành
Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn xác định: “Giải quyết việc
làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên, xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển
kinh tế, xã hội của cả nước; bảo đảm hài hòa giữa các vùng chuyển đổi mục đích sử
dụng đất…”. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công
nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông
thôn là một trong những nội dung của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được Đảng


2

và Nhà nước ta coi là một nhiệm vụ chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Châu Thành với nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, lao động trong nông
thôn chiếm khoảng 80% lực lượng lao động. Trong những năm qua công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn ở huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh đã được triển khai
thực hiện có tác dụng chuyển đổi nhận thức về học nghề, việc làm, nâng cao tay nghề
cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của
huyện. Tuy nhiên, tư duy nghề nghiệp của người dân trên địa bàn huyện vẫn còn hạn
chế, sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào các tục lệ, thói quen, chưa chú trọng áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống.
Công tác đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói
riêng chưa đáp ứng được yêu cầu, vẫn còn tình trạng nghề đào tạo chưa phù hợp với
nhu cầu, điều kiện của người học, chưa gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
của địa phương, tình trạng thiếu lao động có tay nghề vẫn còn phổ biến; tỉ lệ lao động
chưa qua đào tạo nghề còn cao, nhất là lao động khu vực nông thôn; nhiều lao động sau

tỉnh Tây Ninh trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2014.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn
huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh.
Gợi ý một số giải pháp nâng cao kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn của
huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh trong thời gian tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn?
Những giải pháp nào có thể được đề xuất nhằm nâng cao kết quả đào tạo nghề
cho lao động nông thôn?


4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các lao động nông thôn tham gia học nghề,
giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề, những vấn đề có liên quan đến công tác đào tạo
nghề và kết quả sau đào tạo nghề trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung
Do địa bàn huyện Châu Thành chủ yếu sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch lao
động sang phi nông nghiệp còn chậm. Vì vậy, huyện Châu Thành tập trung đào tạo
nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn là chủ yếu, giúp nâng cao kiến thức nông
nghiệp cho người lao động khi tham gia học nghề. Thông qua công tác khảo sát, phân
tích, đánh giá và mô tả thực trạng tình hình đào tạo nghề để đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Châu
Thành tỉnh Tây Ninh.
Do điều kiện khảo sát và phân tích có hạn nên chỉ chọn hoạt động đào tạo nghề
chính thức (có đăng ký với Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh).
Phạm vi không gian

Chương 2. TỔNG QUAN CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN
2.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm nghề, đào tạo và đào tạo nghề nghiệp
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2002. Giáo trình Kinh tế lao động, Nhà xuất
bản Đại học kinh tế quốc dân thì khái niệm nghề được hiểu như sau: Nghề là một dạng
xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến
thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất
định trong một lĩnh vực lao động nhất định.
Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2006. Luật Dạy nghề số
76/2006/QH11 ngày 29/11/2006. Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong
đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các
loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp
mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị
vật chất như: Thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…hoặc giá trị tinh thần như:
sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…với tư cách là những phương tiện sinh tồn và
phát triển của xã hội.
Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình
thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiện
nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có
năng xuất và hiệu quả.
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi
hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và
hiệu quả của công việc chuyên môn.


