1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
GIÁO
DỤCTẾ
VÀTP.
ĐÀOHỒ
TẠO
TRƯỜNG ĐẠIBỘ
HỌC
KINH
CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
×&Ø
×&Ø
LÊ THỊ THANH THỦY
LÊ THỊ THANH THỦY
CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU
CÁC
GIẢI PHÁP
ĐỘNG
ĐẦU
TƯ PHÁT
TRIỂNHUY
NGÀNH
DUVỐN
LỊCH
PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với sự phát triển của
các ngành kinh tế khác, ngành du lịch có những bước phát triển đáng kể và ngày càng tỏ
rõ vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh tế chung. Du lịch đã và đang ngày càng
trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Du lịch không chỉ đem
đến cho con người những cảm xúc tuyệt vời thông qua các loại hình nghỉ dưỡng, tắm
biển, tham quan, vui chơi giải trí, hành hương tìm về cội nguồn, thiên nhiên... mà du lịch
còn là thước đo chất lượng cuộc sống, một ngành “công nghiệp không khói” đem lại hiệu
quả xã hội vô cùng to lớn ở nhiều nước trên thế giới và khu vực. Trong mối quan hệ phát
triển tổng hòa của nền kinh tế, du lịch phát triển sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của
các ngành kinh tế khác. Du lịch còn là cơ hội, là chiếc cầu nối quan trọng nhằm phát triển
mạnh mẽ các mối quan hệ giao lưu văn hóa, hữu nghị, phát triển khoa học kỹ thuật, hợp
tác và ngoại giao giữa các vùng miền, các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới. Do
vậy, việc mở rộng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh du lịch là một xu hướng phát triển tất
yếu của tất cả các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Ninh Thuận là tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, có vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt
động du lịch do nằm trên tuyến du lịch xuyên Việt (Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam)
và nằm ở ngã 3 của vùng trọng điểm du lịch cả nước Đà Lạt - Phan Rang - Nha Trang,
được xác định là một trong những vùng trọng điểm trong chiến lược phát triển du lịch của
cả nước từ nay đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đặc biệt, Ninh
Thuận có các bãi biển đẹp, nhiều hệ sinh thái đặc trưng với các loài động thực vật phong
phú, khí hậu khác nhau gồm có vùng biển, vùng đồng bằng, trung du và miền núi. Đây là
tiềm năng lợi thế rất lớn để phát triển du lịch.
Do đó, định hướng phát triển du lịch của tỉnh Ninh Thuận trong những năm tới là
khai thác có hiệu qủa các tiềm năng và lợi thế; phát triển một cách toàn diện cả du lịch
biển, du lịch văn hoá, và du lịch sinh thái gắn với du lịch lịch sử, đưa du lịch thật sự trở
thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh.
4
IV. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về đầu tư và vốn đầu tư
Chương 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư cho phát triển du lịch tỉnh Ninh
Thuận.
Chương 3: Các giải pháp huy động vốn đầu tư để phát triển kinh tế du lịch tỉnh
Ninh Thuận đến 2010.
5
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ VỐN ĐẦU TƯ
1.1. Tổng quan về đầu tư và vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
1.1.1. Khái niệm đầu tư và vốn đầu tư
1.1.1.1. Đầu tư
Trong các mô hình kinh tế vĩ mô đơn giản, xét về phương diện tiêu dùng thì đầu tư
là bộ phận hợp thành lớn thứ hai sau nhu cầu. Khái niệm đầu tư theo nghĩa rộng bao hàm
hai phạm trù phân biệt:
- Một mặt, đầu tư liên quan đến việc mua sắm tài sản tài chính như: cổ phiếu, trái
phiếu và các loại chứng khoán khác, đó là loại đầu tư tài chính. Các tài sản tài chính có
thể có thể có được từ các đợt phát hành mới hay được mua lại trên thị trường tài chính.
- Mặt khác, đầu tư nhằm vào việc mua sắm các tài sản vật chất như máy móc, thiết
bị, nhà xưởng,… hay còn gọi là hàng hoá đầu tư vật chất.
