Ảnh hưởng của giới tính kiểm toán viên đến chất lượng kiểm toán – nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
-----------0o0-----------

NGUYỄN THỊ NGỌC CẦM

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH KIỂM TOÁN VIÊN ĐẾN CHẤT LƯỢNG
KIỂM TOÁN – NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
-----------0o0-----------

NGUYỄN THỊ NGỌC CẦM

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH KIỂM TOÁN VIÊN ĐẾN CHẤT LƯỢNG
KIỂM TOÁN – NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán (Hướng nghiên cứu)
Mã ngành: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN KHÁNH LÂM

3. Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................................... 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 2
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 3
6. Những đóng góp của đề tài........................................................................................ 3
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................................. 3
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.............................. 5
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán và ảnh hưởng của
giới tính đến chất lượng kiểm toán .................................................................................. 5
1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài ................................................................................ 5
1.1.1.1. Các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán ..................................................... 5
1.1.1.2. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính KTV tới chất lượng kiểm toán
................................................................................................................................. 12
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước ............................................................................... 19
1.1.2.1. Các nghiên cứu về các đặc điểm cá nhân KTV ảnh hưởng đến chất lượng
kiểm toán ................................................................................................................. 19


1.1.2.2. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính ............................................... 21
1.2. Xác định khe hổng nghiên cứu................................................................................ 22
1.2.1. Nhận xét tổng quan nghiên cứu những nghiên cứu trước ................................ 22
1.2.2. Xác định khe hổng nghiên cứu ......................................................................... 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................................ 24
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT .............................................................................. 25
2.1. Các khái niệm căn bản ............................................................................................ 25
2.1.1. Định nghĩa chất lượng ...................................................................................... 25
2.1.2. Định nghĩa CLKT ............................................................................................. 26
2.1.3. Khuôn mẫu CLKT ............................................................................................ 26
2.2. Các lý thuyết nền tảng ............................................................................................. 30
2.2.1. Lý thuyết ủy nhiệm ........................................................................................... 30
2.2.2. Lý thuyết đồng cảm (Empathy theory) và lý thuyết xã hội hóa vai trò giới tính

4.4. Nghiên cứu mở rộng ............................................................................................... 63
4.4.1. Nghiên cứu mở rộng thứ nhất: Sử dụng biến trình bày lại để đo lường CLKT 63
4.4.2. Nghiên cứu mở rộng thứ hai: Phân tích với một mẫu thay đổi ........................ 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ................................................................................................ 69
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 70
5.1. Bàn luận kết quả ...................................................................................................... 70
5.2. Gợi ý các chính sách ............................................................................................... 72
5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo ........................................ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Nội dung

AO

Audit opinion – Ý kiến kiểm toán

BCKQHĐKD

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCKT

Báo cáo kiểm toán

BCTC

Going concern opinion – Ý kiến kiểm toán có đoạn nhấn
mạnh về khả năng hoạt động liên tục

GĐTC

Giám đốc tài chính

HĐKD

Hoạt động kinh doanh

HĐQT

Hội đồng quản trị

IAASB

International Auditing and Assurance Standards Board - Ủy
ban chuẩn mực kiểm toán quốc tế

KSCL

Kiểm soát chất lượng

KTV

Kiểm toán viên

LCTT


Chuẩn mực kế toán Việt Nam


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt các biến ........................................................................................ 44
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả cho các biến trong mô hình (1) ....................................... 52
Bảng 4.2: Bảng hệ số tương quan của mô hình (1) ........................................................... 54
Bảng 4.3: Bảng hệ số phóng đại phương sai (VIF) của mô hình (1) ................................ 57
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định Hausman của mô hình (1) .................................................. 57
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định F - test của mô hình (1) ...................................................... 58
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định Wald test - Kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi ........ 58
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Wooldridge – kiểm tra hiện tượng tự tương quan .............. 59
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình (1) ............................................................................. 60
Bảng 4.9: Bảng dấu của các biến kiểm soát trong mô hình (1) ......................................... 63
Bảng 4.10: Bảng thống kê mô tả cho biến trong mô hình (2) ........................................... 64
Bảng 4.11: Hệ số tương quan của các biến trong mô hình (2) .......................................... 65
Bảng 4.12: Hệ số phóng đại phương sai của mô hình (2) ................................................. 65
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy logistic cho mô hình nghiên cứu mở rộng thứ nhất ............. 66
Bảng 4.14: Kết quả hồi quy nghiên cứu mở rộng thứ hai ................................................. 68


