Đánh giá sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới - trường hợp tại hai xã Bình Dương và Bình Hiệp, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VÕ THANH DUY

ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI: TRƯỜNG HỢP TẠI HAI
XÃ BÌNH DƯƠNG VÀ BÌNH HIỆP, HUYỆN BÌNH SƠN,
TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

VÕ THANH DUY

ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI: TRƯỜNG HỢP TẠI HAI
XÃ BÌNH DƯƠNG VÀ BÌNH HIỆP, HUYỆN BÌNH SƠN,
TỈNH QUẢNG NGÃI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402


Xin cảm ơn những người đã xây dựng nên Chương trình giảng dạy kinh tế
Fulbright để tôi có một môi trường tuyệt vời cho học tập và trải nghiệm.
Để hoàn thành khóa luận này, đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối
với gia đình của mình, những người đã luôn ủng hộ tôi trong việc lựa chọn và tham gia
khóa học này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Phạm Duy Nghĩa, thầy Trần Tiến
Khai về những kiến thức đã truyền thụ và những lời khuyên bổ ích để hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, anh chị công tác tại Trường Fulbright đã
hết lòng truyền thụ kiến thức, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ ở Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
tỉnh Quảng Ngãi, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Sơn, UBND
xã Bình Dương, UBND xã Bình Hiệp, UBND xã Bình Mỹ và người dân tại 3 xã Bình
Dương, Bình Hiệp, Bình Mỹ vì sự giúp đỡ tận tình trong việc trả lời phỏng vấn và cung
cấp thông tin cho việc hoàn thành khóa luận này.
Và sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn lớp MPP5, các bạn đồng môn
tại Trường Fulbright và bạn bè đã cùng chia sẻ, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và
thực hiện luận văn.


-iii-

TÓM TẮT
Trong bối cảnh nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang gặp phải những khó
khăn, tụt hậu trong quá trình phát triển, chính sách xây dựng nông thôn mới được xem
là cứu cánh cho những thay đổi ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm thực
hiện, chính sách xây dựng NTM đã bộc lộ những tồn tại có nguy cơ ảnh hưởng đến tiến
độ, chất lượng thực hiện chính sách. Việc cải thiện những tồn tại này sẽ giúp cho chính
sách đi đúng quỹ đạo và xa hơn là phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Qua nghiên cứu thực địa tại hai xã Bình Dương và Bình Hiệp, tác giả nhận thấy


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN!.................................................................................................................. ii
TÓM TẮT ........................................................................................................................ iii
TỪ KHÓA ....................................................................................................................... iii
MỤC LỤC ....................................................................................................................... iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ............................................................... vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................................. vi
DANH MỤC HÌNH VẼ .................................................................................................. vi
DANH MỤC HỘP ........................................................................................................... vi
CHƯƠNG 1. DẪN NHẬP................................................................................................ 1
1.1. Bối cảnh nghiên cứu ............................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ............................................................................. 2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 3
1.4. Phương pháp luận ................................................................................................... 3
1.5. Cấu trúc dự kiến của đề tài ..................................................................................... 4
CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ....... 5
2.1. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM .............................................. 5
2.2. Những quy định về vai trò của người dân trong xây dựng NTM .......................... 9
CHƯƠNG 3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.... 11
3.1. Sự tham gia của người dân ................................................................................... 11
3.2. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Hàn Quốc ................................................... 13
3.3. Tổng quan các nghiên cứu trước .......................................................................... 15
CHƯƠNG 4. NGHIÊN CỨU ĐIỂM VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG
XÂY DỰNG NTM TẠI HAI XÃ BÌNH DƯƠNG VÀ BÌNH HIỆP ............................. 17
4.1. Quá trình triển khai Chương trình xây dựng NTM tại huyện Bình Sơn .............. 17
4.2. Thực trạng về sự tham gia của người dân ............................................................ 18
4.2.1. Thông tin về chính sách xây dựng NTM ....................................................... 18
4.2.2. Người dân tham gia bàn, ý kiến trong xây dựng NTM ................................. 21