Việc mua sắm các tài sản tài chính được xem như một việc đầu tư bởi người mua
hy vọng chúng sẽ đem lại nguồn thu nhập trong tương lai (chẳng hạn như cổ tức hay lãi
của trái phiếu…). Tuy nhiên, ở đây không xuất hiện sự gia tăng nguồn vốn mới cho nền
kinh tế bởi vì việc mua bán một sản phẩm tài chính sẽ là sự đầu tư đối với người mua nó
(2)
Từ (1) và (2), suy ra S = I
Từ đó, có thể thấy tiết kiệm hay tích lũy vốn với mục đích là để đầu tư. Hay nói
cách khác, đầu tư là từ bỏ tiêu dùng hiện tại để đổi lấy sản lượng cao hơn và như vậy gia
tăng tiêu dùng trong tương lai.
Qua phân tích trên cho thấy:
- Đầu tư theo nghĩa rộng được hiểu là bao hàm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Chỉ có đầu tư trực tiếp ròng tức là đầu tư tạo ra hàng hóa vốn mới làm tăng nguồn vốn
cho nền kinh tế xét về tổng thể.
- Để cho nền kinh tế có thêm được nguồn vốn, điều quan trọng và mang tính quyết
định là làm thế nào cho những người có ý định đầu tư tin tưởng rằng họ sẽ nhận được
khoản hiệu qủa (kinh tế, chính trị, xã hội) do đầu tư vào hàng hóa vốn đem lại cao hơn
việc bỏ vốn đầu tư vào các hoạt động khác.
- Hoạt động vốn đầu tư luôn gắn liền với rủi ro như rủi ro kinh doanh, rủi ro tài
chính.
Từ đó, chúng ta có thể dẫn đến khái niệm đầu tư như sau:
7
- Theo quan điểm của doanh nghiệp: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh trên
cơ sở chấp nhận rủi ro nhất định để thu được số lợi nhuận lớn hơn số vốn đã bỏ ra.
- Theo quan điểm của xã hội: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, chấp nhận rủi
ro nhất định nhằm thu được hiệu qủa nhất định vì mục tiêu phát triển quốc gia.
1.1.1.2. Vốn đầu tư
Tài sản của một quốc gia bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường, tài sản
được sản xuất ra và tích lũy lại trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nguồn nhân
lực và tri thức.
1.1.3. Phân loại đầu tư
1.1.3.1. Theo đặc điểm đầu tư
a. Đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người bỏ vốn tham gia trực tiếp vào quá
trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức
hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra (người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ
thể). Hoạt động đầu tư này có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng hợp tác, liên
doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…; Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
tại Việt Nam.
b. Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt đông kinh tế nhằm đem lại hiệu qủa
cho bản thân người bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu qủa cho bản thân
người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý
hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp thường được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín
phiếu,…
1.1.3.2. Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư
a. Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp; trong đó, việc bỏ vốn nhằm gia
tăng giá trị tài sản. Sự gia tăng giá trị tài sản trong đầu tư phát triển nhằm tạo ra những
năng lực mới hoặc cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực hiện có vì mục tiêu phát triển.
9
Đối với các nước đang phát triển, đầu tư phát triển có vai trò quan trọng hàng đầu;
là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng, tăng thu nhập quốc dân, tạo ra việc làm
và thu nhập cho người lao động như đầu tư để tạo mới, mở rộng, cải tạo hoặc nâng cấp
đường xá, cầu cống, doanh nghiệp sản xuất, cơ sở dịch vụ,…
b. Đầu tư dịch chuyển
Đầu tư dịch chuyển là phương thức đầu tư trực tiếp; trong đó, việc bỏ vốn nhằm
nghĩa chiến lược, lâu dài nhằm đảm bảo an toàn lương thực quốc gia và tỷ trọng giá trị
sản lượng nông nghiệp hợp lý trong GDP.
c. Đầu tư phát triển dịch vụ
Đầu tư phát triển dịch vụ là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công
trình dịch vụ (thương mại, khách sạn-du lịch, dịch vụ khác,…).
