Sử dụng sơ đồ trực quan về biển đảo theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 12 ở trường trung học phổ thông (chương trình chuẩn) - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN VỀ BIỂN ĐẢO THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

Chun ngành : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MƠN LỊCH SỬ
Mã số

: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS TRẦN VĨNH TƯỜNG

HUẾ, NĂM 2016
i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.

Huế, ngày 15 tháng 08 năm 2016

An

Lương

Đông,Trường THPT Nguyễn Huệ,… đã giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình làm luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ và
động viên, tạo điều kiện tốt nhất và đóng góp
những ý kiến quý báu về nhiều mặt trong suốt
thời gian tôi học tập.
Huế, tháng 8 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tuyết Nhung

iii

iii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DH

:

Dạy học

GV

:


Đồ dùng trực quan

iv


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ............................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................................. iii
MỤC LỤC .................................................................................................................. 1
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................................ 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................................. 7
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 11
4. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................... 11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................................... 11
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 12
7. Giả thuyết khoa học ......................................................................................................... 13
8. Đóng góp luận văn ........................................................................................................... 13
9. Bố cục luận văn................................................................................................................ 13

CHƯƠNG 1.............................................................................................................. 15
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC .................................................. 15
SỬ DỤNG ĐDTQ VỀ BIỂN ĐẢO THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG ................................................................................................ 15
1.1 Cơ sở lí luận ................................................................................................................... 15
1.1.1. Đồ dùng trực quan: Khái niệm và phân loại ............................................................. 15

2.2.2. Phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu, chương trình giáo dục và nội dung từng bài học
trong sách giáo khoa............................................................................................................ 52
2.2.3. Phải chú ý đến việc tạo hứng thú học tập của HS ..................................................... 53
2.2.4. Phải chú ý phát triển năng lực tự học của học sinh .................................................. 55
2.3.Hệ thống ĐDTQ về biển đảo cần sử dụng để phát triển năng lực của HS trong dạy học
lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn) ........................................ 58
2.4. Bảng tổng hợp những ĐDTQ về biển đảo cần sử dụng theo hướng phát triển năng lực
của HS khi dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn) ........ 59

CHƯƠNG 3.............................................................................................................. 66
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐDTQ VỀ BIỂN ĐẢO THEO HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HS TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở
LỚP 12 TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) ................................... 66
3.1.Một số yêu cầu khi sử dụng ĐDTQ về biển đảo theo hướng phát triển năng lực của HS
trong dạy học lịch sử 12 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn) ........................................ 66
3.1.1. Đảm bảo thực hiện nội dung mục tiêu bài học .......................................................... 66
3.1.2.Phải tiến hành thường xuyên, liên tục và chú ý kiểm tra phát triển năng lực của HS 68

2


3.1.3.Phải sử dụng linh hoạt, đa dạng ĐDTQ về biển đảo trong mỗi bài học để phát triển
năng lực của HS ................................................................................................................... 69
3.1.4. Phải đảm bảo tính vừa sức ........................................................................................ 70
3.1.5.Phải chú ý phát triển năng lực nhận thức của HS ...................................................... 72
3.2.Biện pháp sử dụng ĐDTQ về biển đảo trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 12 trường
THPT (chương trình chuẩn)................................................................................................. 73
3.2.1.Sử dụng ĐDTQ về biển đảo để nêu câu hỏi, bài tập nhận thức theo hướng phát triển
năng lực của HS ................................................................................................................... 73
3.2.2.Sử dụng ĐDTQ về biển đảo để nêu vấn đề theo hướng phát triển năng lực của HS . 77

phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực giải quyết vấn đề.
Trong dạy học lịch sử, có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực
nhận thức của HS bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có việc sử dụng đồ
dùng trực quan. Vì lịch sử là những gì đã vùi sâu vào trong quá khứ, HS không thể
trực tiếp nhìn nhận được vấn đề một cách rõ ràng và cụ thể, chỉ có thể bằng phương
pháp “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ trừu tượng đến thực tiễn”
mới có thể giúp HS hiểu được về quá khứ. Để làm được điều này, giáo viên phải
nắm vững và sử dụng thành thạo các nguyên tắc cơ bản của dạy học lịch sử, như
trình bày miệng, kể chuyện, sử dụng tài liệu thành văn, ĐDTQ…trong đó sử dụng
ĐDTQ là nguyên tắc số 1 góp phần phát triển năng lực nhận thức của HS. Đặc biệt
là trong dạy học lịch sử về biển đảo.
1.2. Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa
chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với
bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157
quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ
biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền
có 1km bờ biển). Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có
biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Trong lịch sử

4


hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình
xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện
tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện
tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2). Vùng biển nước ta có khoảng
3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân
bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, với vị trí đặc biệt quan trọng như
một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Một số đảo

1.3. Do có vị trí chiến lược quan trọng trên tuyến đường hàng hải quốc tế và
nguồn tài nguyên phong phú đa dạng, Biển Đông đang trở thành một điểm nóng về
tranh chấp chủ quyền biển, đảo giữa các nước trong khu vực. Nhiều nước đang đẩy
mạnh tuyên truyền các chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền của họ ở
Biển Đông. Việt Nam có lợi ích chính đáng ở Biển Đông và có chủ quyền không
thể tranh cãi với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính vì vậy, hơn lúc nào
hết, đây là thời điểm đòi hỏi mỗi một người Việt Nam phải tích cực, chủ động hơn
nữa trong việc khẳng định những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền
Việt Nam ở Biển Đông, đặc biệt là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhiệm vụ này được đặt lên vai các nhà khoa học lịch sử, giáo dục lịch sử và cả hệ
thống chính trị. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, những tác phẩm viết về
biển, đảo vẫn còn tương đối hạn chế. Công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ quyền
biển, đảo vẫn chưa được tiến hành thường xuyên, rộng khắp. Đặc biệt, trong
chương trình giáo dục phổ thông vẫn còn những “lỗ hỏng” kiến thức về biển, đảo
nhất là kiến thức lịch sử.
1.4. Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam thông qua năm 2015 đã nếu: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp,
trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.” [19]. Từ yêu cầu về mục tiêu đào tạo, nhiệm vụ, chức
năng của bộ môn Lịch sử ở Trường THPT (THPT) đòi hỏi các nhà sư phạm lịch sử
phải góp phần cung cấp cho HS những hiểu biết chính xác, khoa học, những chứng
cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, cũng như
những chiến công chống ngoại xâm, những thành tựu về phát triển kinh tế, văn hóa
của đất nước gắn liền với vai trò của biển, đảo trong lịch sử. Trên cơ sở đó, vun đắp
nơi các em HS lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức về bảo vệ tài nguyên, chủ

6


Vũ Quang Việt; “Hoàng Sa, Trường Sa hỏi và đáp” của tác giả Trần Nam Tiến;
“Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” của nhà xuất bản Sự thật.

7


Bài đăng trong tạp chí lịch sử quân sự số 6/88 (30) “Các quần đảo Hoàng
Sa. Trường Sa và luật pháp quốc tế”, “Vài nét về hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa” của tác giả Vũ Phi Hoàng, “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường
Sa bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam qua các bằng cứ lịch sử pháp lí”
của tác giả Trần Công Trực, “Một số sự kiện quân sự và hoạt động vũ trang ở khu
vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỉ XIX đến nay” của tác giả Mai Đông,
và nhiều bài viết khác trong tạp chí này.
2.2. Liên quan đến các công trình nghiên cứu về lí luận và phương pháp dạy học
lịch sử
Sử dụng ĐDTQ là một phương pháp dạy học được nhiều nhà lí luận trong
và ngoài nước quan tâm từ rất sớm như: “Chuẩn bị giờ học như thế nào” của tác
giả Đairi hay “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1 và 2 của tác giả Phan Ngọc Liên
(chủ biên); “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường
phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Côi; “Hình thành tri thức lịch sử cho HS phổ
thông” của tác giả Đặng Văn Hồ.
Ngoài ra, còn có các tài liệu giáo dục học khác như: “Giáo dục học” (tập II,
1973)

