BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----oOo-----
DƯƠNG THỊ HIỀN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ỨNG DỤNG HIỆP ƯỚC BASEL II
TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA
CÁC NHTM VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----oOo-----
DƯƠNG THỊ HIỀN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ỨNG DỤNG HIỆP ƯỚC BASEL II
TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA
CÁC NHTM VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính Ngân Hàng
Mã số
: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.1.1.4.Rủi ro tác nghiệp .......................................................................................... 2
1.1.2. Quản trị rủi ro. Sự cần thiết của quản trị rủi ro: .................................................. 2
1.1.2.1. Quản trị rủi ro trong hoạt động NHTM: ....................................................... 2
1.1.2.2. Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong hoạt động NHTM ............................... 4
1.2. Hiệp ước Basel trong quản trị rủi ro ngân hàng ......................................................... 5
1.2.1. Hiệp ước Basel I ................................................................................................ 5
1.2.2. Bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hoạt động ngân hàng................................. 8
1.2.3. Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro ngân hàng ............................................... 8
1.2.4. Nội dung của Basel II......................................................................................... 9
1.2.4.1. Trụ cột thứ nhất – Các yêu cầu vốn tối thiểu ................................................ 9
1.2.4.2. Trụ cột thứ hai - Tăng cường cơ chế giám sát, đặc biệt là việc đánh giá chất
lượng quản lý rủi ro của ngân hàng ........................................................................ 14
1.2.4.3. Trụ cột thứ ba – Tuân thủ kỷ luật thị trường .............................................. 15
1.2.5. Phạm vi và lộ trình áp dụng Basel II................................................................. 15
1.2.6. Thiếu sót của Basel I cùng những sửa đổi của Basel II so với Basel I ............... 16
1.2.7. Tính hữu ích của việc vận dụng Basel II trong quản trị rủi ro của các NHTM... 19
Kết luận chương 1 ......................................................................................................... 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG BASEL II TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO
TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM .................................................................................... 21
2.1. Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM VN ...................................................... 21
2.2. Nhận diện rủi ro trong hoạt động của hệ thống NHTM VN hiện nay – Nguyên nhân
và tác động .................................................................................................................... 27
2.2.1. Rủi ro tín dụng ................................................................................................. 27
2.3. Hoạt động quản trị rủi ro của các NHTM VN thời gian qua .................................... 33
iii
2.3.1. Quản trị rủi ro tín dụng..................................................................................... 33
2.3.2. Quản trị rủi ro thanh khoản .............................................................................. 35
2.3.3.Quản trị rủi ro ngoại hối .................................................................................... 36
3.3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ............................................................... 65
3.3.3. Hoàn thiện hệ thống thông tin .......................................................................... 66
3.3.4. Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin .............................................................. 67
3.3.5. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán ............................... 67
3.3.6. Khuyến khích tính chủ động, giám sát và minh bạch thông tin ......................... 68
iv
3.3.7. Cải tiến quy trình quản trị rủi ro ....................................................................... 68
Kết luận chương 3 ......................................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 71
PHỤ LỤC..................................................................................................................... 73
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
CAR: Tỷ lệ vốn tối thiểu
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN: Ngân hàng nhà nước
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
RWA: Tài sản có rủi ro
TCTD: Tổ chức tín dụng
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Trọng số rủi ro theo loại tài sản ............................................................ 7
hệ thống ngân hàng, các loại rủi ro đã và đang phát triển cùng với sự phát triển các
loại hình sản phẩm dịch vụ ngân hàng, trong khi đó cơ chế quản lý và hệ thống
thông tin giám sát ngân hàng còn rất đơn giản, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế,
chưa có hiệu quả và hiệu lực để bảo đảm việc tuân thủ nghiêm pháp luật về ngân
hàng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng, nhất là trong việc ngăn chặn và cảnh
báo sớm các rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, các ngân hàng Việt Nam
còn gặp phải một số khó khăn về mặt pháp lý, hệ thống pháp luật trong nước, thể
chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và nhất quán, còn nhiều bất cập so
với yêu cầu hội nhập quốc tế về ngân hàng.