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư dịch vụ là xu thế phát triển nhằm
gia tăng tỷ trọng giá trị dịch vụ trong GDP ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
1.1.3.4. Theo tính chất đầu tư
a. Đầu tư theo chiều rộng (đầu tư mới)
Đầu tư mới là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm hình thành các công trình
mới. Trong đầu tư mới, cùng với việc hình thành các công trình mới, đòi hỏi có bộ máy
quản lý mới. Đầu tư mới có ý nghĩa quyết định trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế. Đầu tư mới đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, trình độ công nghệ và quản lý mới.
b. Đầu tư chiều sâu
Đầu tư chiều sâu là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm cải tạo, mở rộng,
nâng cấp, hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất, dịch vụ trên cơ sở các công
trình đã có sẵn.
Trong đầu tư chiều sâu, tiến hành việc cải tạo, mở rộng và nâng cấp các công trình
có sẵn, với bộ máy quản lý đã hình thành từ trước khi đầu tư.
11
Đầu tư chiều sâu là hình thức đầu tư ưu tiên đối với các nước đang phát triển trong
điều kiện còn thiếu vốn, công nghệ và quản lý. Đầu tư chiều sâu cần được xem xét trước
khi có quy định đầu tư mới.
c. Tận dụng năng lực sản xuất - dịch vụ
Trước khi quyết định đầu tư, dù là đầu tư mới hay đầu tư chiều sâu; cần đánh giá
đúng năng lực sản xuất - dịch vụ hiện có. Nếu năng lực sản xuất - dịch vụ của một ngành,
Tiết kiệm của ngân sách Nhà nước chính số chênh lệch dương giữa tổng các khoản
thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là các khoản thu thuế) với tổng chi tiêu dùng của
ngân sách. Tổng thu ngân sách sau khi chi cho các khoản chi thường xuyên, còn lại hình
thành nguồn vốn đầu tư phát triển.
Như vậy, vốn đầu tư của Nhà nước là một phần tiết kiệm của ngân sách để chi cho
đầu tư phát triển. Nguồn vốn này phụ thuộc vào khả năng tập trung thu nhập quốc dân
vào ngân sách và quy mô chi tiêu dùng của Nhà nước.
Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn chế bởi yếu
tố về thu nhập bình quân đầu người, do đó để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng
đầu tư đòi hỏi Nhà nước phải gia tăng tiết kiệm NSNN trên cơ sở kết hợp chính sách thuế
và chi tiêu. Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng, ổn định và có tính định hướng cao đối
với các nguồn vốn đầu tư khác.
b. Vốn của doanh nghiệp
Tiết kiệm của doanh nghiệp là số lãi ròng có được từ kết qủa kinh doanh. Đây là
nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng
và chiều sâu. Qui mô của tiết kiệm doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố như hiệu quả
kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô,…
c. Vốn của dân cư
Vốn của dân cư là phần vốn của các hộ gia đình, các cá nhân và tổ chức đoàn thể
xã hội. Đây là phần còn lại của thu nhập sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế và sử dụng
cho mục đích tiêu dùng. Mức độ vốn của dân cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức thu
nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế và sự ổn định kinh tế vĩ
mô,…
13
Vốn của dân cư giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, do khả năng
chuyển hóa nhanh chóng thành nguồn vốn đầu tư thông qua các hình thức gửi tiết kiệm,
mua chứng khoán, trực tiếp đầu tư,… Vốn của dân cư cũng dễ dàng chuyển thành nguồn
đồng hợp tác kinh doanh; liên doanh góp vốn hay thành lập các doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài và các hình thức khác như đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp, khu
kinh tế cao, thực hiện những hợp đồng BT, BOT, BTO.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hình thành từ tiết kiệm của tư nhân và các công ty
nước ngoài đầu tư vốn vào nước khác nhằm khai thác lợi thế so sánh, tận dụng các yếu tố
lao động, tài nguyên của địa phương, tiết kiệm chi phí vận chuyển để tăng lợi nhuận cho
việc đầu tư.
Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang ý nghĩa
quan trọng trong việc tạo nên cú hích ban đầu cho sự tăng trưởng, phát triển kinh tế. Bên
cạnh nguồn vốn ngoại tệ, FDI còn mang theo công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả
năng tiếp cận thị trường thế giới. Vì vậy, thu hút FDI đang trở thành hình thức huy động
vốn phổ biến, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển.
b. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là những khoản đầu tư thực hiện thông qua các
hoạt động cho vay và viện trợ. Nguồn vốn có thể là của chính phủ các nước, có thể là của
các tổ chức quốc tế được huy động thông qua các hình thức cơ bản sau:
* Vốn tài trợ phát triển chính thức (Official Development Asistance - ODA)
Đây là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác phát triển do chính phủ các nước
ngoài hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức
phi chính phủ cho một nước tiếp nhận. Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ không hoàn
lại, các khoản vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, khối lượng vốn vay và thời hạn
thanh toán nhằm hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ các chương trình, dự án…
Nguồn vốn ODA tuy có ưu điểm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm
nghèo (phát triển cơ sở hạ tầng; thực hiện các chương trình xã hội, phát triển giáo dục
đào tạo và con người; phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nông nghiệp, nông thôn và
các địa phương có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) và hỗ trợ cải cách (cải cách chính sách
và thể chế; điều chỉnh cơ cấu và cải cách kinh tế; cải cách hành chính và luật pháp).
15
16
Đầu tư gián tiếp thông qua qua thị trường tài chính (FPI) có ưu điểm góp phần bổ
sung thêm nguồn vốn cho nền kinh tế cũng như thúc đẩy việc củng cố và cải tiến hoạt
động của các thị trường vốn nội địa. Điều này sẽ khiến cho vốn và các nguồn lực trong
nền kinh tế được phân bổ tốt hơn, tạo cơ hội đa dạng hóa danh mục đầu tư, cải thiện khả
năng quản lý rủi ro và thúc đẩy sự gia tăng của tiết kiệm và đầu tư với kết quả là nền kinh
tế sẽ trở nên vững mạnh hơn cà tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy.
Tuy nhiên, sự gia tăng mạnh mẽ và quá mức dòng vốn FPI thông qua hình thức
đầu tư này vào trong nước sẽ khiến cho nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng phát triển quá
nóng (bong bóng); sự di chuyển quá mức của dòng vốn FPI sẽ khiến cho hệ thống tài
chính trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng một khi gặp phải các cú sốc từ
bên trong cũng như bên ngoài nền kinh tế; đồng thời dòng vốn FPI cũng làm giảm tính
độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá gây nên những hậu qủa tiêu cực cho nền kinh tế..
Tóm lại, nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được sử dụng có hiệu qủa sẽ có
tác dụng thúc đẩy, khuyến khích và tạo điều kiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối
với các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là nguồn vốn rất quý
giá, cần phải tận dụng và khai thác có hiệu quả, tạo thành đòn bẩy kích thích tăng trưởng
kinh tế.
1.1.5. Các công cụ huy động vốn đầu tư
Huy động vốn đầu tư là quá trình tổ chức khai thác các nguồn lực tài chính đưa
vào phục vụ cho đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội. Chính vì thế, chính sách
huy động vốn là hướng vào nâng cao tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư từ các khu vực kinh tế để
gia tăng thêm khối lượng vốn mới cho nền kinh tế. Các công cụ huy động vốn thường
được sử dụng là:
1.1.5.1. Các công cụ thuộc chính sách tài chính – tiền tệ
a. Thuế
Thuế là công cụ để nhà nước huy động, tập trung các nguồn lực tài chính của xã
hội vào ngân sách dưới hình thức cưỡng chế, bắt buộc. Tạo lập nguồn thu cho NSNN là
nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA, phát hành trái phiếu của nhà nước trên thị
trường quốc tế. Tín dụng nhà nước là một kênh huy động vốn cần thiết và quan trọng để
bù đắp bội chi ngân sách và tạo nguồn vốn đầu tư. Tuy nhiên, việc vay nợ phải được
kiểm soát một cách chặt chẽ để tránh tình trạng vay quá giới hạn cho phép, dẫn đến áp
lực nặng nề của việc trả nợ cũng như mất cân đối giữa đầu tư của ngân sách và đầu tư của
18
khu vực doanh nghiệp và dân cư làm gia tăng lãi suất huy động vốn, gây hạn chế việc vay
vốn đầu tư.
