Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Thuận - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGÔ VĂN PHONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2005


1

LỜI MỞ ĐẦU
NHTM - một sản phẩm được hình thành và phát triển cùng với quá
trình phát triển xã hội loài người - một tổ chức trung gian tài chính quan trọng bậc
nhất phục vụ công chúng. Nhưng không giống với nhiều sản phẩm khác, xét về
mặt bản chất và các hành vi mà nó ứng xử, có thể xem NHTM là một sản phẩm
xã hội, một ngành công nghiệp dòch vụ với tính cộng đồng và nhân văn rất cao,
chằng chòt vô số các mối liên hệ với đông đảo công chúng, không chỉ trải rộng
trong phạm vi một quốc gia mà còn lan tỏa ở phạm vi quốc tế. Không giống như
các tổ chức tài chính khác, NHTM luôn phải kinh doanh chủ yếu bằng tiền của
người khác. Vì vậy, sự an toàn và phát triển của bất kỳ một NHTM nào đều có
liên quan mật thiết đến hàng loạt NHTM khác. Mặt khác, hiệu quả hoạt động của
NHTM phản ánh thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia.
Lòch sử phát triển NHTM ( 1401 ) – NH Valencia ( Tây Ban Nha) đến nay,
nhân loại đã nhiều lần chứng kiến những cảnh sụp đổ đến mức hoang tàn và thế
giới cũng xem đó, ít nhất là dấu hiệu đầu tiên của khủng hoảng kinh tế.
Ở nước ta, gói gọn trong thập niên mà chúng ta đang sống, sự sụp đổ và ra
đi của hàng loạt HTX tín dụng, của một số NHTM cổ phần và ngay cả một số
NHTM nhà nước, nếu không có “ rào chắn” từ nhà nước thì có thể cũng rơi vào

Với tinh thần đó, mục tiêu đề tài nhằm vào: Phân tích môi trường và hiệu
quả kinh doanh của NHNo Bình Thuận giai đoạn 2001-2004, từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh của đơn vò. Qua đó kiến nghò các


3

cấp hữu quan về một số biện pháp quản lý hoạt động kinh doanh của ngành
NHNo VN.
Nội dung đề tài sẽ tái hiện bức tranh hoạt động của NHNo Bình Thuận trên
đòa bàn, nhìn nhận một cách khái quát môi trường kinh doanh, những kết quả đạt
được, hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề ra các giải pháp khắc phục, giúp
NHNo Bình Thuận đủ sức cạnh tranh mở rộng thò phần, nâng cao hiệu quả kinh
doanh, từng bước tiến lên hiện đại hóa NHTM; đồng thời kiến nghò NHNo VN
thực hiện một số giải pháp nhằm tháo gở những vướng mắc trong hoạt động của
hệ thống chi nhánh trực thuộc, bảo đảm sự không ngừng lớn mạnh trong hoạt
động kinh doanh của NHNo VN.
Với mục tiêu tổng quát nêu trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Nghiên cứu hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận giai đoạn 20012004.
- Nghiên cứu một số chủ trương, chính sách, qui đònh của nhà nước liên
quan đến hoạt động NHTM nói chung, NHNo VN, trong đó NHNo Bình Thuận
nói riêng.
- Một số chủ trương của đòa phương về phát triển kinh tế - xã hội thời gian
qua.
Với phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung nghiên cứu được triển khai theo
phương pháp tổng thể- dựa trên cơ sở nghiên cứu khía cạnh chung, thống nhất ở
các đơn vò trực thuộc NHNo Bình Thuận, qua đó phát biểu thành vấn đề chung
của NHNo Bình Thuận.



