BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ GIÁO
DỤC KINH
VÀ ĐÀO
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
TẾ TẠO
TP.HCM
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
TẾ TP.HCM
----------
KINH
----------
---------- ----------
PHAN THỊ THANH THỦY
PHAN THỊ THANH THỦY
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2013
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2013
TP.HCM, tháng 09 năm 2013
Tác giả luận văn
Phan Thị Thanh Thủy
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
Tên đầy đủ tiếng Anh
Tên đầy đủ tiếng Việt
DPD
Dynamic Panel Data
Phương pháp Dynamic Panel Data
FDI
Foreign Direct Investments
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Gross Domestic Products
Phương pháp Moment tổng quát
Instrumental Variables Two Stage
Phương pháp hồi quy bình
Least Squares
phương hai bước bé nhất.
Official Development Assistance
Viện trợ phát triển chính thức
Ordinary Least Squares
Phương pháp hồi quy bình
phương bé nhất
System Generalized Method of
Phương pháp System Moment
Moments
tổng quát
United Nations Conference on
Hội nghị liên hiệp thương mại và
4.3.2. Nguồn dữ liệu các biến ...................................................................... 42
4.3.3. Mẫu dữ liệu ....................................................................................... 43
5. Kết quả nghiên cứu...................................................................................... 46
5.1. Kết quả thống kê mô tả ........................................................................... 46
5.2. Ma trận tương quan ................................................................................ 47
5.3. Kết quả thực nghiệm .............................................................................. 48
5.4. Kiểm định tính xác định của mô hình ..................................................... 55
6. Kết luận ........................................................................................................ 56
Phụ lục 1. Tỷ lệ kiều hối trên GDP của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai
đoạn 2000-2011 (đơn vị tính: %)
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm ................................................. 22
Bảng 4.1: Biến công cụ: Tỷ lệ kiều hối trên GDP của các quốc gia còn lại trong
mẫu nghiên cứu .................................................................................. 39
Bảng 4.2: Dữ liệu kiều hối của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai đoạn
2000-2011 .......................................................................................... 40
Bảng 4.3: Dữ liệu GDP của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 20002011 ................................................................................................... 41
Bảng 4.4: Các biến trong mô hình và nguồn dữ liệu ........................................... 42
Bảng 4.5:
Mẫu dữ liệu gồm 29 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 20002011 ................................................................................................... 43
Bảng 5.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình .............................................. 46
Bảng 5.2: Ma trận tương quan ............................................................................ 47
Bảng 5.3: Kết quả hồi quy trên Stata của phương trình (2).................................. 48
Bảng 5.4: Kết quả hồi quy trên Stata của phương trình (3).................................. 49
1. GIỚI THIỆU
Theo IMF (2009), kiều hối thể hiện thu nhập của hộ gia đình từ các nền kinh tế
nước ngoài chủ yếu từ những người di cư đến các quốc gia khác lao động thời vụ
hoặc thường xuyên. Kiều hối bao gồm các dòng tiền mặt và phi tiền mặt được
chuyển thông qua các kênh chính thức, ví dụ như điện tín, hoặc phi chính thức, như
vận chuyển tiền và hàng hóa qua biên giới.
Những năm gần đây, trong xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế, mở rộng xuất khẩu
lao động cùng với chính sách quản lý kiều hối được điều chỉnh theo hướng thông
thoáng đã làm cho quy mô của lượng kiều hối gửi về các nước đang phát triển rất
đáng kể. Số liệu thống kê từ World Bank và UNCTAD cho thấy, kiều hối là nguồn
tài trợ ổn định đôi khi vượt cả viện trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI). Dòng kiều hối chảy vào trở thành một trong những nguồn
cung ngoại tệ lớn trong cán cân thanh toán đã góp phần cải thiện cán cân vãng lai
của các nước đang phát triển nói riêng và tác động đến nền kinh tế nói chung.
