Bài 1
GIớI THIệU Về NÂNG CAO SứC KHOẻ
MụC TIÊU
1.
Nêu đợc các khái niệm về Sức khỏe, Giáo dục sức khỏe và Nâng cao sức khỏe.
2.
Trình bày đợc quá trình phát triển của Giáo dục sức khỏe và Nâng cao sức khỏe.
3.
Trình bày đợc các nguyên tắc chính của Nâng cao sức khỏe.
4.
Trình bày đợc những chiến lợc hành động chính của Nâng cao sức khỏe ở
các nớc đang phát triển.
1. SứC KHỏE V CHĂM SóC SứC KHỏE BAN ĐầU
Ngay từ khi hình thành cuộc sống của con ngời, sức khỏe đã trở thành một chủ
đề quan tâm chính của nhân loại. Nhiều y văn trớc đây đã đề cập sự chống chọi với
bệnh tật của con ngời và miêu tả những yếu tố tác động có hại với sức khỏe cũng nh
các yếu tố giúp cho con ngời khỏe mạnh và kéo dài cuộc sống.
Ngày nay con ngời đã có nhiều kiến thức và phơng tiện để phòng ngừa và
kiểm soát bệnh tật. Nhiều ngời đã biết cách phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe cho cá
nhân, cho gia đình và cho cả cộng đồng. Nhng thực tế kiến thức và kĩ năng về sức
khỏe, chăm sóc sức khỏe, các nguồn lực cần thiết còn nhiều khác biệt giữa các cá
nhân, các cộng đồng. Gần đây, khoa học y học đã có những tiến bộ vợt bậc. Chúng ta
đã hiểu biết toàn diện hơn, sâu hơn về các yếu tố nguy cơ của bệnh tật, các thông tin
dịch tễ về tình hình bệnh tật, đau ốm, chết non ở các nhóm dân c khác nhau trong
cộng đồng. Thực tế cũng cho chúng ta thấy rằng sự cải thiện rõ rệt về sức khỏe khó có
thể đạt đợc nếu thiếu sự cải thiện các điều kiện kinh tế và xã hội. Nghèo đói, điều
kiện sống thiếu thốn, hạn chế về học hành, thiếu các thông tin, kiến thức về sức khỏe
là các trở ngại chính cho ngời dân có đợc tình trạng sức khỏe mong muốn. Chúng ta
cũng hiểu sâu sắc hơn về sự bất công bằng trong chăm sóc sức khỏe và các giải pháp
để từng bớc cải thiện vấn đề này.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đợc thành lập vào năm 1946, với mong muốn
phát triển để hành động hớng đến mục đích sức khỏe cho mọi ngời. CSSKBĐ tập
trung giải quyết tám chủ đề chính:
1.
Giáo dục về các vấn đề sức khỏe phổ biến, cũng nh các phơng pháp để
phòng ngừa và kiểm soát chúng.
2.
Cung cấp đầy đủ nớc sạch và các vấn đề vệ sinh cơ bản.
3.
Tăng cờng việc cung cấp thực phẩm và dinh dỡng hợp lí.
4.
Tiêm chủng phòng các bệnh lây nhiễm chính.
5.
Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, bao gồm cả kế hoạch hóa gia đình.
6.
Điều trị thích hợp các bệnh thông thờng và chấn thơng.
7.
Phòng và kiểm soát các bệnh dịch tại địa phơng.
8.
Đảm bảo thuốc thiết yếu.
Việt Nam đã bổ sung thêm hai chủ đề quan trọng nữa trong thực tế chiến lợc
hoạt động của quốc gia, đó là:
9.
Củng cố mạng lới y tế cơ sở và
10.
Tăng cờng công tác quản lí sức khoẻ tuyến cơ sở.
Tiếp cận CSSKBĐ ở các nớc đã và đang phát triển có những mục tiêu sau:
Tạo điều kiện cho ngời dân có thể tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại
nhà, trong trờng học, trong nhà máy, tại nơi làm việc.
Tạo điều kiện cho ngời dân phòng ngừa bệnh tật và chấn thơng có thể
phòng tránh đợc.
không lành mạnh, trang bị cho họ những kiến thức và kĩ năng để có đợc cuộc sống
khỏe mạnh thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe nh t vấn, thuyết phục và truyền
thông đại chúng.
Một trong những khó khăn thờng gặp phải trong GDSK là quyền tự do lựa chọn
thông tin và mức độ tự nguyện thực hiện của ngời dân. Nếu ngời dân không nhận
thức đúng, không tự nguyện làm theo hớng dẫn, mà họ lại lựa chọn, quyết định thực
hiện những hành vi có hại cho sức khỏe thì dù ngời làm công tác GDSK, các nhân
viên y tế có xác định đúng nhu cầu của ngời dân, quyết định cách thức, thời điểm can
thiệp phù hợp, sử dụng những phơng tiện truyền thông hiệu quả, họ có cố gắng đảm
bảo sự hài lòng của ngời dân đến mức nào đi chăng nữa thì kết quả của những hoạt
động GDSK vẫn rất thấp.
11
Khi xem xét GDSK trên phơng diện thực hành, chúng ta có thể nghĩ rằng
GDSK là sự cung cấp thông tin và nó sẽ thành công trong việc tăng cờng sức khỏe
khi đối tợng làm theo lời khuyên của chúng ta. Nhng đối với một số nhà GDSK khác
thì giáo dục là một phơng tiện của sự "tìm hiểu" đối tợng. Ngời dân không phải là
một chiếc bình rỗng để ta sẽ đổ đầy thông tin liên quan, lời khuyên, hớng dẫn để
thay đổi hành vi của họ. Chúng ta đã biết, thông tin về nguy cơ của việc hút thuốc lá
đã đợc biết đến từ năm 1963, thông tin về lây nhiễm HIV/AIDS đã đợc biết từ năm
1986 nhng có một tỷ lệ đáng kể ngời dân vẫn tiếp tục hút thuốc và quan hệ tình dục
không an toàn. Những nhà GDSK này cho rằng không dễ dàng thuyết phục đợc
ngời dân và càng không thể ép buộc đợc họ vì điều này có thể không những không
đạt đợc hiệu quả, mà còn có thể ảnh hởng đến khía cạnh đạo đức. Ngời GDSK phải
là ngời trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngời dân thực hiện hành vi lành mạnh.