của

T.A.Ilina;“Phát

triển




giả Phan NgọcLiên, Trần Văn Trị, Nguyễn Phan Quang; “Rèn luyện kĩ năng nghiệp
vụ sư phạm môn LS” (1995) của các tác giả Nguyễn Thị Côi – Trịnh ĐìnhTùng –
Lại Đức Thụ - Trần Đức Minh; giáo trình “Phương pháp dạy học LS” tái bản
quacác năm của Đại học Sư phạm Hà Nội mà các tác giả là Phan Ngọc Liên(chủ
biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi; “Phương pháp dạy - học LS ở trường phổ
thông” (1995), các tác giả Phan Ngọc Liên, Trần VĩnhTường, Đặng Văn Hồ; “Phát
huy tính tích cực của HS trong dạy học LS ở trung học cơ sở” (Sách bồi dưỡng
thường xuyên chu kì 1997-2000 choGV trung học cơ sở);...
Về hướng phát triển năng lực nhận thức của HS, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
chủ trương đổi mới phương pháp dạy học qua các nghị quyết, chỉ thị như quyển:
“Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng
phát triển năng lực HS môn lịch sử”. Hay tập sách “Dạy học tích hợp, phát triển
năng lực HS” gồm 2 quyển của Đại học Sư phạm.
Ngoài ra còn có một số luận văn, công trình nghiên cứu của các học viên,
sinh viên khoa Lịch sử có đề cập đến vấn đề này, như luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Thị Thùy Ngân với đề tài “Sử dụng ĐDTQ quy ước để phát triển năng lực nhận
thức của HS trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1975 ở trường THPT
(chương trình chuẩn)”, luận văn của thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Nâng
cao năng lực nhận thức của HS thông qua dạy học chương trình Crom, sắt, đồng
chương trình Hóa 12 (Ban Nâng cao)”, hoặc nghiên cứu vấn đề năng lực qua các
tài liệu tâm lí học, điển hình:“Giáo trình tâm lí học” (1988, NXBGD) do Phạm
Minh Hạc chủ biên; LêThị Bừng chủ biên “Các thuộc tính tâm lí điển hình của
nhân cách” (2007)…
Tổng quan tình hình nghiên cứu của các công trình có liên quan đếnđề tài
chúng tôi nhận thấy, việc sử dụng ĐDTQ nói chung, và sử dụng ĐDTQ trong dạy
học lịch sử nói riêng đượccác nhà giáo dục học cũng như giáo dục lịch sử đã:
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa tích cực của việc sử dụng ĐDTQ đối với quá
trình dạyhọc và khẳng định nó là một trong những phương pháp dạy học không

Nhưng việc sử dụng ĐDTQ để phát triển năng lực nhận thức và năng lực nhận thức
lịch sử về biển đảo Việt Nam cònrất hạn chế, chưa được nhắc đến. Những vấn đề có
liên quan đến nội dung việc sử dụng ĐDTQ để phát triển năng lực nhận thức cũng
chưa được quan tâm và năng lực nhận thức lịch sử về biển đảo Việt Nam vẫn đang
là mảng trống.Kế thừa công trình của những người đi trước, đặc biệt là