Một câu hỏi được đặt ra là liệu dòng kiều hối có tác động đến tăng trưởng kinh tế
của mỗi quốc gia tiếp nhận hay không? Nếu câu trả lời là có thì dòng kiều hối sẽ
thúc đẩy hay kìm hãm tăng trưởng kinh tế? Nghiên cứu tác động của dòng kiều hối
đến tăng trưởng kinh tế của các nước tiếp nhận có ý nghĩa quan trọng. Hiểu rõ tác
động của dòng kiều hối đến tăng trưởng kinh tế sẽ giúp nâng cao nhận thức về ý
nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của dòng tiền này từ đó có các chính sách hợp lý để thu
hút nguồn lực một cách hiệu quả góp phần thúc đẩy nền kinh tế của đất nước. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về vấn đề này vẫn còn hạn chế và cho
nhiều kết quả khác nhau. Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của
kiều hối đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển” trong đó có Việt Nam
để một lần nữa kiểm định lại mối quan hệ “kiều hối-tăng trưởng kinh tế” xem dòng
kiều hối đổ vào có tác động thúc đẩy hay kìm hãm tăng trưởng kinh tế của quốc gia
tiếp nhận và liệu rằng có hay không quan hệ phi tuyến giữa hai yếu tố này.
3
đình thụ hưởng ở
quốc gia quê hương
Mạng lưới liên kết/
Hình thức chuyển
Tin nhắn và hệ thống
thanh toán
SWIFT
Chuyển tiền
Tin nhắn điện thoại
Hướng dẫn sử dụng
web
Vận chuyển dạng vật
chất tiền và hàng hóa
Điểm chuyển kiều
hối (Trung gian tại
nước quê hương)
Ngân hàng thương
mại
Công ty chuyển tiền
Tổ chức tín dụng
Bưu điện
Công ty chuyển phát
nhanh
Đại lý Hawala
Địa điểm của người
nhận
Hình 2.1 Các kênh chuyển kiều hối
Người nhận đưa chứng minh
thư và mã thu
Người gửi đưa tiền cho nhà
khai thác Hawala
Người gửi được đưa một mã thu
Nhà khai thác
Hawala ở quốc
gia A
Người gửi ở
Người nhận ở
quốc gia A
quốc gia B
Hình 2.2 Cấu trúc của chuỗi Hawala
Nguồn: IMF (2009)
5
Hệ thống chuyển tiền phi chính thức thu hút nhiều người nhập cư bởi các nguyên
nhân sau:
Giảm tác động phát triển tài chính của kiều hối.
6
2.2 Xu hướng kiều hối của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu
Kiều hối (tỷ USD)
185
200
160
173
166
162
2008
2009
143
122
120
2010
2011
Hình 2.3 Tổng lượng kiều hối của các quốc gia trong mẫu
giai đoạn 2000-2011
Nguồn: UNCTAD
Hình 2.3 biểu diễn tổng lượng kiều hối của 29 quốc gia trong mẫu nghiên cứu trong
giai đoạn từ năm 2000-2011. Ngoại trừ một sụt giảm nhẹ trong năm 2009 so với
năm 2008, nhìn chung dòng kiều hối đổ vào các quốc gia đang phát triển liên tục
tăng trong giai đoạn từ 2000-2011. Trong năm đầu tiên của giai đoạn khảo sát, tổng
lượng kiều hối của 29 quốc gia là 49,7 tỷ USD. Đến cuối năm 2011, sau 12 năm,
con số này đạt 185,4 tỷ USD, tăng 3,7 lần.
Quy mô kiều hối của các quốc gia trong mẫu cũng khá lớn. Theo số liệu kiều hối
ước tính của Word Bank cho năm 2012, trong số 29 nước trong mẫu nghiên cứu, có
7 nước đứng trong Nhóm 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới (hình 2.4).
7
Kiều hối (tỷ USD)
80
70
70
66
60
50
40
Một vài nghiên cứu cho rằng về lý thuyết, kiều hối có tác động tiêu cực đến tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn. Điển hình là nghiên cứu của Chami, R. et al. (2003).
