Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân tại TPHCM - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ NGỌC LINH

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI TPHCM

Chuyên ngành: Thương Mại
Mã ngành: 60.34.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

1


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013

LỜI CẢM ƠN

Thông qua luận văn tốt nghiệp này tôi xin gửi lời tri ân đến Quý Thầy Cô
Khoa Thương Mại – Du Lịch – Marketing, trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí
Minh, đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian học tập vừa qua. Tôi
cũng xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Đoàn Thị Hồng Vân đã tận tình giúp đỡ
và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Đồng thời tôi cũng xin
gửi lời cảm ơn đến người thân, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh giúp đỡ và
động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập.



MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa

i

Lời cảm ơn

ii

Lời cam đoan

iii

Mục lục iv
Danh mục các bảng

viii

Danh mục các hình vẽ, đồ thị ix

5


Danh mục từ viết tắt
Lời mở đầu

x


• Lý thuyết triển vọng5
• Lý thuyết tiếc nuối 6
• Lý thuyết quá tự tin 6
• Lý thuyết mâu thuẫn nhận thức

7

1.1.5 Lý thuyết tâm lý đám đông

7

• Các mô hình nghiên cứu về yếu tố tâm lý của nhà đầu tư cá nhân
8

6


• Mô hình nghiên cứu của Pi – Chuan Sun & Shu Chun Hsiao 8
• Mô hình nghiên cứu của H. Kent Baker & John R. Nofsinger 11
1.3 Mô hình nghiên cứu của Robert A. Nagy & Robert W. Obenberger về
yếu tố tài chính của nhà đầu tư cá nhân

20

• Các kết quả nghiên cứu trước đây

21

• Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

• Tình hình hoạt động của TTCK Việt trong năm 2012

7

31


• Đặc điểm nhà đầu tư cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh33
• Diễn biến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư cá nhân 36
Tóm tắt chương 2

39

CHƯƠNG 3.THẾT KẾ NGHIÊN CỨU
• Quy trình nghiên cứu

40

3.2 Nghiên cứu định tính

40

• Mục tiêu

40

3.2.2 Cách thực hiện
3.2.3 Kết quả

40


• Xây dựng ma trận tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
66
• Xác lập phương trình hồi quy

67

• Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu 71
Tóm tắt chương 4

73

CHƯƠNG 5. CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ THU HÚT NHÀ
ĐẦU TƯ CÁ NHÂN GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 74
• Mục đích xây dựng giải pháp

74

• Căn cứ xây dựng giải pháp

74

• Các giải pháp

74

• Các kiến nghị

81

Bảng 4.1 Phân loại mẫu theo sàn đầu tư 55
Bảng 4.2 Phân loại mẫu theo thời gian tham gia thị trường chứng khoán
Bảng 4.3 Phân loại mẫu theo loại nhà đầu tư
Bảng 4.4 Phân loại mẫu theo giới tính

57

10

56

56


Bảng 4.5 Phân loại mẫu theo trình độ

57

Bảng 4.6 Phân loại mẫu theo tuổi tác

58

Bảng 4.7 Phân loại mẫu theo tình trạng gia đình 58
Bảng 4.8 Phân loại mẫu theo thu nhập hàng tháng
Bảng 4.9 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Bảng 4.10 Kết quả phân tích nhân tố

59

60

12

49


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP:

Cổ phiếu

DN:

Doanh nghiệp

SGDCK:

Sở giao dịch chứng khoán

SBS:

Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Sacombank

TP. HCM:

Thành Phố Hồ Chí Minh

TTCK:

Thị trường chứng khoán



14


của nhiều nhân tố khác nhau tùy theo từng giai đoạn.
Là một nhân viên của công ty chứng khoán, qua quá trình làm việc, tiếp xúc
với nhà đầu tư, tác giả nhận thấy được ở mỗi thời điểm khác nhau nhà đầu tư
thường quyết định mua bán cổ phiếu dựa vào những yếu tố khác nhau. Do đó tác
giả đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư
cá nhân trong diễn biến thị trường đang phục hồi. Từ nghiên cứu này sẽ khẳng
định lại và nhận dạng thêm các yếu tố ảnh hưởng xét trong hoàn cảnh cụ thể khi
thị trường đang phục hồi, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần phát triển thị
trường chứng khoán Việt Nam.
• Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài có 3 mục tiêu chính:
• Nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân xét tại
thời điểm thị trường cổ phiếu đang phục hồi.
• Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến quyết định của nhà đầu tư
cá nhân.
• Đề xuất giải pháp nhằm thu hút nhà đầu tư góp phần phát triển thị trường
chứng khoán Việt Nam.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: các nhà đầu tư cá nhân tham gia giao dịch cổ phiếu trên
thị trường chứng khoán tại TP. HCM, chỉ khảo sát các nhà đầu tư trong nước,
không xét các nhà đầu tư nước ngoài.