10


nhữngnghiên cứu về nội dung, hình thức của việc sử dụng ĐDTQ để phát triển năng
lực nhận thức trong dạy học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu cụ thể đề tài: “Sử dụng
ĐDTQ về biển đảo theo hướng phát triển năng lực nhận thức của HS trong dạy
học lịch sử Việt Nam lớp 12 trường THPT (Chương trình Chuẩn)”.
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng ĐDTQ về biển đảo
trong dạy học lịch sử Việt Nam theo hướng phát triển năng lực nhận thức của HS ở
lớp 12 trường THPT (Chương trình Chuẩn).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Vì điều kiện khuôn khổ của đề tài, Luận văn Thạc sĩ về việc sử dụng ĐDTQ
về biển đảo theo hướng phát triển năng lực nhận thức của HS ở lớp 12 trường
THPT (Chương trình Chuẩn) trong bài học Lịch sử nội khóa, chủ yếu là bài cung
cấp kiến thức mới.
Vì thế, Luận văn không đi sâu nghiên cứu về biển đảo nói chung mà tập trung
làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, các biện pháp sử dụng ĐDTQ về biển đảo
theo hướng phát triển năng lực nhận thức của HS lớp 12 trường THPT (Chương
trình Chuẩn); phạm vi thực nghiệm sư phạm ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên Huế.
4. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài Luận văn sưu tầm, tìm kiếm, nghiên

trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 12 trường THPT (Chương trình Chuẩn).
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
+ Đọc và nghiên cứu các tài liệu Tâm lý học, giáo dục học, sử học, chính
trị, phương pháp dạy học lịch sử và đặc biệt là lí luận dạy học bộ môn liên quan đến
vấn đề sử dụng ĐDTQvề biển đảo theo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học
lịch sử ở trường phổ thông cùng các tài liệu liên quan đến đề tài.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài.
- Phương pháp thống kê toán học: Luận văn tập hợp, xử lý các số liệu thu
được qua điều tra, thực nghiệm sư phạm bằng cách lập bảng tính các tham số và xử

12


lý theo phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm Microsoft Excel 2013, từ
đó đưa ra kết luận về tính khả thi và phù hợp của đề tài.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp sư phạm về việc sử dụng ĐDTQ về biển đảo theo hướng
phát huy năng lực nhận thức của HS trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 12
trường THPT (Chương trình Chuẩn)mà Luận văn đề xuất được thực hiện đúng yêu
cầu, hình thức, nguyên tắc, quy trình thì sẽ nâng cao năng lực nhận thức của HS,
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học về biển đảo trong lịch sử Việt Nam ở trường
THPT (Chương trình Chuẩn), góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở
trường THPT, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
8. Đóng góp luận văn
Kết quả hoàn thành của Luận văn sẽ có những đóng góp cụ thể sau:
- Khẳng định thêm về lí luận ý nghĩa của việc sử dụng ĐDTQvề biển đảo
theo hướng phát triển năng lực nhận thức của HS trong dạy học bộ môn Lịch sử ở
trường THPT.
- Xác định hệ thống ĐDTQ cần thiết về biển đảo gắn với kiến thức lịch sử

1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1. Đồ dùng trực quan: Khái niệm và phân loại
1.1.1.1.Khái niệm đồ dùng trực quan
Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp được xây dựng trên cơ sở
quán triệt nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học. Trong quá
trình dạy học, giáo viên hướng dẫn HS thực hiện các biện pháp quan sát sự vật, hiện
tượng hay hình ảnh của chúng để trên cơ sở đó mà hình thành khái niệm, tạo biểu
tượng, từ đó giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học,…
Phương pháp trực quan là phương pháp giảng dạy không phải bằng sự giới
thiệu và lời nói mà bằng hình ảnh cụ thể, bằng cảm giác trực tiếp của HS, bằng sự
hướng dẫn của giáo viên nhằm hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo
dục, phục vụ mục đích dạy học và giáo dục.
Phương pháp trực quan được sử dụng trong dạy học lịch sử được xem là
một phương pháp diễn tả những hành động lịch sử khách quan và mẫu mực luôn
luôn gắn liền với sự phát triển tư duy trừu tượng của HS.
Mặc khác, dạy học lịch sử chính là việc tái hiện lại những gì đã xảy ra trong
quá khứ. Cho nên, nếu có thể người giáo viên chính là người dựng lại lịch sử một
cách sinh động như những gì đã từng xả ra. Một trong những biện pháp tái hiện lịch
sử thường được các giáo viên áp dụng là sử dụng tài liệu thành văn, ĐDTQ,… trong
đó ĐDTQ thường được lựa chọn bởi đây là loại đồ dùng thông dụng, dễ làm, dễ sử
dụng nhưng hiệu quả mang lại rất cao. Có thể khẳng định rằng ĐDTQ chính là
phương tiện để đánh thức niềm đam mê học tập lịch sử, kích thích tư duy từ đó phát
triển năng lực nhận thức của HS, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, giáo dục trách