Các lập luận lý thuyết của IMF (2005), World bank (2005), De Bruyn, T. and Wets,
J. (2006) và Chami, R. et al. (2008) đều cho rằng kiều hối có tác động tích cực lẫn
tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
3.1.1 Tác động tích cực của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của IMF (2005) cho rằng kiều hối giúp giải tỏa gánh nặng ngân sách
của quốc gia tiếp nhận, tăng chi tiêu tiêu dùng. Kiều hối cũng làm tăng tích lũy vốn
con người (thông qua giáo dục và chăm sóc sức khỏe), tăng đầu tư vật chất và tài
chính (ví dụ, gia tăng trong tài sản thực của người dân hoặc khởi nghiệp kinh doanh
nhỏ). Đáp lại, gia tăng chi tiêu tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến kết quả phát triển.
Trong hệ thống tài chính và các định chế phát triển tốt cho phép kiều hối là kênh
trung gian và được sử dụng hiệu quả. Thông qua những kênh tác động này, kiều hối
có tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Word Bank (2005) cũng lập luận kiều hối sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng
kinh tế bởi vì nó tài trợ cho hộ gia đình đầu tư vào giáo dục, y tế và gia tăng đầu tư.
Trong chuỗi nghiên cứu của IMF “Macroeconomic Consequences of Remittances”,
Chami, R. et al. (2008) đã tổng kết các nghiên cứu lý thuyết trước đây cho rằng kiều
hối có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua ba kênh: gia tăng đầu tư
vốn vật chất, gia tăng đầu tư vào nguồn vốn con người và phát triển thị trường tài
chính của quốc gia tiếp nhận.
9
Kiều hối gia tăng đầu tư vốn vật chất vì vậy nâng cao tăng trưởng kinh
tế.
10
3.1.2 Tác động tiêu cực của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế
IMF (2005) cho rằng kiều hối có thể làm giảm động cơ làm việc của các quốc gia
tiếp nhận, hoặc đánh giá cao tỷ giá hoái đoái thực và đồng thời thu hẹp thương mại
(còn được gọi là “căn bệnh Hà Lan”), những kênh này có tác động làm giảm tăng
trưởng.
Theo lập luận của World Bank (2005), kiều hối sẽ có tác động tiêu cực đến tăng
trưởng kinh tế nếu dòng kiều hối chuyển đến quốc gia tiếp nhận là sản phẩm của lực
lượng lao động có kỹ năng làm việc tốt hoặc được đào tạo có tay nghề.
Cùng quan điểm với hai nghiên cứu trên, đối với tác động tiêu cực của kiều hối đến
tăng trưởng kinh tế, Chami, R. et al. (2003) và Chami, R. et al. (2008) cũng đã đưa
ra các lập luận cụ thể thông qua hai kênh tác động là ảnh hưởng của “căn bệnh Hà
Lan” và vấn đề rủi ro đạo đức.
Kiều hối góp phần gia tăng ảnh hưởng của “căn bệnh Hà Lan” do đó
kìm hãm tăng trưởng kinh tế
Một tác động tiêu cực đáng chú ý trong các nghiên cứu lý thuyết là ảnh hưởng của
“căn bệnh Hà Lan”, đòi hỏi khu vực thương mại hàng hóa của quốc gia tiếp nhận
kiều hối là động lực bên ngoài của các lĩnh vực khác. Nếu điều kiện này thỏa mãn,
tác động của “căn bệnh Hà Lan” có thể gia tăng do kiều hối vì đánh giá cao đồng
nội tệ của quốc gia tiếp nhận.
Kiều hối gián tiếp làm giảm cung lao động gây tác động tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế
Theo ý tưởng được chính thức ghi nhận đầu tiên của Chami, R. et al. (2003) và
Ảnh hưởng của
"căn bệnh Hà Lan"
Tạo thuận lợi cho
nguồn vốn con người
Gián tiếp làm giảm cung
lao động và thực hiện
đầu tư rủi ro hơn
Phát triển
thị trường tài chính
Hình 3.1 Sơ đồ tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế
12
3.2 Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế về mặt thực nghiệm
Chami, R. et al. (2003): Are Immigrant Remittance Flows a Source of
Capital for Development?