Từ năm 1609-1694 các NH đều có quyền tạo ra những tờ giấy bạc có hiệu
lực pháp lý như nhau trong lưu thông, dẫn đến tình trạng phát hành tiền NH bò
lạm dụng, làm cho trong nước có nhiều giấy bạc khác nhau gây cản trở việc giao
lưu và phát triển kinh tế. Để hạn chế việc phát hành, chính phủ các nước lần lượt
giới hạn “quyền phát hành tiền” về cho một số NH và cuối cùng là một NH duy
nhất vào cuối thế kỉ XVII. Những NH còn lại chỉ còn một quyền đó là cho vay và


5

đi vay tiền tệø, từ đây họ mới bắt đầu tạo ra những chứng thư cho vay và thanh
toán. Tuy nhiên phải sau 1945, khi các nhà nước thực sự quốc hữu hoá NHTW và
độc quyền phát hành giấy bạc pháp đònh ( tiền NHTW), các loại chứng thư của
NH trung gian mới được chấp nhận rộng rãi như tiền. Như vậy, tuy NH ra đời từ
rất lâu ( Thế kỉ XV) nhưng tiền của nó chỉ được lưu hành rộng rải từ đầu thế kỷ
XX.
Sau khi Chính phủ các nước qui đònh việc phát hành tiền là độc quyền của
NHTW thì các NH còn lại chỉ làm nhiệm vụ những trung gian tài chính giữa
người cho vay và người đi vay tiền trong nền kinh tế, các NHTW hoàn toàn biệt
lập với công chúng, mọi hoạt động của nó đều thông qua những đònh chế trung
gian và chính phủ để tiếp cận với công chúng. Từ nguyên nhân này, những NH
còn lại trong nền kinh tế được gọi là “ NH trung gian”. Trong loại hình NH trung
gian, hệ thống các NHTM chiếm vò trí quan trọng nhất về qui mô tài sản và về
thành phần các nghiệp vụ – hoạt động của NHTM bao gồm 3 lónh vực: nghiệp vụ
nợ (huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới
trung gian (dòch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ, vật có
giá….). Ba loại nghiệp vụ đó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau
phát triển, tạo nên uy tín cho NH, chính sự kết hợp đồng đồng bộ đó đã trở thành
qui luật hoạt động cho NH và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp đa năng
của các NHTM. [3]


Ở nước ta, sau khi cả nước thống nhất, hệ thống NHTM thực thụ được hình
thành năm 1988 sau khi tách ra từ NHNN ( thành lập hệ thống NH 2 cấp). Theo
luật các tổ chức Tín dụng Việt Nam thì NH là loại hình tổ chức Tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
[16] Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình NH gồm: NHTM, NH
phát triển, NH đầu tư, NH chính sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác.
NHNo VN là NHTM nhà nước, hoạt động theo luật các TCTD & luật pháp liên
quan.
II. Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM.
1- Quan hệ tín dụng NHTM dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
NHTM với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, hoạt động trên cơ sở
đi vay để cho vay thông qua nghiệp vụ tín dụng. Hành vi kinh doanh tiền tệ của
NHTM thực chất là mua quyền sử dụng vốn ( thuê ) và bán ( cho thuê ) lại quyền
sử dụng vốn đó, nó hoàn toàn khác với các loại hình kinh doanh khác của các tổ
chức kinh tế, thể hiện như sau:
- Quan hệ tín dụng (đi vay và cho vay) chủ yếu dựa vào lòng tin lẫn nhau.
Khác với quan hệ mua bán thông thường khác, quan hệ tín dụng NH chỉ trao đổi
quyền sử dụng giá trò khoản vay, chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay.
Người cho vay giao giá trò khoản vay dưới dạng tiền tệ và hàng hoá cho đối tác sử
dụng khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả toàn bộ giá trò
khoản vay cộng thêm khoản lợi tức trả cho người cho vay. Do vậy, thực thể khoản
vay vẫn còn tồn tại và có thể luân chuyển từ người này sang người khác do hoạt
động cho vay của chủ thể cho vay.
Trong quan hệ tín dụng, giá trò hàng hoá “khoản vay” không thay đổi hình
thái, mà nó chỉ được chuyển từ người cho vay sang người đi vay và chỉ có một
bên nhận được giá trò, bởi vì chỉ có một bên nhượng đi giá trò mà thôi.
Điều này có nghóa là hàng hoá “ khoản vay ” có đặc điểm sẽ quay trở về
điểm xuất phát của nó, mà vẫn giữ nguyên vẹn giá trò vốn có, đồng thời lại lớn
lên thêm trong quá trình vận động.

phát sinh.
Từ đó có thể thấy rằng quan hệ tín dụng phải song hành với lòng tin. Khi
thiếu lòng tin, người ta buộc phải gia cố lòng tin bằng các “quyền truy đòi”, áp
dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay…
Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện cả hai phía: người cho vay
và người đi vay. Riêng về phía người đi vay, nếu họ cảm nhận người cho vay
không đủ điều kiện đáp ứng cho họ về lượng tín dụng, thời hạn cho vay, năng lực