7

Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014. Luật Giáo dục nghề

phát triển.
2.1.3 Khái niệm đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao
Đào tạo mới là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề.
Đào tạo mới để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề trên các lĩnh vực lao động
sản xuất, phục vụ đời sống.
Đào tạo lại là đào tạo nghề áp dụng với những người đã có nghề, song vì lý do
nào đó nghề của họ không còn phù hợp nữa vì vậy phải đào tạo cho họ một nghề mới
để đáp ứng được nhu cầu nhận được công việc với yêu cầu cao hơn.
Đào tạo nâng cao là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm
việc để người lao động có thể đảm nhận được công việc với yêu cầu cao hơn.
2.1.4 Khái niệm về quản lý, quản lý đào tạo nghề
Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản
lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích tổ chức.
Quản lý đào tạo nghề là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch,
của chủ thể quản lý trong hệ thống đào tạo nghề, là sự điều hành hệ thống và các cơ
sở dạy nghề. Quản lý đào tạo nghề đòi hỏi yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống
nhất, tính liên tục, tính kế thừa và tính phát triển…
Quản lý đào tạo nghề là một quá trình tổ chức điều khiển, kiểm tra, đánh giá các
hoạt động đào tạo nghề của toàn hệ thống theo kế hoạch và chương trình nhất định
nhằm đạt được các mục tiêu của toàn hệ thống.
2.2 Một số đặc điểm của lao động nông thôn
Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông,
lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên luận văn đưa ra một
số đặc điểm của người lao động nông thôn như sau:


9

Lao động nông thôn có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi.

trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%;
2.4 Ý nghĩa của đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc làm thiết thực góp phần giải quyết
công ăn việc làm cho số lao động nông thôn nhàn rỗi do không có nghề; một số do
không thi vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp hoặc do thi trượt, hoàn cảnh
không thể có khả năng thi tiếp; một số khác là bộ đội xuất ngũ trở về địa phương, nông
dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp. Đối với những lao động nông
thôn, người có trình độ văn hóa thấp thì học nghề là biện pháp duy nhất để nâng cao
trình độ kiến thức, kỹ năng, tay nghề cho người lao động vì họ không thể đáp ứng được
các yêu cầu của giáo dục chuyên nghiệp.
Đồng thời, đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ huy động được tối đa lực
lượng lao động của xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển lực lượng lao động
thông qua đào tạo sẽ phát huy được năng lực, sở trường của từng người lao động và
nhờ vậy hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh ngày một nâng cao
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng trực tiếp các nhân tố của chính quá trình đào tạo
gồm: cơ sở vật chất- tài chính, đội ngũ giáo viên, học viên học nghề, chương trình, giáo
trình đào tạo; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh, việc làm; kiểm tra đánh giá, cấp văn bằng
chứng chỉ…những yếu tố này được coi là những yếu tố đảm bảo chất lượng của đào
tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng. Các yếu tố này
do hệ thống quản lý chất lượng của cơ sở dạy nghề quyết định. Chúng ta xét một số
yếu tố chính như sau:
Cơ sở vật chất, tài chính
Cơ sở vật chất bao gồm: Phòng học, học liệu, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho
giảng dạy và học tập…là các yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất


11

lượng đào tạo nghề. Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá

khả năng tư duy của người lao động càng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong
quá trình học nghề càng tốt, khi ấy chất lượng đào tạo nghề càng cao và ngược lại.
Chương trình, giáo trình đào tạo
Chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhà nước các cấp,
các ngành đối với hoạt động đào tạo nghề. Chương trình đào tạo phù hợp được các cấp
có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng
đào tạo.
Có 5 yếu tố cơ bản của hoạt động dạy học: mục tiêu dạy học của chương trình, nội
dung dạy học, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; quy trình kế hoạch triển
khai; đánh giá kết quả.
Trong lĩnh vực dạy nghề nói chung và dạy nghề cho lao động nông thôn nói riêng
không có chương trình đào tạo chung cho các nghề mà mỗi loại nghề đều có chương
trình riêng. Do vậy, một cơ sở dạy nghề có thể có nhiều chương trình đào tạo nếu như
cơ sở đó đào tạo nhiều nghề. Điều này đòi hỏi việc nghiên cứu đánh giá thực trạng về
chương trình đào tạo nghề không thể chỉ căn cứ vào cơ sở đào tạo nghề mà phải căn cứ
vào các nghề mà cơ sở đó đào tạo và nhu cầu của người học. Chương trình đào tạo bao
gồm phần lý thuyết và phần thực hành, tương ứng với mỗi nghề thì tỷ lệ phân chia giữa
hai phần này là khác nhau về lượng nội dung cũng như thời gian học.
Giáo trình đào tạo là những quy định cụ thể hơn của chương trình về từng môn cụ
thể trong đào tạo. Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật
kiến thức mới thì việc đào tạo mới sát thực tế và hiệu quả đào tạo nghề mới cao. Việc
nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý và sát với nhu cầu
đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thể nắm vững được nghề sau khi
tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo.
Nhận thức của người học và xã hội về đào tạo nghề
Học viên học nghề là nhân tố trung tâm, có tính chất quyết định đối với công tác
đào tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo nghề. Trình độ văn hóa, sự