Dữ liệu kiều hối gần đây đã được cải thiện tạo điều kiện cho nghiên cứu tác động
đến kinh tế vĩ mô của kiều hối với dữ liệu chéo theo quốc gia trở nên dễ dàng hơn.
Các nghiên cứu gần đây nỗ lực đo lường tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh
tế về mặt thực nghiệm. Mở đầu cho xu hướng này là Chami, R. et al. (2003) sử
dụng dữ liệu bảng với mẫu 83 quốc gia trong giai đoạn 1970-1998 để tìm hiểu mối
quan hệ giữa kiều hối và tăng truởng GDP bình quân đầu người.
Dữ liệu kiều hối của nhóm tác giả này chỉ bao gồm lượng kiều hối từ những người
cư trú. Nghiên cứu sử dụng hồi quy tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người và
tỷ lệ kiều hối của người cư trú trên GDP với các biến kiểm soát thu nhập bình quân
đầu người kỳ trước, tỷ lệ đầu tư trên GDP, tỷ lệ lạm phát, biến giả khu vực và tỷ số
Tuy nhiên, không giống như Chami, R. et al. (2003), IMF (2005) lấy tổng kiều hối
bao gồm ba thành phần: kiều hối của người cư trú, thu nhập của lao động ở nước
ngoài và tài sản thuyên chuyển khi di cư trong khi Chami, R. et al. (2003) chỉ tính
thành phần kiều hối của người cư trú. IMF nghiên cứu hồi quy chéo tăng trưởng
GDP thực bình quân đầu người và tỷ lệ kiều hối trên GDP. Các biến kiểm soát bao
gồm: log của thu nhập kỳ trước, giáo dục (đo lường bằng tỷ lệ tốt nghiệp cấp hai),
log của tuổi thọ, đầu tư, lạm phát, cán cân ngân sách, độ mở thương mại và phát
triển tài chính.
Nghiên cứu cũng cố gắng tối thiểu hóa vấn đề nội sinh bằng cách sử dụng kỹ thuật
biến công cụ. Dựa theo Rajan và Subramanian (2005), tác giả sử dụng hai biến
ngoại sinh địa lý và văn hóa có liên quan đến di cư và do đó tác động đến dòng kiều
hối. Theo đó, hai công cụ cho kiều hối bao gồm: khoảng cách địa lý giữa quốc gia
nhận kiều hối (quê hương của người di cư) và quốc gia có số lượng người dân của
14
quốc gia nhận kiều hối di cư đến lớn nhất (nước chủ nhà), và một biến giả đo lường
xem quê hương của người di cư và nước chủ nhà có cùng ngôn ngữ chung không.
Bởi vì các công cụ này không thay đổi theo thời gian, do đó ước lượng trung bình từ
năm 1970-2003 có thể thực hiện.
Sử dụng hồi quy tăng trưởng chéo, kết quả cho thấy mối liên kết không có ý nghĩa
thống kê giữa tăng trưởng GDP bình quân đầu người và kiều hối. Tương tự, không
có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa kiều hối và các biến kiểm soát khác như
mức độ giáo dục và tỷ lệ đầu tư trên GDP.
Catrinescu, N. et al. (2006): Remittances, Institution and Growth
Tiếp nối các nghiên cứu trên, Catrinescu, N. et al. (2006) kết hợp các biến định chế
với mẫu 114 quốc gia từ 1991-2003. Dữ liệu kiều hối được thu thập từ nguồn dữ
liệu Word Bank’s Word Development Indicators (WDI) trong đó kiều hối bao gồm
hai thành phần: kiều hối của người cư trú và thu nhập của lao động nước ngoài.
cũng như giữa tăng trưởng và một số biến định chế. Nghiên cứu cũng cho thấy bằng
chứng về mối tương quan thuận giữa tăng trưởng kinh tế và kiều hối mặc dù mối
quan hệ này khá yếu.