8

đàm phán, các điều kiện phục vụ… thì quan hệ tín dụng vẫn có thể không phát
sinh.
Lòng tin trong quan hệ tín dụng có những nét đặc biệt hơn so với yếu tố
lòng tin trong các quan hệ phi NH bởi NH đóng vai trò là người cho vay vừa là
người đi vay. Do vậy, NH một mặt phải thể hiện lòng tin , mặc khác phải kiểm tra
lòng tin với khách hàng. Điều này trực tiếp quyết đònh sự an toàn, hiệu qủa, đồng
nghóa với sự sinh tồn của NHTM.
Một đặc thù của hoạt động NH là tình trạng tài chính của một NH phụ
thuộc vào niềm tin của khách hàng gửi tiền đối với giá trò tài sản của NH đó. Nếu
họ tin rằng nhiều tài sản của NH đã giảm giá trò thì có thể làn sóng rút tiền ký
thác sẽ diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến phá sản không chỉ riêng NH quản lý kém về
tài sản mà còn kéo theo cả hệ thống.
4- Tín dụng NH tạo tiền ký thác, tạo tài nguyên cho hoạt động NH.
Tạo và hủy tiền là chức năng riêng của tín dụng NH và làm cho hoạt động
tín dụng của NH khác hẳn với hoạt động kinh doanh thông thường khác. Thû sơ
khai, các NH có thể tạo tiền bằng việc phát hành các ngân phiếu thanh toán ( tiền
thân của giấy bạc NH ) thay cho vàng trong lưu thông. Ngày nay, NHTM tạo tiền
bằng cách tạo ra bút tệ ( tiền ghi sổ) theo phương pháp cho vay chuyển khoản.
Khi NHTM cho vay bằng tiền mặt, việc cho vay thực chất là chuyển số tiền

sinh lời kém và tài sản có tính khả dụng kém nhưng khả năng sinh lời cao, đồng
thời xem xét vấn đề đối nghòch giữa tính khả dụng và khả năng sinh lời trong khả
năng có thể chấp nhận được. Công nghệ đặc biệt của NH – công nghệ biến đổi cơ
cấu thời hạn của các đồng tiền, là cách làm cho hai yêu cầu có tính tương phản là
“ an toàn và hiệu quả” trở thành tương hợp. Trong nền kinh tế phát triển, công
nghệ NH hiện đại, việc gửi và rút tiền được nhanh chóng, thuận lợi, đã kích thích
công chúng gửi tiền vào NH, vì đó là việc làm nhiều lợi ích so với để tiền trong
túi. Đến lúc ấy, công nghệ biến đổi thời hạn sử dụng của các đồng tiền của
NHTM mới thật sự đầy đủ ý nghóa.
Để tương hợp hai yếu tố: an toàn và hiệu quả, NH đã phải luôn tìm biện
pháp đầu tư tài chính có hiệu quả cao nhất, đồng thời phải bảo đảm khả năng
thanh khoản bằng cách sắp xếp hài hòa các yếu tố tài sản “nợ” và tài sản ‘có”,
đồng thời cũng phải khéo léo áp dụng các kỹ thuật tạo nguồn ký thác mà NH
được quyền sử dụng.
6- Trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro trong nền kinh tế.
Quan niệm về NHTM và hoạt động của nó chỉ thực sự đúng đắn và đầy đủ
ý nghóa thực tiễn khi được xem xét gắn với hoạt động của nền kinh tế. Đặc biệt
khi được xem xét dưới góc độ rủi ro của nền kinh tế. Ở những nội dung trên, khi
bàn về tính chất trung gian tài chính của NHTM, chúng ta chỉ xem xét NHTM


10

theo các chức năng tương đối độc lập trong quan hệ với nền kinh tế. Trong thực
tiễn, hệ thống NH và nền kinh tế luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
một cách chặt chẽ và nhạy bén. Khi NHTM làm nhiệm vụ trung gian tín dụng,
hoạt động NHTM đã ngầm chứa đựng rủi ro. Hơn nữa khách hàng của NHTM là
các chủ thể chứa đựng rủi ro, họ đến NH là muốn san sẽ rủi ro đó cho NH.
Đối với khách hàng, rủi ro gây ra cho họ hết sức đa dạng và phong phú và
xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau ở môi trường nội tại lẫn ngoại vi; từ những

đònh kinh tế vó mô. [2], [3], [4]

III. Hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Cũng như bao doanh nghiệp khác, mục tiêu tối thượng trong hoạt động của
NHTM là lợi nhuận, trong đó lành mạnh và ổn đònh luôn là nền tảng của hoạt
động NHTM. Lợi nhuận là thước đo hiệu quả kinh doanh của NHTM. Tuy nhiên,
lợi nhuận NHTM chòu sự tác động của rất nhiều yếu tố. Vì vậy, khi xem xét hiệu
quả kinh doanh của NHTM, ngoài hệ thống chỉ tiêu về tài chính, người ta còn
xem xét đến nhiều chỉ tiêu liên quan về qui mô và chất lượng tài sản “nợ”, tài
sản “có”, nghiệp vụ trung gian, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời v.v…
Trong phạm vi luận văn, chỉ tập trung đề cập khái quát một số vấn đề lý thuyết
trực tiếp liên quan sau đây:
1- Chất lượng tài sản có.
Tài sản “có” là phần nguồn vốn được sử dụng vào kinh doanh và duy trì
khả năng thanh toán của một NHTM. Chất lượng tài sản “có” là chỉ tiêu tổng hợp
nhất nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực
quản lý của một NHTM. Phần lớn rủi ro vốn trong kinh doanh tiền tệ đều tập
trung ở tài sản “có”.
Thông thường, tài sản “có” của NHTM bao gồm:
+ Tiền mặt và tiền gửi ở NHNN: loại tài sản này không sinh lời, chủ yếu
dùng vào mục đích thanh khoản (trừ loại dự trữ thặng dư khi được sử dụng như tài
sản “có” sinh lời). Loại này gọi chung là tiền dự trữ, bao gồm: dự trữ bắt buộc
(dự trữ pháp đònh), dự trữ luân chuyển, dự trữ thặng dư (dự trữ dư thừa).
Tiền dự trữ là các tài sản lưu hoạt cao, có thể đáp ứng tức khắc các nhu cầu
rút tiền của người ký thác.
+ Cho vay các TCKT và các tầng lớp dân cư : đây là bộ phận sinh lời chủ
yếu và cũng là nơi phát sinh nhiều rủi ro của NHTM.
+ Đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
+Tài sản có khác: tài sản cố đònh và thiết bò; các khoản phải thu….


Tổng nguồn vốn
Vốn huy động
Tỷ trọng vốn huy động = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100
Vốn tự có của NH


13

2. Chỉ tiêu về chất lượng tài sản “có”:
Tổng dư nợ
Dư nợ quá hạn
H₁ = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ ;
H3 = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
Nguồn huy động
Tổng dư nợ cho vay
H₁ : Xác đònh hiệu quả của một đồng vốn huy động. Nếu H₁ càng lớn, vốn
tồn đọng càng ít, đồng thời rủi ro tín dụng càng lớn.
H₃ : Thể hiện chất lượng tín dụng.
3. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
Người ta thường dùng chỉ số sau đây để đánh giá khả năng thanh toán của
NHTM:
Tài sản “có” động
Khả năng thanh toán tức thì = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100
Tài sản “nợ” dễ biến động
Tài sản có động là tài sản có dễ chuyển đổi thành tiền. Chỉ số đo lường khả
năng thanh toán tức thì cao, chứng tỏ NH có thanh khoản tốt. Nhưng nếu chỉ số
này quá cao, nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NH.
Vấn đề đặt ra là chỉ số này ở mức bao nhiêu là hợp lý. Thông thường, các
NHTM hoạt động tốt có thể duy trì chỉ số này tương đối thấp so với NHTM hoạt
động yếu kém.

Tích sản sinh lãi ròng

Trong hệ thống NHNo VN, chi nhánh cấp 1 (NHNo Tỉnh, Thành phố và các
đơn vò thành viên khác) không được NHNo VN giao chỉ tiêu lợi nhuận mà sử
dụng chỉ tiêu Qũy thu nhập để đánh giá năng lực tài chính và hiệu quả kinh
doanh.
Qũy thu nhập = Doanh thu – chi phí (không kể chi lương)
Bên cạnh, căn cứ Thông tư số 49/2004/TT-BTC ngày 03/06/2004 của Bộ
Tài chính về hướng dẫn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các tổ
chức tín dụng nhà nước, NHNo VN đã cụ thể hóa hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả kinh doanh đối với chi nhánh cấp 1 trực thuộc trong hệ thống NHNo VN bao
gồm:
(1) Tốc độ tăng trưởng huy động vốn tại đòa phương.
Số dư vốn huy động bình quân của năm nay
(1) = ( ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ - 1 ) x 100
Số dư vốn huy động bình quân của năm trước
(2) Tốc độ tăng trưởng đầu tư vốn.
Dư nợ cho vay và đầu tư giấy tờ có giá bình quân năm nay
(2) = ( ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ - 1 )x 100
Dư nợ cho vay và đầu tư giấy tờ có giá bình quân năm trước
Tài sản có sinh lời bình quân
(3) Khả năng sinh lời = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100%
Tổng tài sản có nội bảng bình quân
(4) Tỷ lệ thu dòch vụ.
Số Dư NQH cuối kỳ
(5) Tỷ lệ NQH = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100
Tổng dư nợ cho vay cuối kỳ
(6) Chênh lệch lãi suất = Lãi suất thực tế đầu ra – Lãi suất thực tế đầu vào



lợi nhuận càng nhiều rủi ro. Vì vậy, trong quản trò hoạt động tín dụng luôn cần có
biện pháp giám sát chặt chẽ để làm cho hai yếu tố tương phản là an toàn và hiệu
quả trở thành tương hợp. Đây là vấn đề không hề đơn giản trong quản trò NHTM.


16

- Lãi suất là giá cả của tín dụng. Lãi suất được cấu tạo bởi nhiều nhân tố,
gồm cả các nhân tố chủ quan lẫn khách quan. Trong nền kinh tế thò trường, cần
đặc biệt quan tâm đến quan hệ cung cầu về vốn – nhân tố quan trọng cấu thành
lãi suất. Vì vậy không thể chủ quan duy ý chí trong ấn đònh lãi suất, mà phải tuân
thủ chặt chẽ các qui luật kinh tế thò trường, dự báo khả năng lạm phát (liên quan
đến lãi suất thực), biện pháp quản trò khe hở (GAP) liên quan cơ cấu tài sản “nợ”
và tài sản “có” biến động … để xây dựng hệ thống lãi suất phù hợp với mục tiêu
không ngừng nâng cao lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro tín dụng, lãi suất, tỷ giá, thanh
khoản … kết hợp với chiến lược chiếm lónh và mở rộng thò phần hoạt động. Mặt
khác, cần lưu ý mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt thu hút nguồn vốn giá
rẻ, tiết giảm chi phí vốn, tăng cường hiệu quả kinh doanh.
- Hoạt động NHTM đang trong lộ trình hội nhập quốc tế, yêu cầu bức xúc
đặt ra cho hệ thống NHTM là mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng kinh doanh.
Để thỏa mãn yêu cầu trên, đòi hỏi NHTM phải luôn tăng cường nguồn vốn kinh
doanh, đổi mới và ứng dụng công nghệ NH tiên tiến, phương pháp quản trò và tác
nghiệp NHTM hiện đại. Vấn đề này liên quan đến năng lực tài chính và chất
lượng nguồn nhân lực của NHTM, trong đó chất lượng nhân lực là nhân tố then
chốt, quyết đònh sự thành bại trong hoạt động. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống
nhân lực có chất lượng và không ngừng nâng cao là không thể thiếu và tối trọng
đối với hoạt động NHTM trong điều kiện hội nhập và song hành với nền kinh tế
tri thức cận kề.



Về hệ thống cơ sở hạ tầng: quá trình phát triển, Bình Thuận bước đầu đã
xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất và tích lũy kinh nghiệm trong phát triển
kinh tế – xã hội, đặc biệt là mạng lưới giao thông đã hình thành về cơ bản, tạo
điều kiện phát triển kinh tế – xã hội trên đòa bàn nói chung, đặc biệt là thành phố
Phan Thiết.


18

Trong 4 năm qua, kinh tế Bình Thuận có sự phát triển tương đối toàn diện;
tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 12,04%. Các ngành kinh tế đều
có sự phát triển, đặc biệt là ngành công nghiệp và dòch vụ. Cơ cấu kinh tế trong
nông nghiệp đã có sự chuyển dòch đáng kể theo hướng mở rộng ngành chăn nuôi
với một số lượng lớn kinh tế trang trại và chăn nuôi qui mô gia đình, giảm diện
tích trồng lúa, tăng diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày…
Tuy nhiên, Bình Thuận vẫn còn là Tỉnh nghèo với thu ngân sách tăng bình
quân hàng năm là 31,5%. Nhòp độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm
năng, chất lượng tăng trưởng còn kém, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều
hạn chế; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn diễn ra tương
chậm, chất lượng hạn chế. Trình độ phát triển các vùng trong tỉnh còn khá nhiều
chênh lệch, nhiều vùng còn yếu, đặc biệt là nông thôn, vùng sâu, vùng xa… Kinh
tế nông nghiệp chòu ảnh hưởng lớn bởi thiên tai, nắng hạn. Đời sống nhân dân,
đặc biệt nông dân còn nhiều khó khăn. Tốc độ chuyển dòch cơ cấu kinh tế chậm.
Điều này đã và sẽ còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của NHNo
Bình Thuận. [12], [13]
II. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận.
1- Khái quát hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận giai đoạn
2001-2004.
Trên đòa bàn Tỉnh Bình Thuận hiện có 7 chi nhánh NHTM cùng tồn tại
gồm: AgriBank - ICB – VCB – BID – ACB – SacomBank – NH Cổ Phần


2002

2003

2004

BQ

1- Vốn huy động của NHNo
294
442
593
896
556
B.Thuận
Tỷ lệ tăng trưởng so với năm
50,34
34,16
51,09
44,98
trước (%)
2- Vốn huy động của NHNo
58.797
82.629
120.335
148.391 102.538
Việt Nam
Tỷ lệ tăng trưởng so với năm
40,53

2001
Chỉ tiêu

Tiền

1-Tổng
799
nguồn vốn
Trong
đó, nguồn 294
huy động
2-Thò phần
(%) trên
đòa
bàn
tỉnh

2002

2003

%

Tiền

%

Tiền

100

1.450 100

1.58
4

100

1.21
6

100

40,9
0

896

56,5
6

556

45,7
2

55

57

53

- Hộ gia đình, cá nhân (%)
* Thò phần theo số dư nợ (%)

Đơn vò tính: tỷ đồng
Bình
2003
2004
quân

2001

2002

757

961

1.286

1.617

46,44
100
66,53
14,30
4,93
14,24

+26,95
44,24

15,83
3,54
80,63
50,00

15,31
7,09
77,60
55,00

11,30
13,00
75,70
60,00

9,40
17,60
73,00
59,00

1.155

56,00

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Thời gian qua, tổng dư nợ NHNo Bình Thuận (không kể dư nợ
UTNHCSXH) liên tục tăng với mức bình quân là 28,78%/năm. Đây là mức tăng
trưởng khá, dù trong điều kiện năm 2004 NHNo VN khống chế tăng trưởng dư
nợ. So với toàn hệ thống NHTM kể cả Quỹ TDND, thò phần tín dụng của NHNo

73,22
a.Thu lãi cho vay
3,41
b.Thu ngoài lãi cho vay
0,75
Trong đó: thu dòch vu
58,61
2-Tổng chi
8,15
a- Trã lãi tiền gửi
26,28
b-Trã phí điều hòa nội bộ
6,70
c-Chi lương
9,65
d-Trích dự phòng rủi ro
7,83
e-Chi phí hoạt động KD khác
24,72
3-Qũy thu nhập
18,02
4-Lợi nhuận trước thuế
5-Tốc độ tăng doanh thu (%)
6-Tốc độ tăng chi phí (%)
7-Tốc độ tăng quỹ thu nhập (%) 8-Tốc độ tăng lợi nhuận trước
thuế (%)
12,97
9-Lợi nhuận sau thuế
+0,315
10-Chênh lệch lãi suất (%)

25,17
53,10
10,52
6,60
16,03
33,02
22,50
+35,45
+37,90
+30,77

158,52
145,47
9,15
2,65
141,85
32,42
60,58
11,01
11,43
26,41
27,68
16,67
+18,37
+27,31
-16,17

116,99
109,33
6,53


Nguồn: Báocáo Tài chính NHNo Bình Thuận các năm 2001, 2002, 2003, 2004.


23

Từ đơn vò khó khăn về tài chính do đòa bàn dàn trải rộng, biên chế lao động
lớn, chi phí hoạt động cao, lại thường xuyên gặp rủi ro bất khả kháng, đến nay
NHNo Bình Thuận đã cơ bản vượt qua khó khăn, từng bước cân đối được tài
chính và hòa nhập vào dòng phát triển. Doanh thu năm 2001 là 76,63 tỷ đồng,
đến năm 2004 là 158,52 tỷ đồng, tốc độ tăng doanh thu bình quân hàng năm
27,42%. Qũy thu nhập (Doanh thu trừ (-)chi phí chưa tính lương) tăng bình quân
hàng năm 27,67%/năm, chênh lêch lãi suất thực tế bình quân + 0,329%/tháng.
Với tình hình tài chính có bước phát triển, NHNo Bình Thuận từng bước
được trang bò cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho công nghệ thanh toán, tiến
hành đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBVC để dần đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại
hoạt động NHNo và hội nhập quốc tế.
2.2- Hạn chế.
Bên cạnh những thành công và kết quả đạt được mang tính tiền đề cho sự
phát triển, hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận vẫn còn một số hạn chế
cơ bản sau:
Thứ nhất, tuy nguồn vốn huy động qua các năm tăng khá, nhưng mức tăng
và tốc độ tăng chưa cao so với yêu cầu, chưa đủ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín
dụng và thanh toán, còn phụ thuộc nhiều vào NHNo VN về nguồn vốn kinh doanh.
Xét dãy tiền sử theo biểu số 2 có thể thấy rằng: tỷ trọng nguồn huy động
trên tổng nguồn vốn đã tăng từ 36,80% năm 2001 lên 56,56% năm 2004, tỷ trọng
bình quân 45,72%. Xét về chiều hướng phát triển thì đây là dấu hiệu khả quan.
Tuy nhiên, lý luận đặt ra cho NHTM là kinh doanh bằng vốn của người khác, cũng
như yêu cầu thực tiễn đặt ra cho việc mở rộng nghiệp vụ tài sản “có” thì tốc độ
tăng và tỷ trọng tăng như vậy là chưa đạt yêu cầu. Với nhu cầu mở rộng hoạt

2002

2003

2004

Tỷ
Giá
trọng trò
(%)
100
442

Tỷ
trọng
(%)
100

Giá
trò
593

Tỷ
trọng
(%)
100

63,60 269

60,86

58,63

233

39,29 407

45,43 230

41,37

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Biểu số 6: Cơ cấu nguồn huy động theo kỳ hạn của NHNo Bình Thuận.
Đơn vò tính: tỷ đồng

2001
Chỉ tiêu
Nguồn
động

huy

+TG không kỳ
hạn
Trong đó: TG
KBNN
+TG có kỳ hạn
< 12 tháng
+TG có kỳ hạn
≥ 12 tháng

Tỷ
Giá
trọng
trò
(%)

Tỷ
trọng
(%)

294

100

100

100

100

100

117

39,80 179

40,50 249

42,00 372


18,37 116

26,24 154

25,97 215

23,97 134

24,10

442

593

896

556

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Về mặt lý luận, trong nền kinh tế chỉ có một khu vực có thặng dư ròng, đó là
khu vực hộ gia đình. Đây là khu vực cung ứng chủ yếu nguồn ký thác cho NHTM.
Tuy nhiên, nghiên cứu cơ cấu nguồn huy động (biểu số 5, 6) dễ nhận thấy nguồn
tiền gửi dân cư có xu hướng giảm dần về tỷ trọng. Tiền gửi không kỳ hạn chiếm
tỷ trọng ở mức bình quân 41,19%, trong đó tiền gửi KBNN chiếm 58%/tiền gửi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status