15


• Phạm vi nghiên cứu: chỉ thực hiện nghiên cứu tại các sàn giao dịch của công ty

cách nhà đầu tư cảm nhận và ảnh hưởng của xã hội.
• Nghiên cứu “Factors Influencing Individual Investor Behavior” của Robert A.
Nagy và Robert W. Obenberger (1994) nghiên cứu về các yếu tố tài chính có ảnh
hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là yếu tố về nhận thức cá nhân,
thông tin về cổ phiếu, thông tin thị trường và nhu cầu tài chính cá nhân.
• Đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế: “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết
định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Việt Nam tại TTCK TP. HCM ” của học
viên Man Thái Hưng (Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM – năm 2007) đã xác
định được các yếu tố hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là tâm lý nhà
đầu tư, phân tích cơ bản và thông tin thị trường, nhưng nghiên cứu này thực hiện
vào thời điểm thị trường chứng khoán đang tăng trưởng và không đưa ra yếu tố
tâm lý cụ thể nào.
• Tương tự, đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân năm 2007” của học viên Đặng
Thị Thúy Dung (Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM – năm 2007) cũng thực
hiện vào thời điểm thị trường đang tăng trưởng và xác định được các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là niềm tin đối với nhân viên môi
giới, yếu tố nhận biết về cổ phiếu, yếu tố chấp nhận rủi ro và yếu tố hài lòng về
những quyết định mua trước đây.
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu nước ngoài chỉ nghiên cứu về các yếu tố tài
chính hoặc các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến nhà đầu tư cá nhân, còn các nghiên

17


cứu trong nước chủ yếu nghiên cứu trong thời điểm thị trường chứng khoán đang
tăng trưởng, do đó đề tài này có tính mới là sẽ nghiên cứu cả yếu tố tài chính và
tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trong thời điểm thị
trường đang phục hồi.
• Bố cục của đề tài

tư muốn nắm chắc nó, nhưng với khoản lỗ, nhà đầu tư trở nên liều lĩnh hơn, chấp
nhận rủi ro nhiều hơn.
Lý thuyết này dùng để giải thích xu hướng mua bán cổ phiếu của các nhà đầu
tư: bán quá nhanh cổ phiếu có lời và giữ cổ phiếu lỗ quá lâu, bởi vì nhà đầu tư kỳ
vọng rằng cổ phiếu đang sụt giá sẽ tốt hơn cổ phiếu đang lời của họ trong tương
lai. Một nhà đầu tư đã mua cổ phiếu vì những thông tin có triển vọng sẽ nhanh
chóng bán cổ phiếu này khi giá cổ phiếu tăng bởi vì họ tin vào thông tin của họ và
19


họ cho rằng thông tin này bây giờ đã tương ứng với giá cổ phiếu (Brad M. Barker,
1999, The Courage of Misguided Conviction: The Trading Behavior of Individual
Investors). Như vậy, lý thuyết này tập trung vào tâm lý kỳ vọng vào lợi nhuận của
nhà đầu tư và tâm lý thích an toàn, khi nhà đầu tư cảm thấy họ đạt được lợi nhuận
mong muốn thì sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích khả năng tăng
thêm lợi nhuận”
• Lý thuyết tiếc nuối
Kahneman, Paul Slovic và Tversky’s cũng đưa ra lý thuyết tiếc nuối vào năm
1982 là con người luôn có khuynh hướng cảm thấy khổ sở, đau buồn sau khi phạm
phải một sai lầm trong phán đoán. Bên cạnh đó, lý giải cho xu hướng “bán cổ
phiếu lời quá nhanh và giữ cổ phiếu lỗ quá lâu” lý thuyết tiếc nuối của Odean
(1998) cho rằng nhà đầu tư luôn nghĩ rằng những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng
tốt trở lại, họ sợ phải nuối tiếc khi bán lỗ cổ phiếu này.
Lý thuyết này đã tập trung lý giải cho tâm lý của nhà đầu tư khi đối mặt với
tình trạng thua lỗ, lúc này nhà đầu tư lại càng kỳ vọng vào lợi nhuận của họ trong
tương lai, họ sợ nuối tiếc nếu như phải bán lỗ. Trong hoàn cảnh đối mặt với rủi ro,
nhà đầu tư càng thể hiện sự liều lĩnh của mình.
• Lý thuyết quá tự tin
Sự tự tin của con người thể hiện ở con người có xu hướng đánh giá sự chính
xác về hiểu biết của họ (Fischhoff, Slovic & Lichtentein, 1977) và khả năng phán

