MỞ ĐẦU
Bệnh truyền nhiễm là căn bệnh nguy hiểm cướp đi sinh mạng của rất nhiều người
trên thế giới, đặc biệt là ở những nước đang phát triển. Cho đến nay bệnh truyền nhiễm
vẫn chưa có thuốc điều trị hoặc nếu có thì giá thành vẫn còn cao so với mức thu nhập
của người dân ở các nước này. Vì vậy vaccine đã trở thành phương tiện quan trọng và
hiệu quả trong việc phòng và chống lại các căn bệnh truyền nhiễm [11].
Nằm trong số những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh dại vẫn còn là vấn đề
nghiêm trọng với các nước đang phát triển, gây ra tỷ lệ tử vong cao cho người và gia
súc. Hàng năm, có khoảng 50.000 người chết vì những căn bệnh này và có tới 10 triệu
liều vaccine được dùng. Hơn 99% người chết do bệnh dại là ở châu Phi, châu Á và Nam
Mỹ trong đó chỉ tính riêng Ấn Độ mỗi năm có tới 30.000 người chết (Theo báo cáo của
tổ chức y tế thế giới). Hiện nay, có hơn 2,5 tỷ người đang sống trong vùng có tiềm ẩn
bệnh dại, trong đó trẻ em ở vào độ tuổi từ 5 - 15 có nguy cơ mắc bệnh cao nhất [33].
Ở Việt Nam, bệnh dại vẫn đang là vấn đề nan giải. Theo số lượng thống kê của
Viện Paster chỉ tính riêng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001, trên địa bàn Thành phố có
82.000 người bị súc vật cắn phải đi tiêm phòng tại các cơ quan y tế. Nhưng hiện nay vẫn
chưa có thuốc đặc trị căn bệnh này, vì vậy việc phòng chống bệnh bằng vaccine là
phương pháp tối ưu nhất. Tuy nhiên, những loại vaccine trên thị trường hiện nay phổ
biến là loại vaccine bất hoạt. Vaccine này có nhiều hạn chế như phản ứng phụ cao,
không an toàn tuyệt đối, virus có thể phục hồi lại khả năng gây bệnh.
Sự phát triển của công nghệ sinh học đã cho phép tạo ra những loại vaccine hoàn
toàn mới. Những loại vaccine này có thể từ trước tới nay chưa hề có, hoặc đơn giản có
thể chỉ là những vaccine có hiệu lực cao hơn và phản ứng phụ ít hơn so với vaccine cổ
điển. Hiện nay, sử dụng phương pháp ADN tái tổ hợp trên các đối tượng khác nhau như
E. coli, nấm men… người ta đã tạo thành công một số loại vaccine thế hệ mới. Nhưng
đối với vaccine dại và một số loại vaccine khác việc biểu hiện trong các tế bào vi sinh
vật lại gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc nghiên cứu sản xuất vaccine trên các đối tượng
cây trồng (khoai lang, đu đủ, lạc, cà chua, thuốc lá…) đang được nhiều nhà khoa học
quan tâm vì tính hiệu quả của nó. Sản xuất vaccine tái tổ hợp trên các đối tượng cây
trồng sẽ giảm giá thành xuống rất nhiều so với vaccine đang được sản xuất trên tế bào
động vật. Vì vaccine thực vật có thể sản xuất được một lượng lớn, kỹ thuật đơn giản phù
nớc này nữa. Thực tế cho thấy rằng, tỷ lệ bệnh truyền nhiễm giảm đáng kể là nhờ việc
sử dụng một cách rộng rãi vaccine cho việc phòng chống bệnh trong nhiều thập kỷ qua.
Ví dụ cụ thể đối với bệnh đậu mùa, năm 1967 có tới hơn mời triệu ngời mắc, bệnh này
đã lan truyền trên 30 nớc, nhng đến nay nhờ việc sử dụng vaccine trong nhiều năm mà
ngời ta đã loại bỏ đợc hoàn toàn căn bệnh này [2]. ở Việt Nam, sau một thời gian dài
thực hiện việc tiêm chủng liên tục, vào năm 2000 chúng ta đã tuyên bố với cả thế giới
về việc đã thanh toán xong bệnh bại liệt.
Hiệu quả của việc sử dụng vaccine không chỉ giới hạn ở mặt phòng và chữa bệnh
mà còn rất có lợi về mặt kinh tế. Chi phí cho tiêm chủng rẻ hơn rất nhiều so với để cho
ngời dân mắc bệnh rối mới chữa. Các thuốc kháng sinh cũng nh hoá trị liệu thờng rất
đắt tiền, đấy là cha kể tới chi phí về đi lại, giảm năng suất lao động, gây ra tác dụng phụ
cũng nh gia tăng chi phí về dịch vụ y tế [9].