TTg
TW
UBND

Nông thôn mới
Quyết định
Trách nhiệm hữu hạn
Thủ tướng
Trung ương
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2-1. Các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ................ 5
Bảng 4-1. Các khoản đóng góp xây dựng NTM tại xã Bình Dương và xã Bình Hiệp ... 25
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2-1. Bộ máy điều hành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ............... 7
Hình 2-2. Cơ cấu vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ... 8
Hình 3-1. Thang đo về sự tham gia của người dân theo Sherry R.Arnstein ................... 11
Hình 4-1. Tỷ lệ người dân biết về những thông tin cơ bản trong xây dựng NTM ......... 19
Hình 4-2. Tỷ lệ lựa chọn của người dân được khảo sát về mức độ tham gia của người
dân trong xây dựng NTM ............................................................................... 22
Hình 4-3. Tỷ lệ về yếu tố quyết định cho việc lập kế hoạch xây dựng NTM ................. 22

DANH MỤC HỘP
Hộp 4-1. Mô hình sản xuất giống keo lai, bạch đàn tại xã Bình Hiệp ............................ 21
Hộp 4-2. Trồng ớt ngoài quy hoạch tại xã Bình Dương ................................................. 23
Hộp 4-3. Công trình NTM tại xã Bình Hiệp ................................................................... 24
Hộp 4-4. Xây dựng đường giao thông nông thôn ở xã Bình Mỹ .................................... 27



Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 ngày 04/06/2008 (Quyết định 800 QĐ/TTG).
1

Tính toán của tác giả từ tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM, truy cập ngày 23/05/2014 tại địa chỉ:
/>2


-2-

Tuy nhiên, vấn đề cải thiện sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM
đang được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động thông tin tuyên truyền với những
khẩu hiệu như: “Cần đẩy mạnh vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM”
(Hải Đăng, 2013), “Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng NTM” (Vũ Thành,
2013), “Huy động nội lực của cộng đồng trong xây dựng NTM” (Hoàng Vĩnh, 2014),…
Trong khi đó, thực tế xây dựng NTM tại địa phương lại xuất hiện những hiện tượng huy
động mức đóng góp quá cao, một người dân cho biết “Vài trăm ngàn thì còn được, chứ
huy động mỗi hộ đóng góp đến 4-5 triệu đồng thì ai chịu nổi! Tôi đi làm thuê mỗi ngày
có bảy chục ngàn, tiền đâu mà đóng?” (Việt Đông, 2014), hay “Trong quy hoạch nông
thôn mới, vai trò của người dân tham gia lập quy hoạch được chú ý. Cụ thể là giao xã
làm chủ đầu tư các dự án quy hoạch nông thôn mới. Nhưng trên thực tế, đa phần người
dân không hiểu biết về quy hoạch…” ( Hoàng Tuấn Hiệp, Nguyễn Quang Dũng, 2012).
Từ đây có thể nhận thấy huy động nội lực cộng đồng hay cải thiện sự tham gia của
người dân bao gồm nhiều hoạt động nhỏ hơn, có những hoạt động cần tăng cường, cải
thiện những cũng có những hoạt động cần cần nhắc, hạn chế. Vì đó, người dân, theo
chính sách xây dựng NTM, vừa là chủ thể vừa là người thụ hưởng thành quả phát triển
NTM nhưng lại đang thể hiện vai trò của mình khá thụ động. Đây chính là lý do đề tài
mong muốn tìm hiểu thực trạng về sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại
2 xã Bình Dương và Bình Hiệp để từ đó có những đóng góp cải thiện chương trình.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại 2

với phân tích, so sánh và thống kê mô tả sẽ được sử dụng để đạt được các mục tiêu đề ra
cũng như trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Câu hỏi 1: Thông qua các lý thuyết về sự tham gia của người dân, đề tài sẽ chỉ ra sự cần
thiết đối với việc người dân tham gia trong chính sách xây dựng NTM. Và để minh họa
cho điều này, đề tài sử dụng kinh nghiệm phát triển nông thôn Hàn Quốc, tiêu biểu là
phong trào Semaul Undong. Phân tích trên nhằm chỉ ra xu hướng tất yếu cho phát triển
nông thôn dựa vào phát triển cộng đồng là luôn phải song hành với tăng cường sự tham
gia của người dân. Sau đó, đề tài liên hệ thực tế Việt Nam thông qua những nghiên cứu
trước để làm rỏ những lợi ích, thành công khi tăng cường sự tham của người dân vào
một hoạt động cụ thể. Những căn cứ này là cơ sở khẳng định việc phát triển NTM hiện
nay cần có sự tham gia của người dân như người đóng vai trò chính.