Lý thuyết này cho thấy sự tự tin quá mức của nhà đầu tư, họ không chấp nhận
sai lầm của họ mà vẫn tìm lý lẽ để biện hộ và níu kéo hy vọng. Chính lý thuyết
này giải thích nguyên nhân các nhà đầu tư càng lún sâu vào các khoản đầu tư lỗ,
thay vì thừa nhận và đầu tư vào những loại cổ phiếu mới.
• Lý thuyết tâm lý đám đông
Theo lý thuyết này, làm theo đám đông không chỉ giới hạn với những nhà đầu
tư chưa có kinh nghiệm mà việc làm theo đám đông xuất hiện trực tiếp đến những
tình huống không chắc chắn và mơ hồ (Olsen & Robert A., 2000).
Khi 1 tình huống ra quyết định trở nên không chắc chắn thì ảnh hưởng hành vi
và quan điểm của đám đông sẽ làm cho các cá nhân trở nên chắc chắn hơn (Blake
& Helson, 1957; Crutchfield, 1955; Ghosh & Ray, 1997). Những nhà nhân chủng
học đã ghi chép trong khoảng thời gian rất lâu rằng một trong những mơ ước cơ
bản xã hội của loài người và những động vật khác là sự thôi thúc giao tiếp xã hội.
Hầu như trong lịch sử nhân loại, sự giao tiếp xã hội được đáp ứng bởi những thành
viên của một nhóm người. Khi xuất hiện những hành vi của một nhóm người sẽ
gây sự chú ý đến bộ não của con người (Brothers, 1997).
Như vậy lý thuyết này đã khẳng định, tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá
trình ra quyết định của con người cũng như nhà đầu tư không phân biệt việc có
kinh nghiệm hay không. Và lý thuyết ảnh hưởng đám đông này càng thấy rõ khi
nhà đầu tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh chóng, chưa có đầy đủ thông tin
cần thiết.
• CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ YẾU TỐ TÂM LÝ CỦA NHÀ ĐẦU

22


TƯ CÁ NHÂN
Có khá nhiều nghiên cứu về tâm lý của nhà đầu tư cá nhân, tuy nhiên sau khi
đã xem xét kỹ về đặc điểm nhà đầu tư cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh có 2
nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu này là nghiên cứu của Pi-Chuan Sun & Shu

Còn theo Siller (2000) lý thuyết sự nuối tiếc có thể giúp giải thích những yếu
tố mà nhà đầu tư trì hoãn viêc bán cổ phiếu đã giảm giá và sẵn sàng bán cổ phiếu

24


đang tăng giá. Bởi vì nhà đầu tư nghĩ giá cổ phiếu sẽ tuân theo chu kỳ, sau khi
giảm thì sẽ lại tăng cho nên nhà đầu tư chấp nhận chờ đợi cổ phiếu tăng giá trở lại
hơn là phải bán lỗ ngay mà không phân tích nhiều về nguyên nhân thật sự làm cho
giá cổ phiếu giảm.
Trong trường hợp này cũng thể hiện sự tự tin quá mức vào khả năng tự kiểm
soát tình huống của nhà đầu tư. Họ cho những gì mình nghĩ về chu kỳ giá là đúng
nên dựa vào đó mà quyết định.
1.2.1.3 Tính toán bất hợp lý
Các nhà nghiên cứu Tversky & Kahneman (1981), Thaler (1985), Kahneman
& Lovallo (1993) cho rằng tính toán bất hợp lý là việc nhà đầu tư chia kết quả ra
thành nhiều phần riêng biệt còn đối với Thaler (1999) cho rằng những tính toán
giả thuyết về thành công hay thất bại thì đòi hỏi phải khéo léo, nhưng rõ ràng việc
nhận thấy sự thất bại thực tế rất khó so với thất bại trong giả thuyết. Bởi vì, thất
bại thì thật tồi tệ, một dự báo về việc tính toán bất hợp lý là con người sẽ miễn
cưỡng bán cổ phiếu đang bị thua lỗ của họ. Nguyên nhân chính của việc nhận ra
thất bại thực tế khó hơn trong giả thuyết bởi vì lúc này nhà đầu tư xem xét vấn đề
không theo tổng thể mà lại tách từng thành phần liên quan ra thành những yếu tố
nhỏ để phân tích độc lập, trong khi nhìn tổng thể các yếu tố này có thể ảnh hưởng
qua lại với nhau. Do đó, những tính toán này của nhà đầu tư dẫn đến những quyết
định sai lầm.
Năm 2000, Shefrin & Statement cũng đã phát triển lý thuyết danh mục đầu tư
của hành vi đầu tư dựa trên lý thuyết triển vọng của Lopes (1987) và Kahneman &
Tversky (1979). Hai ông đã tận dụng những tính toán đơn giản và phức tạp để suy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status