Vì vậy, việc nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị rủi ro nhằm đảm bảo
phát triển bền vững là nhiệm vụ cấp bách đối với tất cả NHTM. Cần tiếp cận với
các thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Một trong những điều
ước quốc tế được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quan tâm chính là hiệp ước
quốc tế về an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng – còn được biết thông dụng với
tên gọi Hiệp ước Basel, đã được rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng làm chuẩn
mực để đánh giá và giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng nước mình. Hiện
nay hiệp ước Basel đã có phiên bản hai, phiên bản ba cập nhật, đổi mới một số nội
dung hơn so với phiên bản thứ nhất trước đó. Riêng đối với Việt Nam, việc ứng
dụng hiệp ước Basel trong công tác giám sát và quản trị ngân hàng vẫn còn nhiều
vii
vướng mắc, nên vẫn chỉ mới dừng lại ở việc lựa chọn một số tiêu chí đơn giản
trong phiên bản thứ nhất của hiệp ước để vận dụng và vẫn chưa tiếp cận nhiều với
phiên bản hai, phiên bản ba. Điều này thực tế cũng gây khó khăn ít nhiều cho quá
trình hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng của chúng ta. Basel II sắp tới sẽ không chỉ
có các nước phát triển áp dụng mà là cả các thị trường mới nổi, trong đó có Việt
Nam sẽ phải thực hiện những quy định chung này. Do đó, cần thiết phải nghiên
cứu các tư tưởng cơ bản của Basel để có thể vận dụng đơn giản hơn nhưng vẫn
Ngoài ra, hệ thống cơ sở dữ liệu thứ cấp cũng được sử dụng có chọn lọc nhằm giúp
đề tài có thể phân tích và đánh giá vấn đề một cách khách quan nhất. Nguồn dữ
liệu thứ cấp này chủ yếu được thu thập từ các báo cáo ngành và báo cáo thường
niên của ngân hàng Nhà nước, của các NHTM do chính tác giả tổng hợp và xử lý
theo yêu cầu của từng chuyên mục. Ngoài ra, nguồn số liệu từ các tạp chí chuyên
ngành có uy tín như Tạp chí Tài chính, tạp chí Ngân hàng, tạp chí Thị trường tiền
tệ, Thời báo Kinh tế Việt Nam và các website của cơ quan nhà nước, chính quyền
thành phố… cũng được sử dụng làm nguồn dữ liệu thứ cấp cho đề tài.
5. Nội dung đề tài
Đề tài được trình bày trong phạm vi bốn chương:
Mở đầu: Giới thiệu đề tài, bao gồm các nội dung liên quan đến việc làm rõ đối
tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử
dụng trong đề tài và khả năng áp dụng đề tài trong thực tế.
Chương 1: Hiệp ước Basel II và vấn đề quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro của các
NHTM Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng Hiệp ước Basel II trong quản trị
rủi ro của các NHTM Việt Nam.
6. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu
Sau quá trình nghiên cứu và nhận được sự góp ý của các thầy cô để hoàn thiện
hơn, hy vọng rằng đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu trong lĩnh
vực giám sát và quản trị hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, các cơ quan thanh tra và giám sát ngân hàng nhà nước, các cơ quan chịu
trách nhiệm quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại cũng có thể xem xét
sử dụng những thông tin nghiên cứu của đề tài nhằm hoàn thiện hơn quy trình
thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng.
1
1.1.1.3. Rủi ro thị trường
Là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi có sự thay đổi của các điều kiện thị trường
hay những biến động của thị trường làm ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá ngoại hối,
giá chứng khoán mà ngân hàng đang đầu tư...Ví dụ: giảm giá các khoản đầu tư
chứng khoán.
1.1.1.4.Rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng,
quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do
các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Ví dụ: giao dịch viên
chọn nhầm loại tiền tệ trong chuyển tiền.