15


nhiệm công dân của HS. Vậy, như thế nào là ĐDTQ? ĐDTQ có ý nghĩa gì trong
dạy học lịch sử?
Như vậy có thể hiểu, ĐDTQ là hệ thống đối tượng vật chất và tất cả những

thuật (tranh lịch sử, phim truyện, chân dung); Biếm họa; Bản đồ; Sơ đồ, Biểu đồ, đồ
thị.
- Cách 3: Chia đồ dùng trực quan thành 4 loại: Hiện vật; Loại hình khối
(mô hình, sa bàn); ĐDTQ quy ước; Loại tranh ảnh.
b. Các loại ĐDTQ
Dù có những quan niệm khác nhau trong việc phân loại ĐDTQ nhưng cách
phân loại phổ biến nhất và được sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường THPT
thường được chia làm 3 nhóm: ĐDTQ hiện vật, tạo hình và quy ước.
Nhóm thứ nhất:
- ĐDTQ hiện vật bao gồm:
 Di tích: có di tích lịch sử (Thành nhà Hồ, Đại Nội Huế, Thành cổ Loa),
di tích cách mạng (cây đa Tân Trào, số nhà 5D Hàm Long), di tích văn hóa, di tích
nghệ thuật điêu khắc (Tháp Chàm, chùa Một Cột). Với việc phân loại di tích như
trên cũng chỉ mang tính tương đối bởi vì có những di tích mang nhiều nội dung
khác nhau như di tích lịch sử - văn hóa, di tích lịch sử - cách mạng.
 Di vật: có hai loại là: di vật khảo cổ là những di vật thời tiền sử khi
chưa có chữ viết bị vùi sâu trong lòng đất và được các nhà khảo cổ học phát hiện
(hài cốt, công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt). Di vật lịch sử qua các thời đại khác
nhau (công cụ đồ đá cũ núi Đọ, trống đồng Đông Sơn, cọc gỗ Bạch Đằng).
Ưu điểm của ĐDTQ hiện vật là một loại tài liệu gốc rất có giá trị, có ý
nghĩa to lớn về mặt nhận thức. Nó là những bằng chứng về sự tồn tại của mỗi thời
kỳ lịch sử. Là vật thực nên giúp cho HS có được những hình ảnh chân thực, cụ thể
về quá khứ từ đó có tư duy lịch sử đúng đắn.
Nhóm thứ hai:
- ĐDTQ tạo hình gồm có các loại phục chế mô hình, sa bàn, tranh lịch sử nó có khả năng khôi phục những hình ảnh của con người, đồ vật, biến cố, sự kiện
lịch sử một cách cụ thể, sinh động và xác thực.
 Mô hình, sa bàn và các loại đồ phục chế khác có khả năng diễn tả đầy
đủ vẻ bề ngoài của một sự vật hay sự kiện lịch sử (công cụ lao dộng, vũ khí, một
chiến dịch hay một trận đánh, một vị trí then chốt,…)


thấy khái niệm chung về các hiện tượng (sự kiện) đã được biểu hiện trên bản đồ,
nêu bật được những nét cơ bản của chúng