-4-

Câu hỏi 2: Đề tài thực hiện việc khảo sát thu thập ý kiến của người dân thông qua bảng
hỏi và kết hợp với phỏng vấn đại diện của Ban quản lý xây dựng NTM cấp xã, Ban Chỉ
đạo xây dựng NTM cấp huyện, tỉnh để ghi nhận thực trạng về sự tham gia của người
dân trong chính sách xây dựng NTM. Quá trình khảo sát được chia theo 4 mức độ tham
gia: thông tin; bàn, ý kiến; thực hiện và giám sát, quản lý, vận hành, bảo dưỡng. So song
với việc đánh giá thực trạng về sự tham gia của người dân, đề tài tiến hành đối chiếu, so
sánh với những quy định pháp luật về sự tham gia của người dân, quy chế về dân chủ cơ
sở và những quy định về sự tham gia của người dân trong các văn bản xây dựng NTM
để xác định những mặt tích cực cũng như những tồn tại đối với sự tham gia của người
dân trong quá trình xây dựng NTM ở địa phương.
Câu hỏi 3: Từ những mặt tích cực cũng như những tồn tại trong quá trình nghiên cứu về
sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại địa phương, đề tài sẽ liên hệ với các
quy định pháp luật, kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở một số nước
và các nghiên cứu trước nhằm đưa ra những giải pháp cải thiện sự tham gia của người
dân trong chính sách xây dựng NTM.

ninh quốc phòng trên địa bàn nông thôn. Theo Quyết định 800/QĐ-TTg, chương trình
gồm 11 nội dung, mỗi nội dung bao gồm 1 hoặc 1 số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia
NTM (xem phụ lục 7). Cụ thể:
Bảng 2-1. Các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM
Stt

Nội dung

Tiêu chí tương ứng


-6-

1

Quy hoạch xây dựng NTM

Tiêu chí số 1

2

Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

Các tiêu chí 2 – 9

3

Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

Tiêu chí số 10, 12


Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Tiêu chí số 17

10

Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể Tiêu chí số 18
chính trị - xã hội trên địa bàn

11

Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

Tiêu chí số 19

Nguồn: Quyết định 800 QĐ/TTg
Thứ tự các nội dung được thực hiện tùy thuộc vào nguồn lực của địa phương,
trong đó có ưu tiên thực hiện các nội dung về quy hoạch, đào tạo và xây dựng cơ sở hạ
tầng.
Xã đạt chuẩn NTM phải đảm bảo các điều kiện: có đăng ký xã đạt chuẩn nông
thôn mới và được UBND cấp huyện xác nhận; có 100% tiêu chí thực hiện trên địa bàn
xã đạt chuẩn theo quy định (theo Quyết định 372 QĐ/TTg). Tiêu chuẩn của các tiêu chí
có sự thay đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng miền. Hiện nay, bộ
tiêu chí đánh giá NTM căn cứ trên Quyết định 491/QĐ-TTg – Quyết định về việc ban
hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và Quyết định 342/QĐ-TTg – Quyết định sửa đổi
một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.


-7-

3


-8-

Nguồn vốn thực hiện chương trình bao gồm 4 nguồn chính: Thứ nhất, vốn ngân
sách (Trung ương và địa phương) tài trợ trực tiếp cho chương trình khoảng 17% và vốn
từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ đang và sẽ tiếp
tục triển khai tại địa phương chiếm khoảng 23%. Thứ hai, vốn tín dụng, bao gồm tín
dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại, chiếm khoảng 30%. Thứ ba, vốn từ các
doanh nghiệp, HTX và các loại hình kinh tế khác chiếm 20%. Cuối cùng, huy động
đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10% (hình 2.2).
Hình 2-2. Cơ cấu vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới

Cơ cấu vốn theo Quyết định
800 QĐ/TTg

Cơ cấu vốn đầu tư thực tế trong
3 năm (2011 – 2013)

Nguồn: Quyết định 800/QĐ-TTg và Hội nghị sơ kết 3 năm xây dựng nông thôn mới4

Đến nay, sau 3 năm thực hiện chương trình (2011 – 2013), kết quả đạt được chỉ
ở con số khiêm tốn với 2,05% xã đạt chuẩn NTM trên 9.025 xã tham gia chương trình
(Thiên Hương, Thanh Xuân, 2014). Để đạt được mục tiêu 20% số xã đạt tiêu chuẩn
NTM vào năm 2015 hay xa hơn là 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM vào năm 2020,
Chương trình xây dựng nông thôn vẫn còn nhiều mặt cần phải hoàn thiện, thay đổi.
Những đột phá trong tư tưởng, cơ chế là yêu cầu cần thiết để chương trình đi vào thực


xã, người dân đóng vai trò là người được tham vấn;
Khi tham gia lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để
thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với kế hoạch khả năng, điều
kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công
cộng của thôn, xã, người dân đóng vai trò là người được quyết định;
Khi cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây
dựng của xã, người dân đóng vai trò là người giám sát;
Khi tham gia tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi
hoàn thành, người đóng vai trò là người quản lý.