Thực tiễn ở các nước phát triển đã cho thấy tất cả các loại rủi ro nêu trên đều có
thể được nhận diện, đo lường để đưa ra các cảnh báo, từ đó xây dựng những
phương án nhằm ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại rủi ro gây
ra. Để làm được điều này, các NHTM cần phải xây dựng được một hệ thống chính
sách quản lý rủi ro có hiệu quả và phải nhận thức được rằng “Quản lý rủi ro là một
quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là
yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra và duy
trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính” (Trích Chính sách quản lý rủi ro
của Uỷ ban Basel).
1.1.2. Quản trị rủi ro. Sự cần thiết của quản trị rủi ro:
1.1.2.1. Quản trị rủi ro trong hoạt động NHTM:
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong đợi
mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận
thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn
thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ
thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất
mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là việc theo dõi quá trình sử dụng vốn
đã, đang và sẽ có thể xuất hiện đối với ngân hàng bằng các phương pháp sau: lập
bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra, phân tích các báo cáo tài
chính, phương pháp lưu đồ, thanh tra hiện trường, phân tích các hợp đồng, làm
việc với các cơ quan Nhà nước, các ban, ngành có liên quan.
- Phân tích rủi ro
4
Phân tích rủi ro là phải xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro. Đây là
một công việc phức tạp, bởi mỗi rủi ro không chỉ do một nguyên nhân duy nhất
gây ra mà thường do nhiều nguyên nhân gây ra.
Phân tích rủi ro là nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro. Trên cơ
sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân thay đổi chúng. Từ đó sẽ
phòng ngừa rủi ro.
- Đo lường rủi ro
Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích, đánh giá. Trên cơ sở kết quả
thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro.
Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng người ta sử dụng cả 2
tiêu chí: Tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro-mức độ nghiêm trọng
của tổn thất. Trong đó tiêu chí thứ 2 đóng vai trò quyết định.
- Kiểm soát – Phòng ngừa rủi ro
Công việc trọng tâm của công tác quản trị là kiểm soát rủi ro. Kiểm soát rủi ro là
việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt
động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng
không mong đợi có thể xảy ra với ngân hàng. Có các biện pháp kiểm soát rủi ro
như: các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất, chuyển
giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin…
- Tài trợ rủi ro
Khi rủi ro đã xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về
người chịu trách nhiệm quản trị và điều hành ngân hàng. Vì vậy, nâng cao năng
lực quản trị rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao chất lượng quản trị kinh
doanh của các NHTM.
Thứ ba, xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đòi hỏi phải nâng cao năng
lực quản trị rủi ro.
Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đòi hỏi các NHTM phải nâng cao năng lực
quản trị rủi ro để đương đầu với áp lực cạnh tranh ngày càng cao hơn về phạm vi
và mức độ, hoạt động kinh doanh trong môi trường tự do bình đẳng nhưng với quy
luật hà khắc hơn, nguy cơ rủi ro cao hơn với những diễn biến phức tạp hơn.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các NHTM
không chỉ là vấn đề sống còn đối với bản thân mỗi ngân hàng mà còn là yêu cầu
chung để đảm bảo an toàn cho cả hệ thống tài chính mỗi quốc gia, mỗi khu vực và
trên toàn cầu.
1.2. Hiệp ước Basel trong quản trị rủi ro ngân hàng
1.2.1. Hiệp ước Basel I
6
Hiệp ước Basel I được ra đời sau cuộc họp của Ủy ban Basel về giám sát hoạt
động ngân hàng vào tháng 7 năm 1988, trong đó đưa ra các chuẩn mực vốn quốc tế
và các phương pháp đo lường vốn. Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm
nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu là
mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó. Mục đích của Basel I
nhằm: củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế và thiết lập một
hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không
lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.
Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế
chung nhất về vốn và tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Basel I yêu cầu các ngân
hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với
Phương trình 1.2
Tài sản có rủi ro (RWA)= Tài sản* Trọng số rủi ro
Theo đó, các trọng số rủi ro khác nhau với các loại tài sản khác nhau sẽ cho ra
những yêu cầu về vốn khác nhau như bảng sau:
Bảng 1.1. Trọng số rủi ro theo loại tài sản
Trọng số rủi ro
0%
20%
50%
Phân loại tài sản
Tiền
mặt
và
vàng
nằm
trong
ngân
hàng.
Để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của các TCTD, đặc biệt là đối với
những tập đoàn ngân hàng lớn có phạm vi hoạt động quốc tế, từ năm 1999, Uỷ ban
Basel đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu. Bộ nguyên
tắc cơ bản bao hàm một số nội dung chủ yếu liên quan đến việc giám sát ngân
hàng, bao gồm:
- Nguyên tắc về điều kiện cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả: nguyên tắc 1.
- Nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: từ nguyên tắc 2 đến 5.
- Nguyên tắc về quy định và yêu cầu thận trọng: từ nguyên tắc 6 đến 15.
- Nguyên tắc về giám sát hoạt động ngân hàng: từ nguyên tắc 16 đến 20.
- Nguyên tắc về yêu cầu thông tin: nguyên tắc 21.
- Nguyên tắc về quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát: nguyên tắc 22.
- Nguyên tắc về ngân hàng xuyên biên giới: từ nguyên tắc 23đến 25.
Chi tiết các nội dung trong Bộ 25 nguyên tắc về giám sát ngân hàng hiệu quả (xem
phần phụ lục)
1.2.3. Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro ngân hàng
Xu thế phát triển hiện nay là các ngân hàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo
thành những tập đoàn lớn có khả năng cạnh tranh cao và có tiềm lực mạnh về tài
chính, công nghệ, các ngân hàng không chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia mà luôn vươn ra tầm quốc tế, mở rộng mạng lưới ngân hàng dưới hình thức
hoạt động của ngân hàng quốc tế. Chính vì vậy, một số qui định trong Basel I đã
không còn phù hợp khi áp dụng tại những ngân hàng này, đòi hỏi phải có một sự
cải tiến toàn diện trong việc xây dựng các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro và
giám sát hoạt động ngân hàng.
Trước đòi hỏi của xu hướng phát triển này, để bảo đảm an toàn trong hoạt động
ngân hàng của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với những tập đoàn ngân hàng
lớn có phạm vi hoạt động quốc tế, Basel II đã ra đời. Đây là hiệp ước quốc tế về
9
Phương pháp IRB này là một trong những nhân tố rất mới và đặc biệt của Basel II,
cho phép tự bản thân các ngân hàng quyết định và ước tính những thành tố trong
công thức tính toán nhu cầu vốn của họ. Từ đó, hệ số rủi ro hay phần tỉ lệ vốn sẽ
quyết định thông qua sự kết hợp của các yếu tố đầu vào định lượng do cả ngân
10
hàng lẫn cơ quan giám sát đưa ra cũng như các hàm số rủi ro được chỉ định bởi cơ
quan giám sát. Phương pháp luận mới này phù hợp cho ngân hàng với nhiều quy
mô khác nhau, nhiều cấu trúc doanh nghiệp khác nhau và danh mục rủi ro khác
nhau.
• Các phương pháp đo lường rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường theo Ủy ban Basel đó là rủi ro xảy ra sự mất mát trong trạng thái
giao dịch khi giá cả biến động thất thường. Thông thường rủi ro thị trường sẽ gắn
liền với bốn loại rủi ro cơ bản trên các giao dịch sổ sách đó là rủi ro lãi suất, trạng
thái vốn, rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hoá.