3
Bên cạnh đó vaccine còn có vai trò quan trọng trong ngành thú y, đặc biệt đối
với các cơ sở chăn nuôi có mật độ gia súc cao làm cho khả năng lây nhiễm gia tăng
nhanh chóng. Nhất là trong tình trạng hiện nay, chúng ta đang phải đối phó với nhiều
loại dịch bệnh gây tổn thất nặng nề cho nên kinh tế quốc dân, điển hình là bệnh cúm
gia cầm xuất hiện gần đây ở nớc ta [4].
Hiện nay, nhiều loại accine giảm độc lực và vaccine bất hoạt đang đợc sử dụng
để dự phòng nhiều loại bệnh khác nhau. Vấn đề đáng lo ngại là các vaccine sống giảm
độc lực gặp phải là sự phục hồi trở lại khả năng gây bệnh của chúng. Chẳng hạn nh
vaccine Sabin (vaccine giảm độc lực để phòng bệnh bại liệt), trình tự axit nucleic của
chủng vaccine và chủng hoang dại chỉ khác nhau có hai nuclêotit vì vậy theo thời gian
chúng có thể đột biến ngợc trở lại thành chủng hoang dại có khả năng gây bệnh. Theo
thống kê gần đây cho thấy, từ năm 1973 đến năm 1984 khi sử dụng vaccine Sabin để
phòng bệnh bại liệt, cứ 520 nghìn trờng hợp sử dụng thì có một trờng hợp mắc bệnh bại
liệt do virus đột biến ngợc trở lại. Còn có một điều nguy hiểm nữa là vaccine giảm độc
lực là các virus sống, chúng có thể nhân lên hoặc tồn tại dới dạng tiểm ẩn trong cơ thể
và có thể gây hậu quả nghiêm trọng trong tơng lai. Một nguy cơ nữa là, tác nhân giảm
độc lực dùng trong sản xuất vaccine tuy không có khả năng gây bệnh đối với cơ thể ng-
một số loại vaccine do cấu trúc của phân tử kháng nguyên nên việc biểu hiện chúng ở
đối tợng vi sinh vật gặp rất nhiều khó khăn nh vaccine dại, vaccine viêm não Nhật Bản.
Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra đợc một hệ thống biểu hiện đầy đủ phân tử kháng
nguyên của virus. Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đang tập trung nguyên cứu sản
xuất vaccine trên các đối tợng cây trồng nh: cây thuốc lá, cây lạc, khoai lang, cà chua,
chuối h ớng nghiên cứu này tỏ ra rất có triển vọng. Bởi vì, vaccine đợc sản xuất theo
cách này không những đã khắc phục đợc những nhợc điểm của các vaccine cổ điển mà
còn làm giảm đáng kể giá thành sản phẩm so với vaccine đợc sản xuất trên tế bào động
vật, vaccine thực vật có thể đợc sản xuất một lợng lớn với kỹ thuật đơn giản phù hợp với
trình độ của các nớc nghèo. Bên cạnh đó vaccine thực vật còn có giá trị sử dụng và bảo
quản, vì nó là loại vaccine ăn đợc hoặc uống đợc (edible vaccine, oral vaccine) [26].
1.2. Bệnh dại ( Rabies disease)
Virus dại thuộc họ Rhabdoviridae, chi Lysavirrus là loại virus hớng thần kinh
gây bệnh rất nặng cho các loài động vật máu nóng vì tế bào thần kinh không thể tái
sinh đợc, hơn nữa khi virus nhân lên sẽ làm mất tính gây độc của tế bào [10]. Virus có
hình viên đạn, trọng lợng phân tử 3,5 - 4,6 x 10
6
mol wt với chiều dài khoảng 180nm, đ-
ờng kính 75nm, chứa genome là ARN sợi đơn âm (-). Virus nhân lên trong tế bào chất
và nảy chồi từ màng sinh chất [16].
5
Hình 1. ảnh chụp virus dại dưới kính
hiển vi điện tử
Bệnh dại đợc truyền cho ngời thông qua các vết cắn của các loài vật trung gian.
Các loài thú ăn thịt hoang dã và súc vật nuôi trong nhà (chó, cáo, chó sói, chồn, mèo,
dơi ) đều có thể là ổ chứa virus dại. ở trung Mỹ và Nam Mỹ có những đàn dơi hút
máu, dơi ăn quả và dơi ăn côn trùng cũng bị nhiễm virus dại. Còn đối với nớc ta, nguồn
truyền virus dại cho ngời chủ yếu là chó, mèo nuôi trong nhà (khoảng gần 97%) [11].