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu .......................................................................................... 35
Hình 3.2 Sơ đồ tổng quan về mối quan hệ giữa các đặc điểm cá nhân, đặc điểm của cá
nhân KTV, quá trình đánh giá và ra quyết định của KTV và CLKT ................................ 46


TÓM TẮT
Chúng ta có nên mong đợi một sự ảnh hưởng của giới tính kiểm toán viên đến chất
lượng dịch vụ kiểm toán? Các nghiên cứu trước đã đưa ra những kết quả khác nhau cho

bối, đặc biệt là vụ Enron, các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách đã đặc biệt
quan tâm đến chất lượng dịch vụ kiểm toán, thể hiện ở việc Đạo luật SOX được ban hành
năm 2002, hay gần đây là Khuôn mẫu về CLKT do IAASB ban hành năm 2014 và Chỉ
thị 2014/56/EU về CLKT. Bên cạnh đó, có rất nhiều nghiên cứu về chủ đề này được thực
hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Đó là các nghiên cứu về cách định nghĩa, đo lường, và đặc
biệt là các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT.
Ban đầu, các nghiên cứu thường được thực hiện ở cấp độ công ty, ví dụ như
nghiên cứu về ảnh hưởng quy mô, danh tiếng của công ty, các hoạt động kiểm soát chất
lượng của công ty kiểm toán,… đến CLKT. Sau đó, DeFond và J. Francis (2005) chỉ ra
rằng các nghiên cứu về CLKT cần được đẩy xuống thấp hơn, từ cấp độ công ty xuống
cấp độ cá nhân KTV, bởi vì KTV riêng lẻ có thể khác nhau về cả hai yếu tố quyết định
chất lượng, tính độc lập và năng lực kiểm toán. Theo Mark Nelson và Hun Tong Tan
(2005) thì KTV cần thực hiện nhiều công việc khác nhau để có thể đưa ra ý kiến kiểm
toán thích hợp. Như vậy, các thuộc tính cá nhân khác nhau của KTV (ví dụ: giới tính, kỹ
năng và tính cách) sẽ có ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán. Cá nhân KTV cũng có thể
đóng một vai trò quan trọng trong việc ra quyết định trong quá trình kiểm toán. Các thuộc
tính cá nhân của các KTV riêng lẻ như phản ứng với rủi ro, kinh nghiệm và động cơ có
thể có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT.
Dựa trên tài liệu tâm lý học, gần đây, một số nhà nghiên cứu (ví dụ Gold và cộng
sự, 2009) đã chỉ ra rằng có sự khác biệt giới tính trong đặc điểm cá nhân của KTV (ví dụ:
cách phản ứng với rủi ro), dẫn đến sự khác nhau trong cách đánh giá và quyết định của
KTV. Vì kiểm toán vốn dĩ là một quá trình đánh giá và ra quyết định, do đó CLKT phụ
thuộc vào chất lượng của đánh giá và quyết định của KTV (Knechel, 2000). Vì vậy mà
CLKT phụ thuộc vào sự thay đổi các đặc điểm của KTV thông qua khả năng phát hiện


2
và báo cáo sai sót trọng yếu phụ thuộc vào chuyên môn kỹ thuật, khả năng giải quyết vấn
đề, cách phản ứng và khẩu vị rủi ro và kinh nghiệm.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về cá c đặc điểm của cá nhân KTV ảnh hưởng đến

chưa niêm yết) trong giai đoạn 5 năm từ 2014 đến 2018. Dữ liệu thu thập được lấy trên
Báo cáo thường niên, Báo cáo kiểm toán và BCTC đã được kiểm toán. Phạm vi dữ liệu
nghiên cứu không bao gồm các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, các ngân hàng và
công ty bảo hiểm vì các đối tượng này lập và trình bày BCTC theo chế độ kế toán khác
với chế độ kế toán dành cho các công ty.