Vốn tự có theo quy định của Basel I bao gồm vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại
(vốn cấp 1) & vốn bổ sung vốn cơ bản (vốn cấp 2). Tuy nhiên, quy định của Basel
II khi đánh giá rủi ro thị trường cho phép các ngân hàng tính thêm phần vốn cấp 3
(tier 3) gồm các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn với mục đích dự trữ. Theo đó, các
ngân hàng chỉ được sử dụng vốn cấp 3 để đối phó với rủi ro thị trường, còn các
loại rủi ro tín dụng và rủi ro gây ra từ phía đối tác chỉ được xem xét trong phạm vi
vốn tự có theo quy định của Basel I. Vốn cấp 3 này bị giới hạn 250% vốn cấp 1
dùng để đối phó với rủi ro thị trường. Có nghĩa là có thể chỉ có 28.5% rủi ro thị
trường cần vốn cấp 1 đảm bảo. Nếu có vốn cấp 2 bảo đảm cho rủi ro thị trường,
vốn cấp 3 cũng bị chi phối theo tỷ lệ giới hạn 250% vốn cấp 2.
Việc tính toán yêu cầu vốn đối với rủi ro thị trường được thực hiện bằng cách lấy
phần ước tính rủi ro thị trường nhân với 12.5 và cộng vào kết quả tổng tài sản có
rủi ro tương ứng với rủi ro tín dụng. Rủi ro thị trường được đo lường phổ biến
Có đủ số lượng chuyên viên được trang bị kỹ năng sử dụng các mô hình
phức tạp không chỉ trong giao dịch mà còn trong quản trị rủi ro, kiểm toán. Mô
hình của ngân hàng được cơ quan giám sát đánh giá có chất lượng, đã qua kiểm
định về tính hợp lý và chính xác khi đo lường rủi ro.
Một khi đã được chấp thuận thực hiện phương pháp mô hình nội bộ, các ngân hàng
sẽ xây dựng mô hình quản trị rủi ro theo các tiêu chuẩn như:
Đối với rủi ro lãi suất, phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất của
mỗi đồng tiền liên quan đến danh mục đầu tư của ngân hàng trên cơ sở nhạy cảm
rủi ro lãi suất kể cả các khoản mục trong và ngoài bảng cân đối kế toán.
Đối với rủi ro tỷ giá (bao gồm cả biến động giá vàng), hệ thống quản trị rủi ro phải
kết hợp các nhân tố rủi ro liên quan đến từng loại tiền riêng lẻ
Đối với sự biến động giá cả của các loại hàng hóa: ít nhất phải thiết kế được hệ
thống theo dõi biến động giá cả loại hàng hóa đó trên phạm vi thế giới, vị thế mua
bán hoặc lời lỗ đối với từng giao dịch liên quan đến sự biến động này.
Trên cơ sở những tiêu chuẩn về mô hình quản trị rủi ro này, các ngân hàng sẽ xác
định được giá trị VaR của mỗi giao dịch, của các danh mục và của toàn bộ hoạt
động ngân hàng. Độ tin cậy của việc tính toán này theo yêu cầu phải đạt tối thiểu
99%.
12
• Các phương pháp đo lường rủi ro hoạt động
Các ngân hàng được lựa chọn một trong ba cách tính nhu cầu vốn cần thiết đối phó
rủi ro hoạt động với mức độ phức tạp và nhạy cảm với rủi ro tăng dần bao gồm:
Phương pháp chỉ số cơ bản (BIA – The Basic Indicator Approach);
Phương pháp chuẩn (The Standard Approach);
Phương pháp nâng cao (AMA – Advanced Measurement Approaches).
• Phương pháp chỉ số cơ bản BIA:
trong phương pháp chuẩn, lợi nhuận gộp được đo cho từng loại nghiệp vụ chứ
không phải theo từng loại tổ chức. Lượng vốn tối thiểu đối với rủi ro hoạt động của
toàn ngân hàng sẽ bằng tổng vốn tối thiểu của từng lĩnh vực kinh doanh; tương
quan giữa mức vốn cần có với mức thu nhập của từng lĩnh vực kinh doanh.