13

- Cơ sở vật chất
- Nhận thức của
người học và xã hội

QUÁ
TRÌNH
ĐÀO
TẠO
NGHỀ

KẾT
QUẢ
ĐÀO
TẠO

Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng kết quả đào tạo nghề
Nguồn: tác giả tổng hợp từ các tài liệu có liên quan
2.6 Tổng quan về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay
Luận văn này tổng hợp các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đặc
biệt là đề án 1956.
2.6.1 Đối tượng đào tạo
Người lao động nông thôn có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp vớ i nghề cần
học. Trong đó , ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là

người thuộc diện được hưởng

chính sách ưu đãi người có công với cách mạng , hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng



cơ cấu lao động sang phi nông nghiệp, công nhân công nghiệp, xuất khẩu lao động,
quản lý sản xuất ở nông thôn.


16

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải dựa trên nhu cầu thực tế của người
dân, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương; dạy nghề phải gắn với việc làm, nâng cao năng suất lao động góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn và góp phần đảm bảo an sinh xã
hội.
2.7 Các nghiên cứu liên quan
2.7.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề của một số nước
Kinh nghiệm của Nhật Bản
Đặng Thị Thanh Huyền, 2001. Xuất bản cuốn “Giáo dục phổ thông với phát triển
chất lượng nguồn nhân lực – Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản”. Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội. Toàn bộ cuốn sách thể hiện sự am hiểu của tác giả về giáo
dục phổ thông Nhật Bản cũng như chiến lược phát triển kinh tế của đất nước này. Điều
đó được thể hiện xuyên suốt qua 4 chương của cuốn sách với một cấu trúc chặt chẽ,
hợp lý, đảm bảo logic của cuốn sách. Tác giả của cuốn sách đã phân tích rõ sự tiến
triển về chiến lược giáo dục trong mối quan hệ với các yêu cầu phát triển kinh tế của
Nhật Bản, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Cuốn sách đã khái quát một cách
cụ thể và khá chặt chẽ giữa giáo dục phổ thông với nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực của Nhật Bản. Những kinh nghiệm quan trọng của người Nhật Bản trong cách giải
quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Qua đó, tác giả đã đưa ra các gợi ý cho Việt Nam với ý tưởng muốn vận
dụng những kinh nghiệm đó vào hoàn cảnh nước nhà.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Linh Hương, 2015. Có bài viết “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nông
thôn Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. www ncseif.gov.vn [ Truy cập

lực nông thôn nói riêng phải được coi là một bộ phận quan trọng của chính sách đầu tư
công.