-10-

Thông qua phân tích ở trên, ta nhận thấy vai trò của người dân được thể hiện
trong các văn bản rất đa dạng, từ vai trò người tham gia thụ động trong tiếp nhận thông
tin, đóng góp công sức, tiền của cho đến vai trò là người quan lý các công trình NTM.
Khi người dân tham gia xây dựng NTM với tất cả những vai trò đấy, họ thật sự là người
giữ vai trò chính trong hoạt động này. Tuy nhiên, khi chỉ căn cứ trên Quyết định 800
QĐ/TTg, văn bản liên quan trực tiếp và có giá trị pháp lý cao đối với Chương trình xây
dựng NTM, thì người dân chỉ được tham gia với vai trò là người được tham vấn. Như
vậy, có thể thấy, vẫn còn một khoảng trống pháp lý cho những quy định về vai trò của
người dân trong xây dựng NTM.


-11-

CHƯƠNG 3.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3.1. Sự tham gia của người dân
Sự tham gia của người dân được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc

7.Ủy quyền. Các công dân phải nắm giữ đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết
định. Quần chúng đã có thể chịu trách nhiệm.
8. Người dân quản lý. Cộng đồng thực hiện toàn bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định
chính sách và quản lý một chương trình.
Như vậy, theo các lý thuyết về sự tham gia của người dân thì người dân sẽ tham
gia vào những hoạt động có tác động đến đời sống cộng đồng cũng như từng cá nhân,
theo những hình thức và mức độ khác nhau. Vì vậy, khi xem xét các nội dung của
Chương trình xây dựng NTM, ta nhận thấy 11 nội dung này điều liên quan trực tiếp hay
gián tiếp đến cộng đồng dân cư nông thôn nên đây là cơ sở cho người dân tham gia vào
các hoạt động xây dựng NTM. Cụ thể hơn, người dân nông thôn là người thụ hưởng
những thành quả trong xây dựng NTM nên chỉ có họ mới là người hiểu rỏ nhất nhu cầu
của mình. Từ những nhu cầu đó, người dân biết cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt
được mục tiêu đề ra. Như vậy, có thể nói, sự tham gia của người dân như tất yếu khách
quan trong xây dựng NTM hiện nay.


-13-

3.2. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Hàn Quốc5
Biện pháp phát triển nông thôn dựa trên phát triển cộng đồng được Hàn Quốc áp
dụng. Những kinh nghiệm thất bại từ công cuộc tái thiết đất nước và các chương trình
gia tăng thu nhập trong nông – ngư nghiệp của Chính phủ đã làm nản lòng nông dân,
khiến họ mất đi sự tự tin vốn có. Chính phủ của Park Chung Hy cũng nhận ra rằng viện
trợ không giúp ích được bao nhiêu cho người dân nếu người dân không nghĩ cách tự
giúp mình. Đây là những ý tưởng nền tảng để hình thành phong trào Seamaulundong6 –
phong trào đổi mới cộng đồng hay còn được gọi là phong trào đổi mới nông thôn.
Ngay từ bắt đầu phong trào, “Tinh thần Seamaul” với 3 nhân tố chính “Chăm
chỉ - Tự lực – Hợp tác” đã được đề cao. Trong đó, Chăm chỉ là động cơ tự nguyện của
người dân, không ngừng vượt qua khó khăn để tiến tới thành công, Tự lực là ý chí bản
thân, tinh thần làm chủ, chịu trách nhiệm về cuộc sống và vận mệnh của bản thân và