Tín dụng ngân hàng là công cụ thu hút vốn nhãn rỗi của các doanh nghiệp và dân
cư để cho vay. Các ngân hàng thương mại và các tổ chức trung gian tín dụng bằng việc
cho vay những nguồn tiền huy động được đã cung cấp cho nền kinh tế một khoản vốn
đầu tư cần thiết để phát triển. Bên cạnh việc thực hiện nghiệp vụ vay và cho vay, các
ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư vốn dưới các hình thức đầu tư trực tiếp như
hùn vốn liên doanh, liên kết, thành lập công ty, xí nghiệp bằng vốn tự có của mình; hoặc
đầu tư gián tiếp như sử dụng các nguồn vốn huy động có thời hạn và vốn tự có để đầu tư
vào cổ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác, và hưởng thu nhập qua chênh lệch
giá trên thị trường thứ cấp.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế diễn ra ngày càng
sâu rộng, quá trình điều tiết và chu chuyển vốn đã vượt khỏi giới hạn của một quốc gia
làm hình thành các quan hệ tín dụng quốc tế, tín dụng không chỉ là một kênh quan trọng
thu hút vốn đầu tư từ trong nước mà còn là một nhân tố thúc đẩy huy động vốn đầu tư
nước ngoài.
c. Các quỹ hỗ trợ tài chính nhà nước
Là công cụ tài chính năng động để đa dạng hóa sự huy động các nguồn lực tài
chính của xã hội vào nhà nước, qua đó tiến hành hỗ trợ đầu tư ở một số lĩnh vực hay hoạt
động có tính chất ưu tiên cần khuyến khích nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã
hội.
nước nhưng nó có tác động đến việc làm mở rộng hay thu hẹp nguồn vốn đầu tư mà nhà
nước cung ứng cho nền kinh tế cũng như làm biến đổi quy mô tiết kiệm - đầu tư của khu
vực kinh tế tư nhân thông qua việc phân phối nguồn lực tài chính tập trung thành 2 quỹ
tiêu dùng và quỹ đầu tư.
b. Các công cụ tài chính thuộc chính sách tiền tệ
+ Lãi suất
Trên thị trường tài chính, lãi suất được xem như là giá cả của tín dụng. Trên góc
độ kinh tế vĩ mô, lãi suất là công cụ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Do
20
đó, lãi suất ít nhạy cảm với quan hệ cung cầu về vốn. Một khi có sự mất cân đối quan hệ
cung cầu vốn thì diễn ra quá trình phân phối lại thu nhập giữa người đi vay và cho vay
thông qua sự thay đổi tăng hay giảm lãi suất. Chính đặc tính này mà lãi suất có tác động
đến sự phân phối nguồn tài chính xã hội trong mối tương quan giữa tiết kiệm và đầu tư.
Trong ngắn hạn, lãi suất càng cao thì khích lệ công chúng hạn chế tiêu dùng trong
hiện tại để tăng tiết kiệm trong thu nhập. Qua đó, từ khoản tiết kiệm này, họ sẽ chọn
hướng đầu tư vào hoạt động tài chính khi thấy có lợi hơn. Ngược lại, ở mức lãi suất cao
sẽ làm hạn chế các doanh nghiệp đi vay vốn để đầu tư do khi đó thu nhập có được từ các
dự án đầu tư khó bù được số lãi phải trả cho số tiền cho vay. Tình trạng này kéo dài sẽ
dẫn đến đầu tư của xã hội giảm.
+ Thị trường mở
Là hoạt động mà NHTƯ tham gia vào mua bán chứng khoán trên thị trường tài
chính để thực hiện chính sách tiền tệ. Bằng công cụ này, NHTƯ thực hiện thay đổi mức
cung tín dụng của các TCTD theo hướng mở rộng hay thu hẹp. Khi nền kinh tế mở cần
mở rộng mức cung tiền tệ, NHTƯ thực hiện nghiệp vụ mua bán chứng khoán và ngược
lại.