Giuliano, P. and Ruiz-Arranz, M. (2006): Remittances, Financial
Development, and Growth
Nghiên cứu của Giuliano, P. and Ruiz-Arranz, M. (2006) thu thập mẫu 73 quốc gia
trong giai đoạn 1975-2002. Số liệu kiều hối được tính trên tổng của ba khoản mục
trong cán cân thanh toán theo IMF (2005).
Kết quả cho thấy kiều hối ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng thông qua tác động kết
hợp với lĩnh vực tài chính. Theo các tác giả, tác động của kiều hối đến tăng trưởng
phụ thuộc vào mức độ phát triển tài chính. Tác giả đưa ra hai kịch bản. Kịch bản thứ
nhất là kiều hối và phát triển tài chính thay thế cho nhau. Lượng kiều hối thay thế
cho mức độ phát triển tài chính thấp và cung cấp các nguồn tài trợ cần thiết cho đầu
16
tư. Kịch bản thứ hai, kiều hối và phát triển tài chính bổ sung cho nhau. Kiều hối sẽ
giúp nâng cao tăng trưởng với thị trường tài chính tốt.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp OLS, fixed-effects panel và System Generalized
Method of Moments (SGMM) sử dụng các công cụ nội bộ để giải quyết vấn đề nội
sinh. Đầu tiên, nghiên cứu hồi quy tăng trưởng GDP bình quân đầu người với tỷ lệ
kiều hối trên GDP. Các biến kiểm soát bao gồm GDP bình quân đầu người kỳ trước,
tỷ lệ đầu tư trên GDP, tăng trưởng dân số, tỷ lệ cân đối ngân sách chính phủ trên
GDP, số năm đi học, độ mở thương mại đo lường bằng tỷ lệ xuất khẩu cộng nhập
khẩu trên GDP, và tỷ lệ lạm phát. Hệ số ước lượng của biến tỷ lệ kiều hối trên GDP
không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa với tăng trưởng.
Để kiểm định giả thuyết liệu kiều hối có làm gia tăng tăng trưởng kinh tế bằng cách
giải tỏa gánh nặng tín dụng hay không, nghiên cứu này cũng đưa thêm biến tương
tác giữa mức độ phát triển của thị trường tài chính với kiều hối như là một biến
Đến năm 2008, Chami, R. et al. tiếp tục nghiên cứu đề tài về kiều hối và tăng
trưởng trong giai đoạn 1970-2004. Dữ liệu kiều hối vẫn giống với Chami, R. et al.
(2003) chỉ bao gồm kiều hối của người cư trú. Bài nghiên cứu cũng xem xét liệu sự
hiện diện của đầu tư như là một biến kiểm soát có đưa ra kết quả có ý nghĩa khác
không.
Các biến kiểm soát cơ bản bao gồm: log của GDP bình quân đầu người kỳ trước,
log của tỷ lệ thương mại và M2 trên GDP, tỷ lệ lạm phát. Một bộ biến kiểm soát
đầy đủ bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP, tỷ lệ cán cân ngân sách trên
GDP, tỷ lệ tăng trưởng dân số, các chỉ số rủi ro chính trị ICRG.
Nhóm nghiên cứu sử dụng hai phương pháp ước lượng OLS và fixed-effects với 3
dạng khác nhau của tỷ lệ kiều hối trên GDP: chỉ có tỷ lệ kiều hối trên GDP, dạng
bình phương để kiểm định quan hệ phi tuyến, và liên kết với biến phát triển tài
chính (tỷ lệ M2/GDP). Để kiểm soát vấn đề nội sinh, các tác giả sử dụng biến tỷ lệ
kiều hối trên GDP của các quốc gia tiếp nhận còn lại trong mẫu như là một công cụ