thu nhập. “Thôn tự lập” là các thôn có 100% người dân tham gia phong trào được ưu
tiên hỗ trợ các dự án nâng cao thu nhập, dự án phúc lợi văn hóa. Việc phân nhóm đầu tư
giúp cho nguồn lực được phân bổ hợp lý và đáp ứng nhu cầu phát triển địa phương, và
một lần nữa tạo nên sự cạnh tranh sôi nổi trong Phong trào Seamaulundong.
Bên cạnh đó, sự thống nhất và chuyên nghiệp trong hệ thống quản lý cũng là
nhân tố quan trọng góp phần nên sự thành công của phong trào. Một hệ thống quản lý
riêng được thành lập từ trung ương đến địa phương, đơn vị nhỏ nhất là ban phát triển tự
quản thôn/xóm mà người lãnh đạo do dân bầu. Viện đào tạo lãnh đạo Seamaul cũng
được thành lập để bồi dưỡng cán bộ cho phong trào.
Tóm lại, Phong trào Seamaulundong nhấn mạnh đến phát triển tinh thần của
nông dân, lấy kích thích vật chất nhỏ và chính sách để kích thích mạnh tinh thần và qua
đó phát huy tiền năng của người dân, cộng đồng; làm cho người dân trở thành chủ thể
thật sự của phong trào với quyền ra quyết định trong các hoạt động lựa chọn công trình,
phương thức đóng góp, giải pháp xây dựng, tự chịu trách nhiệm quản lý giám sát công
trình. Nhờ đó, chỉ sau 8 năm kể từ 1970, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
gần hoàn thiện. Cụ thể, trong hơn 5 năm, từ 80% hộ gia đình sống trong nhà lá thì đến
giữa năm 1975 toàn bộ nhà cửa đã được lợp ngói. Đặc biệt, chỉ sau 5 năm người dân
nông thôn đã trực tiếp cảm nhận sức mạnh của bản thân khi tự đứng lên xây dựng cuộc
sống của mình.
Khi so sánh kinh nghiệm phát triển nông thôn Hàn Quốc với chính sách xây
dựng NTM, ta nhận thấy chủ trương phát triển nông thôn của 2 phong trào là giống
nhau, người dân đóng vai trò chính trong phát triển nông thôn, giúp người dân trở nên
tự tin để xây dựng cuộc sống của mình. Tuy nhiên, trong hành động thì phong trào
Semaul Undong lại phát huy tối đa sự tham gia của người dân, khuyến khích người dân
tham gia từ những việc đơn giản rồi đến những việc phức tạp, trong khi đó, phong trào


-15-

xây dựng NTM lại thiếu vắng sự tham gia của người dân, ở một số nơi, người dân lại bị



-16-

Nghiên cứu của Oxfam (2012) đã chỉ ra sự phản ứng khác nhau của cộng đồng và chính
quyền về vấn đề này. Các cộng đồng tham gia tích cực đã giành lại quyền sử dụng đất
cho mình như trường hợp ở Quảng Bình hay từ chối chuyển quyền sử dụng đất ở Quảng
Trị. Ở chiều ngược lại, sự tham gia thụ động của cộng đồng ở Nghĩa Đàn, Nghệ An đã
dẫn đến việc thay đổi quyền sử dụng đất trên nhiều diện tích đất là nguồn sinh kế chính
của cộng đồng.
Từ những nghiên cứu trước, ta có thể nhận thấy người dân có thể tham gia rất
nhiều lĩnh vực, hoạt động khác nhau, mức độ tham gia cũng rất đa dạng và quan trọng
hơn là chỉ ra sự hiệu quả đối với những hoạt động có sự tham gia của người dân. Một
khi người dân được hướng dẫn, đào tạo về những kỹ năng tham gia, giải thích về quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thì hiệu quả tham gia được cải thiện, sự tham gia chuyển từ bị
động sang chủ động, tích cực. Bên cạnh đó, mỗi nghiên cứu trước còn cho thấy nội
dung có sự tương đồng với một hay một số nội dung của Chương trình xây dựng NTM
(11 nội dung). Từ hai căn cứ này, ta có thể rút ra kết luận: Chương trình xây dựng NTM
phải có sự tham gia của người dân và mức độ tham gia của người dân quyết định mức
độ thành công của chương trình.


-17-

CHƯƠNG 4.
NGHIÊN CỨU ĐIỂM VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG XÂY DỰNG NTM TẠI HAI XÃ BÌNH DƯƠNG VÀ BÌNH HIỆP
4.1. Quá trình triển khai Chương trình xây dựng NTM tại huyện Bình Sơn
Bắt đầu triển khai từ đầu năm 2011, đến nay, huyện Bình Sơn đã hoàn chỉnh bộ
máy điều hành chương trình từ cấp huyện đến từng thôn xóm với 1.849 người, trong đó,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status