Tổng yêu cầu vốn được tính theo phương pháp cộng giản đơn yêu cầu vốn trung
bình từng 3 năm một cho mỗi loại nghiệp vụ trong mỗi năm. Tổng yêu cầu vốn có
thể mô tả như sau :
Phương trình 1.5
KTSA = ∑ (GI1-8 x β 1-8)
Trong đó
KTSA là yêu cầu vốn theo phương pháp chuẩn
GI1-8 lợi nhuận gộp trong năm cho trước, định nghĩa giống như phương pháp
BIA đối với từng nhóm nghiệp vụ trong số 8 nhóm
β1-8 tỷ lệ phần trăm cố định do Ủy ban Basel đưa ra liên quan đến mức độ vốn
yêu cầu cho từng mức độ lợi nhuận ròng đối với mỗi nhóm nghiệp vụ. Giá trị của β
được cho ở bảng sau :
Bảng 1.2. Hệ số β trong phương pháp chuẩn đối với rủi ro hoạt động
Nghiệp vụ
Hệ số beta (β)
Tài trợ doanh nghiệp (β1)
18%
Giao dịch và bán hàng (β2)
18%
14
hoạt động nội bộ của ngân hàng. Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này, một
ngân hàng phải đảm bảo các tiêu chuẩn định tính và định lượng do Uỷ ban đề ra và
phải được cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng chấp thuận.
Khi hoạt động của ngân hàng càng phức tạp thì cần phải áp dụng phương pháp có
độ phức tạp cao hơn, đồng thời không cho phép các ngân hàng chuyển ngược trở
lại phương pháp đơn giản một khi đã được chấp thuận sử dụng các phương pháp
nâng cao. Ngược lại, nếu các ngân hàng được đánh giá là không đủ điều kiện để
tiếp tục sử dụng phương pháp nâng cao thì cần phải quay trở về phương pháp cơ
bản cho đến khi đáp ứng được những yêu cầu này.
1.2.4.2. Trụ cột thứ hai - Tăng cường cơ chế giám sát, đặc biệt là việc
đánh giá chất lượng quản lý rủi ro của ngân hàng
Trụ cột này tập trung vào việc xây dựng hệ thống quản lý rủi ro. Quy trình kiểm tra
kiểm soát trong Basel II không chỉ để đảm bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để giải
quyết tất cả các rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích ngân hàng
phát triển và sử dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro tốt hơn trong việc kiểm soát và
quản lý các rủi ro.
Bốn nguyên tắc chính của trụ cột II:
Nguyên tắc 1: các ngân hàng cần có một quy trình đánh giá mức độ vốn nội bộ
theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược duy trì mức vốn của họ.
Trong nội dung này, quản lý ngân hàng phải gánh trách nhiệm cơ bản đối với việc
khẳng định rằng ngân hàng có vốn để hỗ trợ các rủi ro xảy ra. Quá trình quản lý rủi
ro ngân hàng bao gồm các nội dung sau: giám sát quản lý của ban giám đốc và cấp
cao; đánh giá vốn chắc chắn; đánh giá về rủi ro toàn diện, thanh tra và báo cáo;
kiểm tra kiểm soát nội bộ.
Nguyên tắc 2: các tổ chức giám sát cần rà soát, kiểm tra và đánh giá lại quy trình
đánh giá về yêu cầu vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng
của họ để thanh tra và khẳng định sự tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Các tổ chức giám
sát cần thực hiện hành động giám sát phù hợp nếu các ngân hàng không hài lòng
định ra bao gồm cấp độ về tập đoàn ngân hàng, hoạt động ngân hàng mang tính
quốc tế hoặc trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập thì sẽ có lộ trình 3 năm để chuẩn bị
những điều kiện đầy đủ trước khi áp dụng theo hiệp ước Basel II. Ngoài ra, vì một
trong những mục tiêu quan trọng của việc giám sát theo chuẩn mực của hiệp ước
Basel là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền nên cần phải luôn chắc rằng những
cách đo lường và tính toán về vốn tối thiểu đảm bảo sẵn sàng cho nhu cầu của