Đối với một nền kinh tế phát triển, công cụ thị trường mở đã tô thêm vẻ đẹp cho
thị trường tài chính và trở thành công cụ có tính chủ đạo được NHTƯ sử dụng thường
+ Du lịch là một hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi có liên quan đến
sự di cư và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất
và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc hoạt động thể thao kèm theo việc
tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ.
+ Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của bốn nhóm du khách, cơ quan
cung ứng du lịch, chính quyền và dân cư tại nơi đến du lịch tạo nên.
+ Du lịch là một tập hợp các hoạt động, các dịch vụ và nghề nghiệp nhằm tạo ra
một kinh nghiệm du lịch, chẳng hạn như vận chuyển, các cơ sở lưu trú và ăn uống, các
cửa tiệm, các tiện nghi vui chơi giải trí và các dịch vụ phục vụ khách.
+ Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại
và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường ngày với lý do giải trí, kinh doanh, sức
khỏe, hội họp, thể thao hợac tôn giáo.
22
+ Du lịch là đi khỏi nơi cư trú để tham quan phong cảnh, tìm nguồn vui thanh thản
tinh thần.
+ Du lịch được coi chủ yếu là một hoạt động nhàn rỗi liên quan đến việc du hành
khỏi nơi cư trú của một người nhưng trong một số trường hợp, nó cũng bao gồm các hoạt
động như du lịch kinh doanh, tham dự hội nghị và viếng thăm bạn bè và người thân.
+ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường
xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến cư trú không phải là
là nơi làm việc của họ.
Nếu xem xét du lịch như là hiện tượng nhân văn, hiện tượng xã hội làm phong phú
thêm nhận thức và cuộc sống con người. Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism
Organization - WTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch bao gồm những hoạt động của
những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời hạn
không quá một năm liên tục để vui chơi, vì công việc hay vì mục đích khác không liên
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Quốc tế, khách viếng (visitors) là những
người rời khỏi nơi cư trú của mình đến nơi khác không quá một năm và không vì mục
đích kiếm tiền; du khách (tourists) là những khách viếng có lưu trú qua hơn một đêm tại
nơi đến; khách viếng trong ngày (same-day visitors) là những khách viếng không có lưu
trú qua đêm tại nơi đến.
Khách du lịch quốc tế là những khách mà nơi cư trú là một quốc gia khác với quốc
gia nơi đến du lịch. Khách du lịch nội địa là những khách mà quốc gia nơi cư trú cũng là
quốc gia nơi đến tham quan du lịch, bao gồm cả những người nước ngoài nhưng đang cư
trú tại quốc gia đó.
1.2.1.4. Khái niệm khu du lịch, điểm du lịch và tuyến du lịch:
* Khu du lịch là một không gian địa lý bao gồm diện tích mặt đất, mặt nước, là nơi
có tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên được
quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại
hiệu qủa kinh tế - xã hội. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi
trường, sinh thái (bãi biển, sông hồ, núi, rừng cây…) và những tài nguyên nhân văn như
các di sản văn hóa, lịch sử, các công trình kiến trúc, các gía trị văn hoá phi vật thể. Khu
24
du lịch phải có quy mô cần thiết. Khu du lịch gồm khu du lịch quốc gia và khu du lịch địa
phương.
* Điểm du lịch quốc gia là nơi có một vài tài nguyên du lịch hấp dẫn hoặc công
trình riêng biệt phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.
* Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp
dịch vụ du lịch gắn với các tuyên giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường
hàng không nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
1.2.1.5. Tài nguyên và môi trường du lịch
* Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân
văn đang được khai thác và chưa được khai thác.
các nguồn tài nguyên theo một cách nào đó để vừa đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội,
thẩm mỹ trong khi vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng
sinh học và các hệ thống đảm bảo sự sống”.
* Theo Luật Du lịch năm 2005 của Việt Nam, phát triển du lịch bền vững là sự
phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng
nhu cầu về du lịch của tương lai. Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo các nguyên tắc
sau:
- Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữa
kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn
hoá - lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch.
- Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an
toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du
lịch.
- Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát
triển du lịch.
- Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh
đất nước, con người Việt Nam.
- Phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút
ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam.