ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
HỢP ĐỒNG MANG THAI HỘ THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
HỢP ĐỒNG MANG THAI HỘ THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN MẠNH THẮNG
Hà Nội – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
1.3. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo....31
1.4. Vô hiệu hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ..............................32
1.5. Thực hiện hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo...........................36
1.5.1. Nguyên tắc cơ bản trong quá trình thực hiện hợp đồng...........................36
1.5.2. Nội dung của việc thực hiện hợp đồng mang thai hộ ..............................36
1.6. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo .......................................................................................................37
1.6.1. Tranh chấp hợp đồng mang thai hộ .......................................................37
1.6.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo......38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG
MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO .........................................41
2.1. Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo hiện nay. ..........................................................................41
2.1.1. Hình thức của hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành ..................................................................41
2.1.2. Nội dung của hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành ..................................................................43
2.2. Đánh giá ưu điểm, nhược điểm về hợp đồng mang thai hộ dưới hình thức
thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và tầm quan trọng của hợp đồng
mang thai hộ trong thực tế đời sống................................................................57
2.1.1. Những ưu điểm của hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hiện
nay
...................................................................................................57
2.1.2. Nhược điểm của hợp đồng mang thai hộ theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành. .............................................................................................60
2.1.3. Tầm quan trọng của hợp đồng mang thai hộ trong quan hệ pháp luật mang
MTH
Mang thai hộ
BV
Bệnh viện
KHKT
Khoa học kỹ thuật
IVF
In Vitro Fertilisation - Phương pháp
thụ tinh trong ống nghiệm
TTTON
Thụ tinh trong ống nghiệm
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
khi Luật HNGĐ mới được ban hành thay thế cho luật trước đây thì vấn đề này
mới được ghi nhận. Đây cũng được xem là một bước phát triển của pháp luật khi
ghi nhận và điều chỉnh một vấn đề xã hội tương đối đặc biệt và phức tạp nhưng
lại phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội.
Kể từ khi ra đời, các quy định về vấn đề mang thai hộ đã nhận được nhiều
sự quan tâm từ dư luận cũng như từ phía các nhà nghiên cứu pháp luật. Sau khi
1
ban hành những quy định quan trọng và cơ bản về mang thai hộ trong Luật
HNGĐ 2014, Chính phủ còn giải thích rõ hơn các quy định này tại Nghị định
10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Mục đích ban hành nghị định
nhằm giải thích về các quy định của pháp luật về việc sinh con bằng kỹ thuật thụ
tinh trong ống nghiệm và hơn hết nghị định góp phần làm rõ các quy định về
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và điều kiện để mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo. Tại đây, nghị định ban hành kèm theo 07 loại biểu mẫu là các mẫu
công văn, biên bản, đơn, cam kết, báo cáo, thỏa thuận… có liên quan đến quá
trình tiến hành việc thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện để mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo. Đáng chú ý là tại nghị định này, Chính phủ đã ban hành một
dạng thỏa thuận quan trọng, có yếu tố quyết định đến quyền và lợi ích của các
bên trong quan hệ mang thai hộ đó là “thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo”, đây được xem như một hợp đồng soạn sẵn chứa đựng đầy đủ các
thông tin chủ thể, ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ
mang thai hộ. Thỏa thuận này cũng là nơi thể hiện ý chí chủ chể của đôi bên về
các vấn đề liên quan đến quá trình thiết lập và thực hiện quan hệ pháp luật mang
thai hộ.
Do “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” còn là một vấn đề mới mẻ, nên
các vấn đề liên quan đến mang thai hộ hiện nay không nhiều, bên cạnh đó các
quy định về “hợp đồng” cũng còn gặp khá nhiều vướng mắc. Bởi lẽ, mang thai
và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” được Nhà xuất bản chính trị Quốc gia –
Sự thật xuất bản năm 2015. Nội dung cuốn sách được thể hiện dưới hình thức
hỏi – đáp pháp luật, mà nội dung các câu hỏi và câu trả lời đều xoay quanh vấn
đề sinh con bằng kỹ thuật TTTON và mang thai hộ để người đọc dễ dàng nắm
bắt. Ngoài ra, cuốn sách còn bao gồm 7 biểu mẫu được trình bày ở phần Phụ lục
là các đơn, bản cam kết, thỏa thuận mẫu... được sử dụng trong lĩnh vực nêu trên.
Năm 2016, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia – Sự thật tiếp tục xuất bản
cuốn sách “Quy định pháp luật về thụ tinh nhân tạo và mang thai hộ” nhằm cung
cấp cho người đọc các văn bản pháp luật có nội dung liên quan đến nội dung
trên. Cuốn sách đã tập hợp hóa các quy định pháp luật về thụ tinh trong ống
3
nghiệm và mang thai hộ có trong Luật HNGĐ 2014, Nghị định chính phủ số
10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Sau nghị định ban hành, Bộ Y
Tế đã ban hành Thông tư số 57/2015/TT-BYT ngày 30-12-2015 quy định chi
tiết một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP. Cuốn sách nhằm cung cấp
cho người đọc những nội dung của những văn bản pháp luật trên. Ngoài ra, cuốn
sách cũng cung cấp những quy định pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội cho lao
động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ.
Thứ hai, luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Quỳnh Hoa mang tên “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về mang thai hộ”. Luận văn được viết và bảo vệ năm
2014, cũng chính là thời điểm lần đầu tiên vấn đề “mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo” được pháp luật công nhận. Trong luận văn của mình, tác giả đã nêu ra
gần như đầy đủ về các vấn đề lý luận về mang thai hộ bao gồm các quyền, nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ mang thai hộ, điều kiện mang thai hộ, các vấn đề
xoay quanh đến mang thai hộ trong đó có thỏa thuận mang thai hộ. Tuy nhiên,
luận văn cũng mới dừng lại ở việc giới thiệu về thỏa thuận mang thai hộ như
một tiểu mục nhỏ chứ chưa trực tiếp đi sâu vào vấn đề này.
vực này, nhìn thấy sự cần thiết phải thể chế hóa “mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo” vào pháp luật. Sau khi mang thai hộ được thể chế hóa vào pháp luật Tác
giả Nguyễn Thị Lan cũng có một bài viết khá sâu sắc với nội dung “Mang thai
hộ và những vấn đề phát sinh” đăng trên Tạp chí Luật học số 04/2015 phân tích
những vấn đề còn vướng mắc liên quan đến pháp luật về mang thai hộ và đưa ra
những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này… Tiếp theo đó,
TS. Nguyễn Văn Cừ cũng đã có bài viết đăng trên tạp chí Luật học số 06/2016
“Pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam” giới thiệu một cách tổng quát hầu hết
các vấn đề liên quan đến mang thai hộ tại Việt Nam; Trên Tạp chí Kiểm sát số
04/2016, tác giả Nguyễn Văn Lâm cũng có nêu quan điểm của mình về vấn đề
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo với bài viết “Bàn về mang thai hộ theo quy
định của pháp luật Việt Nam”; Gần đây nhất vào tháng 10/2018, TS. Nguyễn
Hải an và Ths. Lê Thị Thu Thủy cũng có bài viết đăng trên hai kỳ của Tạp chí
Tòa án nhân dân điện tử về “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình
5
mang thai hộ” và “Về điều kiện của việc mang thai hộ đối với người mang thai
hộ và một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình mang thai
hộ” phân tích một cách đầy đủ chi tiết tất cả các vấn đề liên quan đến mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều bài viết chuyên sâu khác
được đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành về pháp luật. Việc có khá nhiều
bài viết liên quan đến mang thai hộ chứng tỏ sức hút không hề nhỏ của vấn đề
này đối với các nhà luật học, các nhà nghiên cứu, cũng như sự quan tâm từ phía
dư luận.
Ở các công trình nghiên cứu trên, tập thể các tác giả đều tập trung nghiên
cứu một cách cơ bản, sâu sắc, có hệ thống cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, khái
niệm bản chất của việc mang thai hộ, đồng thời đưa ra định hướng xây dựng
pháp luật ở Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều tập trung
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa khoa học Mac – Lê Nin, và hệ
thống quan điểm lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được những mục đích nghiên cứu đã đề ra, trong quá trình nghiên
cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp bình luận khi sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu vấn
đề chung về khái niệm, ý nghĩa của việc xác lập và thực hiện hợp đồng mang
thai hộ, những yếu tố ảnh hưởng tới việc xác lập và thực hiện hợp đồng mang
thai hộ.
- Phương pháp liệt kê, nêu ví dụ ở chương 2 khi đưa ra những trường hợp
xảy ra trong quá trình xác lập và thực hiện hợp đồng mang thai hộ diễn ra ngoài
thực tế cuộc sống, những vướng mắc từ quyền và nghĩa vụ của đôi bên trong
việc mối quan hệ của người mang thai hộ và người nhờ mang thai.
7
- Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp... được sử dụng ở chương 3 khi
xem xét, đánh giá những quy định của Pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề
xác lập và thực hiện hợp đồng mang thai hộ, từ đó đưa ra kiến nghị về hoàn
thiện pháp luật trong lĩnh vực này
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Nêu và làm rõ những vấn đề lý luận hợp đồng mang thai hộ.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành của việc xác
lập thỏa thuận mang thai hộ trên cơ sở hợp đồng.
- Việc áp dụng các quy định của pháp luật, thể hiện trong hợp đồng mang
thai hộ vào thực tế cuộc sống hiện nay, những thành tự đạt được và những hạn
chế bất cập.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó, nêu ra phương hướng hoàn thiện các
quy định của pháp luật về hợp đồng mang thai hộ.
Tại Bộ luật dân sự Queébec (Canada) 1994 cũng định nghĩa: “Hợp đồng
là một sự thỏa thuận các ý chí mà bởi nó hoặc một số người tự ràng buộc mình
với một hoặc một số người khác để thực hiện một cam kết” (Điều 1378).
Theo Bộ luật dân sự Pháp 1804, “Hợp đồng là sự thỏa thuận mà theo đó
một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều nguời khác chuyển giao một
vật, làm hoặc không làm một việc nào đó” (Điều 1101).
Bộ luật dân sự Nga cho rằng: “Hợp đồng được thừa nhận như một thỏa
thuận đuợc giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 420 khoản 1).
9
Theo Điều 385 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015: “Hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ
dân sự”.
Qua các khảo sát trên ta thấy rằng, định nghĩa hợp đồng đều thể hiện ở 2
vấn đề lớn. Thứ nhất: sự trao đổi và thống nhất giữa các ý chí hay sự thỏa thuận.
Thứ hai, việc tạo lập nên hợp đồng là tạo lập nên một hậu quả pháp lý”[3, tr10 11].
Như vậy, dựa trên các định nghĩa mà tác giả có nêu ra ở trên, thì có thể
tổng kết rằng: “Hợp đồng là thỏa thuận ý chí của các bên khi tham gia quan hệ
dân sự”. Yếu tố thỏa thuận chính là yếu tố quyết định tạo nên hợp đồng. Thỏa
thuận là sự bàn bạc, tham luận, cân nhắc, trao đổi đi đến thống nhất ý chí của đôi
bên, kết hợp với các nhóm quyền và nghĩa vụ khi bàn bạc, thỏa thuận này sau đó
được gọi chung là hợp đồng.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện,
không vì mục đích thương mại, giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ
không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh
sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh
trong ống nghiệm sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai
để người này mang thai và sinh con [19, tr9]. Cặp vợ chồng có nhu cầu mang
Khác với các nước trên thế giới, ở Việt Nam, hợp đồng mang thai hộ
không được thể hiện dưới tên gọi “hợp đồng” mà thể hiện ở một tên gọi khác có
ý nghĩa tương tự là “thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ”. Tuy có
khác nhau về cách đọc cách viết nhưng nội dung của thỏa thuận mang thai hộ
cũng chứa đựng các thông tin chủ thể, các quyền và nghĩa vụ của các bên tham
gia quan hệ mang thai hộ, các thông tin thương lượng của đôi bên trong quá
trình hỗ trợ mang thai, giao nhận con và các thỏa thuận khác…Thỏa thuận mang
thai hộ cũng chính là căn cứ xác lập có tồn tại sự việc mang thai hộ, phân định
rõ trách nhiệm cũng như quyền lợi của các bên trong quan hệ mang thai hộ.
Đồng thời cũng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ
này.
11
Dựa trên sự tương đồng về nội dung cũng như nhiệm vụ của “Thỏa thuận
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và “Hợp đồng mang thai hộ”. Để đảm bảo
sự thống nhất về nội dung nghiên cứu, cũng như tính xuyên suốt trong quá trình
thực hiện đề tài này. Kể từ đây, tác giả xin phép nghiên cứu về “Thoả thuận
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” dưới góc độ của một “Hợp đồng mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo” và phân tích nó dưới cái nhìn của một hợp đồng mang
thai hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cụm từ “Hợp đồng
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” cũng xin được ngắn gọi lại là “hợp đồng
mang thai hộ”.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mang thai hộ vì mực đích nhân đạo theo
quy định của pháp luật Việt Nam
Thứ nhất, hợp đồng mang thai hộ là hợp đồng song vụ
Pháp luật Việt Nam từ trước tới nay, tỏ ra đồng nhất trong việc phân loại
hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ là phân loại đầu tiên được nhắc đến trong
bộ luật dân sự [3, tr190].
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau
điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản
theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận
con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối
nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm
nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan;
nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp
bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp
luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp bên mang thai
hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên
mang thai hộ giao con.”[12, tr68]
Mang thai hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam là mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo, không vì bất cứ lợi ích kinh tế, hay vật chất nào khác. Tuy
13
nhiên, điều đó không làm ảnh hưởng đến tính chất song vụ của hợp đồng này.
Bởi lẽ, nghĩa vụ của đôi bên khi tham gia vào quan hệ mang thai hộ không chỉ
dừng lại ở nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ vật chất. Mà đối với hợp đồng mang thai
hộ, nghĩa vụ của đôi bên còn thể hiện tương xứng với nhau và với đứa trẻ.
Như vậy, có thể thấy trong hợp đồng mang thai hộ, song song với quyền
lợi của bên này, chính là trách nhiệm của bên kia. Tồn tại sự đối xứng về quyền
và lợi ích của các bên trong quan hệ mang thai hộ. Sự đối xứng này không phải
là sự đối xứng tuyệt đối, nhưng nó sự cân bằng về lợi ích của các bên. Sự cân
bằng này cũng tạo nên tính chất song vụ trong hợp đồng mang thai hộ.
Thứ hai, hợp đồng mang thai hộ là một thỏa thuận dân sự đặc biệt.
Khác với những dạng hợp đồng dân sự thông thường khác, khi đối tượng
hướng đến của các hợp đồng này hầu hết là những lợi ích vật chất liên quan đến
tài sản hoặc những giá trị vật chất phục vụ cho đời sống con người. Còn hợp
đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì khác, điểm đặc biệt của loại hợp
nguyên tắc hết sức quan trọng mà cả hai bên cần phải nắm rõ đó là nguyên tắc
tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự. Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân,
chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Khi quyền dân sự của
một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của
Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân
sự của mình; Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc bồi thường thiệt hại…
Trong thực tế đời sống, mang thai hộ đã tồn tại từ lâu, kể từ khi phương
pháp thụ tinh trong ống nghiệm được áp dụng thành công. Duới tên gọi “đẻ
mướn” mang thai hộ chỉ được hiểu đơn thuần là việc một người phụ nữ mang
nặng đẻ đau hộ nguời phụ nữ khác. Sự việc này vẫn xảy ra ngoài thực tế mà
không có bất cứ điều khoản hay chế tài nào bảo vệ nếu có tranh chấp xảy ra.
Nhận thấy sự cần thiết của việc cần có một bộ các quy tắc xử sự chung điều
chỉnh về vấn đề này nên pháp luật đã cho ra đời chế định về mang thai hộ nhằm
đảm bảo cho các quyền dân sự của các chủ thể trong quan hệ này được đảm bảo.
Việc nắm rõ các nguyên tắc trong hợp đồng nhằm đảm bảo cho hợp đồng mang
thai hộ được thiết lập đúng trình tự pháp luật, đúng các quyền và nghĩa vụ. Tôn
trọng đạo đức và pháp luật, phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và
17
bảo đảm ý nghĩa nhân văn to lớn của quan hệ mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo.
Thứ năm, hợp đồng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một hợp đồng
trọng hình thức.
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định “Thỏa thuận về việc mang thai
hộ phải được lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên
nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền
cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công
chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.