18


 Đồ thị: là một loại ĐDTQ quy ước được sử dụng trong dạy học lịch sử
để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện, hiện tượng lịch sử, trên
cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học, giúp HS dễ hình dung về tiến
trình phát triển của sự kiện, hiện tượng ấy. “Đồ thị có thể biểu diễn bằng một mũi
tên, sự phát triển của mỗi hiện tượng lịch sử, hoặc biểu diễn của một trục tọa độ:
trục hoành (ghi thời gian) và trục tung (ghi sự kiện)” [41 tr.50]. Có 2 loại loại đồ
thị:
+Đồ thị đơn giản: được thể hiện bằng mũi tên minh họa sự phát triển đi lên
hay đi xuống của một sự kiện, hiện tượng lịch sử cùng với ngày tháng diễn ra hiện
tượng, sự kiện ấy.
+ Đồ thị phức tạp: là loại đồ thị đảm bảo các yêu cầu, các yếu tố của một
đồ thị (trục tung, trục hoành, tỉ lệ, các đường giao nhau). Trong dạy học lịch sử,
người ta thường dùng trục hoành để ghi ngày tháng, trục tung để ghi các sự kiện chủ
yếu, tương ứng với niên đại của trục hoành, sau đó nối các đường giao nhau của sự
kiện và niên đại tạo thành đường biểu diễn sự vận động và phát triển của sự kiện
lịch sử cụ thể (đồ thị biểu diễn sự phát triển đi lên của Cách mạng Tháng Mười Nga
1917).
Đồ thị thường được dùng trong bài nghiên cứu kiến thức mới để biểu thị
diễn biến, tiến trình vận động của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đồng thời, khi sử
dụng giáo viên cần phải kết hợp các phương pháp như trình bày miệng, thông báo,
tường thuật… Bên cạnh đố, đồ thị còn được dùng để củng cố kiến thức, quá trình ôn
tập và ra bài tập về nhà, thực hành bộ môn.
 Đồ họa: là một loại ĐDTQ quy ước được minh họa bằng hình vẽ, nhằm
phác thảo những nét khái quát về hình dáng bên ngoài hoặc cấu trúc bên trong của

loại hat khác loại (bảng so sánh nội hàm khái niệm giữa cách mạng tư sản và cách
mạng vô sản).
Niên biểu được sử dụng nhiều nhất là ở các bài sơ kết, tổng kết, bài cung
cấp kiến thức mới, ra bài tập về nhà.
Ở bài sơ kết, tổng kết niên biểu được sử dụng chủ yếu để kết thúc một
chương, một giai đoạn hay một thời kỳ lịch sử giúp HS ôn lại những kiến thức đã
học, khắc sâu thêm một lần nữa cho các em qua đó góp phần phát triển tư duy HS.
Trong bài truyền thụ kiến thức mới, giáo viên sử dụng niên biểu khi cần
giúp HS nắm kiến thức một cách có hệ thống. Từ đó giúp các em nhớ lâu, nhớ kỹ và
biết sắp xếp các sự kiện hiện tượng lịch sử theo thứ tự về thời gian.

20


Ngoài ra niên biểu còn được sử dụng để ra bài tập về nhà cho HS giúp các
em tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện kỹ năng.
 Sơ đồ: là loại ĐDTQ quy ước “nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện bằng
những mô hình hình học đơn giả để diễn tả, trình bày về cơ cáu xã hội, tổ chức bộ
máy nhà nước, nội dung một sự kiện lịch sử hay mối quan hệ giữa các sự kiện lịch
sử” [41, tr.50].
 Sơ đồ thường được sử dụng trong bài cung cấp kiến thức mới để biểu thị
các mối quan hệ xã hội hay các mô hình kết cấu của Nhà nước, của nền kinh tế.
Khi sử dụng sơ đồ, giáo viên cần phải kết hợp với giải thích, phân tích,
thuyết trình miêu tả để HS hiểu sự kiện một cách căn kẽ và chính xác. Sơ đồ còn có
thể dùng trong bài ôn tập, sơ kết, tổng kết. Có thể vẽ sơ đồ lên bảng hoặc cũng có
thể vẽ sẵn trên bìa cứng để trong quá trình giảng bài mới sẽ sử dụng.
 Biểu đồ:
Biểu đồ lịch sử “nhằm diễn tả, so sánh sự thay đổi trong cơ cấu hay mặt
cấu tạo của một hiện tượng lịch sử. Biểu đồ được thể hiện dưới nhiều dạng như
biểu đồ chiều dài, biểu đồ diện tích (hình vuông, hình tròn), biểu đồ thể tích (hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status