Bệnh dại xảy ra hầu hết các nớc trên thế giới loại trừ một số hòn đảo vùng Caribê, nớc
Anh, Ireland, Nhật Bản, Đài Loan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. ở vùng Tây Âu,
1.2.1. Gen mã hoá cho kháng nguyên glycoprotein của virus dại
Virus dại thuộc họ Rhabdoviridae, chúng là những virus ARN, sợi đơn âm (-).
Chính vì thế, dạng ARN anti-sense của nó mang thông tin cần thiết để mã hoá cho
những protein virus. Điều này có nghĩa rằng, sợi ARN của hạt virus không trực tiếp
tham gia vào quá trình tổng hợp protein mà chúng đợc sao thành sợi dơng có vai trò là
ARN thông tin. Để làm đợc điều này, khi xâm nhập vào tế bào vật chủ, virus phải mang
theo một enzym ARN polymerase phụ thuộc ARN (enzym tổng hợp sợi ARN bổ sung
từ sợi khuôn ARN) [30].
Giống nh tên gọi của chúng, những virus này có dạng hình que, có một đầu
tròn thờng đợc ví với hình viên đạn. Lớp màng ngoài có nguồn gốc từ màng tế bào
chất của tế bào vật chủ do chúng nhân lên trong tế bào chất và xuất bào bằng cách
nảy chồi ra từ màng sinh chất [10]. Một hạt virus bao gồm một lõi nucleocapsid là
ribonucleoprotein có vai trò quyết định đến tính lây nhiễm của virus. Đó là một cấu
trúc chuỗi xoắn nằm bên trong lớp màng của virus. Chuỗi ARN của virus dài 12 Kb,
mã hoá cho 5 loại protein đó là [33].
- Protein G (Glycoprotein): là những glycoprotein có trọng lợng phân tử 67kDa tồn tại
dới dạng trime đợc mã hoá bởi đoạn gen dài 1675bp. Glycoprotein tạo thành chồi gai
bề mặt dài khoảng 5 - 10nm, mang tính kháng nguyên kích thích cơ thể sản xuất ra
kháng thể trung hoà hạt virus.
7
Hình 2. Cấu trúc virus dại
- Protein M (matrix): đây là một protein màng ngoại vi có trọng lợng phân tử
26kDa. Về chức năng của chúng vẫn đang còn là vấn đề gây tranh cãi, cũng có thể nó
hoạt động với vai trò là cầu nối giữa nucleocapsid với màng tế bào hoặc lớp gai
glycoprotein bề mặt.
- Protein N (nucleoprotein) là cấu trúc bao quanh ARN genome virus có trọng l-
ợng là 55kDa. Tác dụng của protein này là bảo vệ genome tránh đợc sự phân cắt của
nucleases và giữ cho nó có hình dạng thích ứng trong quá trình dịch mã.
- Protein L (lagre) và NS (một loại protein phi cấu trúc, nó cũng đợc biết đến nh
phosphoprotein có khối lợng phân tử 38 kDa) hai protein này cùng nhau tạo nên dạng
Còn tế bào T- bổ trợ, chúng sẽ kích thích tế bào B sản xuất ra kháng thể trung hoà virus
[9].
Liên kết đặc hiệu của phân tử glycoprotein với các phân tử trên bề mặt tế bào
thần kinh là một minh chứng, khẳng định sự tồn tại của thụ thể tế bào thần kinh đặc
hiệu cho phân tử glycoprotein. Trong một nghiên cứu gần đây, ngời ta sử dụng
glycoprotein dạng hoà tan để kiểm tra trên ngân hàng tế bào thần kinh phôi, và đã chỉ ra
đợc sự tồn tại của thụ thể nuerotrophin p75 murine với vai trò là một thụ thể của
glycoprotein. Thụ thể p75 nuerotrophin tồn tại bền vững trong động vật có xơng sống
và việc biểu hiện của nó tuỳ thuộc vào sự phát triển của bệnh. Trong quá trình phát sinh
phôi, p75 tồn tại ở cả tế bào nơron thần kinh và tế bào khác, nhng đến tuổi trởng thành
nó chỉ đợc biểu hiện ở tế bào thần kinh ngoại vi và tế bào thần kinh trung ơng. p75 có
chứa 4 miền giàu sistein (CRD) ở đầu N, đây là đặc điểm đặc trng của liên họ thụ thể
TNF. Nhng khác với cấu trúc trime của họ TNF, họ NGF của ligand neurotrophin lại có
cấu trúc dime. ái lực liên kết với p75 dao động trong khoảng vài nanogram, vị trí liên
kết đã đợc xác định là một vùng bao gồm cả CRD2 và CRD3. Vai trò sinh lý học của
liên kết này trong các nơron thần kinh ngày nay vẫn còn đang là một vấn đề tranh cãi. Một
vài hớng nghiên cứu mới đây khám phá ra rằng, tiền neurotrophin cũng có ái lực cao với
p75 [25].