3
CLKT được đo lường bằng nhiều thước đo khác nhau. Ở bài luận văn này, tác giả
đo lường CLKT thông qua chất lượng BCTC được đo lường bằng thước đo các biến dồn
tích bất thường và thước đo trình bày lại BCTC.
5.

Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đưa ra, bài luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định

lượng, phân tích các dữ liệu thứ cấp, đó là các thông tin liên quan đến các KTV và các
khách hàng của họ. Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể mà luận văn sử dụng là:

6.

-

Phân tích thống kê mô tả.

-

Phân tích tương quan.

-

4
-

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương này sẽ trình bày về tổng quan và nhận xét nội dung của các công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện có liên quan đến đề tài đồng thời xác định
những kết quả đạt được và xác định khe hỏng nghiên cứu.
-

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương này sẽ trình bày về các khái niệm nền tảng như CLKT, giới tính.
Ngoài ra chương này còn trình bày các lý thuyết nền tảng giải thích sự ảnh hưởng
của giới tính KTV đến CLKT, ví dụ như lý thuyết đại diện giải thích tại sao phải yêu cầu
CLKT cao hay lý thuyết về đồng cảm để giải thích về các biểu hiện của giới tính của
KTV.
-

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Từ phần tổng quan các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết, chương này sẽ trình
bày về: các giả thuyết nghiên cứu, đề xuất phương pháp nghiên cứu, xây dựng mô hình
nghiên cứu, mẫu nghiên cứu và mô tả các biến cũng như phương pháp kiểm định để giải
quyết cụ thể cho mục tiêu nghiên cứu đưa ra.
-

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này sẽ trình bày về kết quả nghiên cứu thu được và bàn luận kết quả này.

chất lượng BCTC. Tuy nhiên, ý kiến kiểm toán không có nghĩa là chỉ ra mức độ CLKT.
Thay vào đó, nó thông báo sự đảm bảo của KTV rằng BCTC tuân thủ GAAP. CLKT đề
cập đến chất lượng của ý kiến KTV (tức là mức độ đảm bảo), chứ không phải ý kiến.
Chất lượng ý kiến của KTV có thể khác nhau, với các KTV chất lượng cao cung cấp sự
đảm bảo cao hơn rằng BCTC phản ánh trung thực tình hình kinh tế cơ bản của công ty.
CLKT là một thành phần của chất lượng BCTC, bởi vì CLKT cao làm tăng độ tin
cậy của BCTC. Sự tín nhiệm tăng lên này phát sinh thông qua sự đảm bảo lớn hơn rằng
BCTC phản ánh trung thực tình hình của công ty. Tuy nhiên, CLKT không phải là thành
phần duy nhất của chất lượng BCTC. Chất lượng BCTC cũng bị ảnh hưởng bởi chất
lượng của BCTC trước kiểm toán, vốn là đầu vào của quy trình kiểm toán. Chất lượng