Ngoài việc yêu cầu ngời dân phải làm những gì, ngời GDSK phải cùng làm việc với
ngời dân để tìm hiểu nhu cầu của họ, và cùng hành động hớng đến sự lựa chọn các
hành vi lành mạnh trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về những hành vi có hại cho sức khỏe.
Green và cộng sự (1980) đã định nghĩa GDSK là sự tổng hợp các kinh nghiệm
nhằm tạo điều kiện thuận lợi để ngời dân chấp nhận một cách tự nguyện các hành vi có
cũng nh của công tác chăm sóc sức khỏe nói chung. GDSK nhằm hình thành và thúc
đẩy những hành vi lành mạnh. Hành vi của con ngời có thể là nguyên nhân chính gây
ra một vấn đề sức khỏe. Ví dụ nghiện hút thuốc lá có thể gây ra ung th phổi. Tác
động để đối tợng không hút thuốc hoặc cai thuốc lá trong trờng hợp này là giải pháp
chính. Bằng cách thay đổi hành vi, chúng ta có thể ngăn ngừa hoặc giải quyết đợc vấn
đề của họ. Thông qua GDSK chúng ta giúp mọi ngời hiểu rõ hành vi của họ, biết
đợc hành vi của họ tác động, ảnh hởng đến sức khỏe của họ nh thế nào. Chúng ta
động viên mọi ngời tự lựa chọn một cuộc sống lành mạnh, chứ không cố tình ép buộc
thay đổi.
GDSK không thay thế đợc các dịch vụ y tế khác, nhng nó rất cần thiết để đẩy
mạnh việc sử dụng đúng các dịch vụ này. Tiêm chủng là một minh họa rõ nét: nếu
nhiều ngời không hiểu rõ và không tham gia tiêm chủng thì những thành tựu về
vaccin sẽ chẳng có ý nghĩa gì; thùng rác công cộng sẽ vô ích trừ phi mọi ngời đều có
thói quen bỏ rác vào đó. GDSK khuyến khích những hành vi lành mạnh, làm sức khỏe
tốt lên, phòng ngừa ốm đau, chăm sóc và phục hồi sức khỏe. Đối tợng của các
chơng trình GDSK chính là những cá nhân, những gia đình, những nhóm ngời, tổ
chức và những cộng đồng khác nhau.
Tuy nhiên, nếu chỉ có GDSK nhằm thay đổi hành vi của ngời dân thì cha đủ vì
hành vi của con ngời có liên quan với nhiều yếu tố. Chính vì thế, để hành vi sức khỏe
của ngời dân thay đổi, duy trì và bền vững thì chúng ta phải có những chiến lợc tác
động đến các yếu tố khác ảnh hởng đến hành vi nh: các nguồn lực sẵn có, sự ủng hộ
của những ngời ra quyết định, ngời hoạch định chính sách, môi trờng tự nhiên và
xã hội... và đây chính là hoạt động của lĩnh vực NCSK. Hành vi sức khỏe đợc hiểu nh
thế nào? Yếu tố cụ thể nào ảnh hởng đến hành vi? Khái niệm và nội dung của NCSK
và các hoạt động của quá trình này sẽ đợc xem xét đầy đủ trong những bài tiếp theo.
2.4. Ngời làm công tác giáo dục sức khoẻ
Có một số ngời đợc đào tạo để chuyên làm công tác GDSK, họ đợc coi là
những chuyên gia về lĩnh vực này. Công việc của các cán bộ chuyên môn khác nh:
bác sĩ, điều dỡng, hộ sinh, giáo viên, huấn luyện viên... đều ít nhiều có liên quan đến
việc cung cấp thông tin, tuyên truyền, hớng dẫn, giúp đỡ ngời dân tăng cờng, nâng
giải quyết những thách thức nhằm làm giảm sự bất công bằng về chăm sóc sức khỏe;
mở rộng phạm vi dự phòng, giúp ngời dân đối phó với hoàn cảnh của họ; tạo ra môi
trờng có lợi cho sức khỏe trong đó ngời dân có khả năng tự chăm sóc cho bản thân
họ một cách tốt hơn". Hội nghị đã đa ra bản Hiến chơng về NCSK trong đó chỉ rõ
năm lĩnh vực hành động đợc coi nh những chiến lợc chính để triển khai các chơng
trình can thiệp nhằm cải thiện tình trạng sức khoẻ của ngời dân, nâng cao chất lợng
cuộc sống, đó là:
1.
Xây dựng chính sách công cộng về sức khỏe.
2.
Tạo ra những môi trờng hỗ trợ.
3.
Huy động sự tham gia và đẩy mạnh hành động cộng đồng.
4.
Phát triển những kĩ năng cá nhân và
5.
Định hớng lại các dịch vụ sức khỏe hớng về dự phòng và NCSK.
Các thành viên tham dự Hội nghị đã thống nhất quan điểm vận động tạo ra sự
cam kết chính trị cho sức khỏe và công bằng trong tất cả các lĩnh vực liên quan, đáp
ứng những nhu cầu sức khỏe ở các quốc gia khác nhau, khắc phục sự bất công bằng
14