18

2.7.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương
nước ta trong thời gian qua
Kinh nghiệm của Thị xã Tân Châu - tỉnh An Giang
Lê Long, 2015. Có bài viết “Thị xã Tân Châu: Với công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn”. [Truy cập ngày 20/5/2015]. Thị
xã Tân Châu - tỉnh An Giang hiện có gần 113.407 người trong độ tuổi lao động, trong
đó lao động thành thị 42.237 người chiếm 37,25%; lao động nông thôn 71.170 người
chiếm 62,75%. Trước tình hình đó Thị ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đề ra nhiệm vụ
trong 5 năm tới cần giải quyết việc làm cho 27.000 lao động và lao động qua đào tạo
phải đạt 47%, bình quân hàng năm là 10%. Do vậy, để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề
cho lao động nông thôn, đòi hỏi các cấp các ngành trong toàn thị xã phải có nhiều
chương trình, kế hoạch thực hiện nghiêm túc, thực tế, khách quan; có đề ra chỉ tiêu cụ
thể, đồng thời phải có sơ kết, tổng kết, kịp thời rút ra kinh nghiệm để thực hiện công
tác đào tạo nghề ở địa phương, đơn vị ngày càng hiệu quả, chất lượng.
Hiện nay, trên địa bàn thị xã có 01 trường trung cấp nghề, 01 trung tâm giáo dục
thường xuyên và 14 trung tâm học tập cộng đồng ở 14 xã, phường. Hằng năm, số
lượng học viên theo học ở các trường và trung tâm tham gia các lớp trung cấp, sơ cấp
và bồi dưỡng ngắn hạn. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở thị xã được
triển khai theo hướng đa dạng các loại hình đào tạo nghề. Dạy nghề tại cộng đồng theo
nhu cầu lao động, dạy nghề theo địa chỉ, liên kết với một số trường dạy nghề. Các
chương trình đào tạo được biên soạn nội dung theo đúng quy định của Tổng cục dạy
nghề và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đáp ứng nhu cầu người học. Qua đó,
nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, đồng thời giải quyết việc làm ngay cho
một số học sinh vừa tốt nghiệp Trung học phổ thông, các lao động là chủ hộ, chủ cơ sở,

Đến nay, đã có 9.465 lao động được đào tạo nghề. Trong đó, huyện Nga Sơn mở được
3 lớp với 95 người được dạy nghề nuôi tôm sú, lợn hướng nạc, sản xuất chiếu cói.
Huyện Thọ Xuân mở được 20 lớp với 742 học viên tham gia học nghề trồng mía. Hai
huyện Hậu Lộc và Tĩnh Gia mở được 7 lớp với 245 người tham gia học vận hành, sửa


20

chữa, điều khiển máy tàu cá, kỹ thuật khai thác lưới kéo…. Đề án cơ bản đã làm thay
đổi nhận thức của người lao động về học nghề, tạo sự gắn kết trong cộng đồng dân cư,
đây cũng là một trong những tiêu chí góp phần xây dựng nông thôn mới.
Để công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tại Thanh hóa đạt kết quả bền
vững, rất cần sự quan tâm đúng mức từ các cấp chính quyền và ngành chức năng.
Bài học kinh nghiệm cho huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh
Từ kết quả đào tạo nghề tại một số địa phương trên ta có thể đưa ra được một số
những vấn đề cần thực hiện khi triển khai công tác đào nghề và nâng cao chất lượng
người lao động trong thời gian tới:
Cần thực hiện theo sát đề án mà các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa
phương đề ra, đồng thời phải có các chính sách phát triển công tác đào tạo nghề phù
hợp với thực tế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tăng cường công tác tuyên truyền sâu, rộng hơn nữa về công tác đào tạo nghề
cho người lao động đến toàn thể lực lượng lao động của địa phương.
Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở, trang thiết bị dạy nghề, cũng như tăng cường
nâng cao năng lực của cán bộ, giáo viên tham gia công tác đào tạo nghề.
Tập trung đào tạo nghề theo nhu cầu của người học và nhu cầu của các doanh
nghiệp, đồng thời cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo nghề với
các doanh nghiệp sử dụng lao động.
Cần có chính sách tạo việc làm cho người lao động sau khi tham gia học nghề.
2.7.3 Tổng quan dề tài nghiên cứu
Đào tạo nói chung, đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng trong thời kỳ

muốn đó, tình trạng thất nghiệp, thừa lao động vẫn diễn ra tràn lan. Tốc độ tăng trưởng
của công nghiệp bao giờ cũng cao hơn rất nhiều so với mức tăng về việc làm do nó tạo
ra. Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp tăng từ 6% đến 10% thì số việc làm nó tạo ra
chỉ tăng từ 1% đến 3%. Trong khi đó tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp của cả
nước đang phát triển thường chỉ chiếm khoảng 20% tổng lực lượng lao động xã hội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status