6
của báo cáo trước kiểm toán bị ảnh hưởng thêm bởi hệ thống BCTC của công ty, thể hiện
tình hình kinh tế vào BCTC cũng như là các đặc điểm vốn có của doanh nghiệp. Do đó,
chất lượng BCTC (FRQ) là một hàm số của CLKT (AQ), chất lượng của hệ thống BCTC
(R) và các đặc điểm vốn có của doanh nghiệp (I). Được thể hiện như sau: FRQ = f(AQ,
R, I).
CLKT rất khó để đo lường vì mức độ đảm bảo mà dịch vụ kiểm toán cung cấp
không thể quan sát được. Bài nghiên cứu đưa ra các cách đo lường CLKT như đo lường
dựa trên đầu ra như các sai sót trọng yếu (có dẫn đến trình bày lại BCTC), ý kiến kiểm
toán, chất lượng BCTC và đo lường dựa trên đầu vào như đặc điểm của công ty kiểm
toán, như quy mô của công ty kiểm toán (auditor size), có phải là thành viên của Big N
hay không? Đây có thể dùng làm một thước đo cho CLKT vì những công ty kiểm toán
càng lớn thì càng có động cơ và sự cạnh tranh để cung cấp CLKT cao hơn (DeAngelo,
1981). Đặc điểm của hợp đồng kiểm toán như phí kiểm toán cũng được dùng để đo
CLKT bởi họ muốn thông qua phí kiểm toán có thể đo lường được mức độ cố gắng của
KTV, một yếu tố đầu vào trong quá trình kiểm toán có liên quan một cách trực quan đến
CLKT. Bài nghiên cứu cũng dẫn ra mô hình thường được dùng để đo CLKT.
AQ = α + β x (Treatment variable) +∑𝒏𝒊=𝟏 𝜸 x (Control variablei) + ε

gồm các trách nhiệm rộng lớn của KTV và công nhận rõ ràng CLKT là một thành phần
của chất lượng BCTC. Thứ hai, họ xem xét các mô hình CLKT thường được sử dụng và
kết luận rằng nghiên cứu trong tương lai sẽ được hưởng lợi từ hướng dẫn cơ sở luận
(conceptual guidance) nhiều hơn trong việc giải quyết mối quan hệ phức tạp giữa CLKT
và chất lượng BCTC. Thứ ba, họ nhận thấy rằng các nghiên cứu trước tập trung chủ yếu
vào khả năng cung cấp CLKT của KTV mà ít chú ý đến yếu tố nhu cầu của khách hàng.
Vì vậy, họ khuyến khích các nhà nghiên cứu trong tương lai tiếp tục mở rộng kiến thức
về các yếu tố phía cầu. Thứ tư, họ lưu ý rằng các nghiên cứu trước đây thường tập trung
vào các động cơ thúc đẩy CLKT mà ít chú ý đến năng lực. Các nghiên cứu về chuyên
môn của ủy ban kiểm toán khách hàng và chuyên môn ngành kiểm toán là ngoại lệ, và họ
kêu gọi các nhà nghiên cứu trong tương lai khám phá các yếu tố bổ sung liên quan đến
năng lực. Cuối cùng, họ quan sát thấy nguy cơ rất cao sự can thiệp pháp lý nhắm vào cả
động cơ và năng lực của KTV để cung cấp và đáp ứng nhu cầu yêu cầu CLKT của khách


8
hàng. Do đó, nghiên cứu trong tương lai tìm cách hiểu rõ hơn về quy trình quản lý là rất
quan trọng để hiểu được ảnh hưởng của nó đối với CLKT.
Hoa Pham, Pesi Amaria, Thanh Bui, Sang Tran (2014) đã thực hiện bài nghiên
cứu về CLKT tại Việt Nam. Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra nhận thức của KTV
về CLKT và các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT tại Việt Nam. Nghiên cứu này đã cố gắng
nâng cao hiểu biết của KTV về CLKT, năng lực KTV và tính độc lập của KTV.
Với bảy câu hỏi nghiên cứu xoay quanh các vấn đề liên quan đến những ảnh
hưởng của quy mô công ty kiểm toán, các yếu tố thuộc về công ty kiểm toán (doanh thu),
làm việc cho khách hàng của công ty sau khi thực hiện kiểm toán (employment with
client of the audit firm), KTV là chuyên gia trong ngành/ lĩnh vực sẽ kiểm toán, chuyên
môn, năng lực của KTV, cạnh tranh, nhiệm kỳ, việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán
tới CLKT và phạm vi (dimension) ảnh hưởng của chúng?
Kết quả từ phân tích tương quan và mô tả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến
CLKT tại Việt Nam. Thứ nhất, đấu thầu cạnh tranh để tham gia kiểm toán ảnh hưởng đến

khác biệt về cách thực hiện kiểm toán giữa các cá nhân do chuyên môn hóa.
Các nghiên cứu dựa trên đầu ra là ý kiến kiểm toán, quá trình kiểm toán là môi
trường, quá trình thực hiện kiểm toán, dự đoán và quản trị doanh thu và đầu vào là nhận
thức của KTV.
Các khía cạnh của tổ chức bao gồm công ty và đội ngũ kiểm toán.
Quan điểm về hành vi và CLKT: giảm CLKT, đạo đức, mối quan hệ giữa hành vi
và đạo đức của KTV, chất lượng dịch vụ, chất lượng kỹ thuật, danh tiếng, kinh nghiệm,
năng lực và độc lập.
Các nhận thức của các bên khác về CLKT như nhận thức của cổ đông, nhà phân
tích, chủ tịch ủy ban kiểm toán, khách hàng,…
DeFond và Francis (2005) xác định một số lĩnh vực chủ chốt, thảo luận một số vấn
đề nghiên cứu, và cung cấp một số gợi ý cho các nhà nghiên cứu sau khi Đạo luật SOX
được ban hành. Trong lịch sử, nghề kiểm toán thường bị chỉ trích dữ dội sau các cuộc
khủng hoảng kinh tế, những lời chỉ trích thể hiện trong SOX rất dữ dội. Họ khuyến khích
các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp khoa học để mang lại sự nghiêm ngặt và kỷ
luật để giải quyết những chỉ trích ngầm trong SOX. Tuy nhiên, họ lưu ý rằng các nhà


10
nghiên cứu kiểm toán phải hết sức cẩn thận để duy trì sự độc lập của họ với nghề kiểm
toán, tránh bị tổn hại về uy tín cũng như niềm tin.
SOX chuyển đổi kiểm toán từ một ngành tự điều chỉnh được giám sát bởi một cơ
quan chính phủ, Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC), sang một ngành mà hiện
được kiểm soát trực tiếp bởi một cơ quan chính phủ, Ủy ban Giám sát Kế toán Công ty
đại chúng (PCAOB). Vì vậy, họ khuyến khích các nhà nghiên cứu tập trung vào các vấn
đề liên quan đến thay đổi cơ bản này, có bằng chứng trực tiếp nào cho thấy việc thiếu tự
giám sát hoặc thiết lập tiêu chuẩn kém đã góp phần vào những thất bại kế toán và kiểm
toán gần đây không? Trong tương lai, có nên kỳ vọng những thay đổi về thể chế do SOX
ủy nhiệm để cải thiện chất lượng kiểm toán không, và vai trò và tầm quan trọng của kiện
tụng trong việc duy trì chất lượng kiểm toán như thế nào.

công ty hoặc nhóm KTV khác nhau. Nghiên cứu này mặc nhiên giả định rằng tất cả các
cuộc kiểm toán đều đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý và chuyên môn tối thiểu (tất nhiên trừ
trường hợp thất bại kiểm toán hoàn toàn), và do đó nghiên cứu tập trung vào CLKT khác
biệt trên mức tối thiểu theo yêu cầu pháp lý.
Bài nghiên cứu này đã cho thấy rằng hóa ra chúng ta biết nhiều hơn về CLKT hơn
chúng ta tưởng:
+ Bằng chứng chỉ ra rằng tỷ lệ thất bại kiểm toán hoàn toàn không thường xuyên,
ít hơn 1% hàng năm và phí kiểm toán khá nhỏ, chưa đến 0,1% tổng doanh thu của khách
hàng. Điều này cho thấy có thể có một mức CLKT chấp nhận được với chi phí tương đối
thấp. Thất bại kiểm toán với hậu quả kinh tế nghiêm trọng là rất không thường xuyên.
+ Cũng có bằng chứng về CLKT khác biệt (trên mức tối thiểu theo yêu cầu pháp
lý) cùng với một số khía cạnh như quy mô doanh nghiệp, chuyên môn hóa ngành, đặc
điểm văn phòng và sự khác biệt giữa các quốc gia trong hệ thống pháp lý và trách nhiệm
của KTV. Tuy nhiên, không biết mức độ tối ưu của CLKT là bao nhiêu?
+ BCKT mang nhiều thông tin, có sự hiện diện của cả thông tin tích cực và tiêu
cực;
+ CLKT gắn liền với chất lượng thu nhập;
+ CLKT bị ảnh hưởng bởi các chế độ pháp lý và các ưu đãi, động cơ mà họ tạo ra;


12
+ Có bằng chứng về sự khác biệt trong CLKT của các công ty Big 4 và giữa các
văn phòng của các công ty Big 4 và qua các chế độ pháp lý khác nhau;
+ Nghiên cứu học thuật ít có tác động đến các quy định và hoạch định chính sách
ở Mỹ, mặc dù nó có thể có ảnh hưởng nhiều hơn ở các quốc gia khác như Anh;
+ Cuối cùng, trong khi các cải cách đã thu hẹp phạm vi của các dịch vụ phi kiểm
toán do lo ngại độc lập, một trường hợp có thể được đưa ra là CLKT sẽ luôn bị nghi ngờ
nếu các dịch vụ khác được cung cấp có khả năng ảnh hưởng đến tính khách quan và sự
hoài nghi của KTV.
Favere – Marchesi, M. (2000) đã nghiên cứu về CLKT tại các nước ASEAN. Đầu

lập của KTV. Nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm với mẫu nghiên cứu lớn
gồm 9.861 quan sát là các BCKT và BCTC đã được kiểm toán đính kèm của các công ty
niêm yết của Trung Quốc trong giai đoạn 2011 – 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng
CLKT của KTV nam vượt xa KTV nữ. Tác giả còn phân tích kỹ hơn khi phân tích khách
hàng điều chỉnh tăng thu nhập thì CLKT ngang bằng giữa KTV nam và nữ, nhưng khi
khách hàng điều chỉnh giảm thu nhập thì CLKT của KTV nữ thấp hơn đáng kể so với
KTV nam. Sau khi kiểm soát độ tuổi và vị trí của KTV, tác giả cũng thấy rằng sự khác
biệt về giới tính KTV ảnh hưởng đến CLKT giảm đáng kể hoặc thậm chí biến mất khi
KTV vượt 45 tuổi và / hoặc vị trí của họ là người quản lý trở lên.
Khlif, H., & Achek, I, (2017), đã tổng hợp các nghiên cứu về các vấn đề về giới
tính trong các nghiên cứu về kế toán trong giai đoạn 1994-2016. Trong 25 năm đã có 64
bài nghiên cứu được công bố. Có ba luồng nghiên cứu chính về giới tính trong lĩnh vực
kế toán liên quan đến BCTC (ảnh hưởng của giới tính đến chất lượng thu nhập, tính bảo
thủ và mức độ công bố thông tin tự nguyện), trong kiểm toán (ảnh hưởng của giới tính
đến phí kiểm toán, ý kiến kiểm toán, độ trễ BCKT) và các chủ đề hỗn hợp khác. Các
nghiên cứu về giới tính trong kế toán thường sử dụng phân tích thực nghiệm, dựa theo
kinh nghiệm và phỏng vấn. Phần lớn các nghiên cứu (92%) được thực hiện ở các nền
kinh tế phát triển, ảnh hưởng của giới tính đã được thể hiện thông qua đại diện nữ trong
các bộ máy quản trị nội bộ (BGĐ, ủy ban kiểm toán) (Gul và cộng sự, 2011; Kyaw và
cộng sự, 2015), quản lý cấp cao (CEO, GĐTC) (Harjoto và cộng sự, 2015; Francis và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status