9
1.3. Vi khuẩn agrobacterium timefaciens và hiện tợng biến nạp gen
vào thực vật.
Trong tự nhiên chúng ta thờng gặp ở vùng cổ rễ các loài thực vật hai lá mầm một
loại khối u gồm các loại tế bào không phân hoá và phát triển không có tổ chức. Những
khối u này mất khả năng phân cực và phân chia liên tục giống nh tế bào ung th ác tính ở
động vật. Theo cơ chế hình thành ngời ta phân biệt hai loại khối u chính. Đó là khối u
di truyền và khối u cảm ứng. Khối u di truyền thờng xuất hiện ở một vài cặp lai có tính
chất hoà hợp không cao ở một nhiễm sắc thể riêng rẽ nào đó, đặc biệt khi lai các loài
khác chi của thuốc là Nicotiana hoặc chi rau cải Brasica. Loại khối u cảm ứng đợc biết
đến nhiều nhất là khối u crown gall do loại vi khuẩn đất a. tumefaciens gây nên. Cơ chế
chính hình thành khối u cảm ứng này đợc Braun và Schiperoort nghiên cứu kỹ năm
1.4.1. Vectơ nhị thể (binary vector)
Vectơ nhị thể ra đời đã khắc phục đợc tình trạng khó nhân bản trong a.
tumefaciens của vectơ liên hợp. Một vectơ nhị thể bao gồm những thành phần sau: 1) Vị
trí ghép nối đa điểm; 2) Đoạn khởi đầu tái bản hoạt động cả trong E. coli và a.
tumefaciens, ví dụ RK2; 3) gen chọn lọc hoạt động cả ở vi khuẩn và thực vật nh gen
kháng kháng sinh, gen - glucuronidase ; 4) có khả năng vận chuyển nh oriV, oriT,
trfA, chỉ cần khi chuyển thông qua a. tumefaciens, không cần khi chuyển gen trực tiếp;
5) Đoạn T-ADN ngoại biên (border), đặc biệt là đoạn ngoại biên bắt buộc phải có.
Ngoài ra còn có một số thành phần phụ trợ khác nh gen kích thích vận chuyển T-ADN
(T-DNA transfer stimulator sequence = TSS). Hệ vectơ nhị thể đợc thiết kế bao gồm hai
plasmid tự tái bản. Loại vectơ vận tải mang GOI giữa đoạn biên của T-ADN và một
plasmid bổ trợ có gen vir đảm nhận chức năng vận chuyển gen ngoại lai vào tế bào thực
vật. Plasmid bổ trợ đợc cải biến từ Ti-plasmid tự nhiên bằng cách loại bỏ gen kích thích
tế bào thực vật phát triển thành khối u, nhng vẫn duy trì khả năng thâm nhập vào tế bào
thực vật [1].
Hệ thống vectơ nhị thể luôn đợc cải tiến để có thể nâng cao hiệu suất chuyển gen
thông qua A. tumefaciens. Một trong những hớng cải biến là đa vào vectơ một chuỗi
COS để phân lập các đoạn gắn lớn hoặc th viên gen thực vật, trong đó điển hình là vectơ
pBI121.
11
1.4.2. Vectơ pBI121
Các vectơ chỉ thực hiện đợc chức năng của mình khi chúng có một số đặc tính
nh: có khả năng tự sao chép độc lập và tích cực trong tế bào vật chủ; có kích thớc nhỏ,
dễ nhận gen quan tâm, dễ xâm nhập và đợc sao chép; mang một số dấu hiệu chọn lọc
giúp phân biệt các tế bào mang plasmid tái tổ hợp với các tế bào không có plasmid tái
tổ hợp; tồn tại bền vững trong tế bào vật chủ. Các đặc tính này là cơ sở quyết định các
thành phần chính của plasmid với: Gen quan tâm đợc gắn thêm đoạn khởi động và đoạn
kết thúc; gen chỉ thị chọn lọc; các thành phần khác nh vùng khởi đầu sao chép và vùng
trình tự nhân dòng đa điểm cắt (MCS) [5]. Vectơ pBI121 có kích thớc khoảng 13Kb với
các thành phần chính nh sau:
bảo vệ các phân tử ARN thông tin đợc bền vững hơn và tránh đợc sự phân huỷ. Hai
đoạn kết thúc đợc sử dụng nhiều trong công nghệ gen thực vật là đoạn kết thúc của
CaMV35S (có mặt trong 7 sản phẩm chuyển gen hiện nay) và đoạn kết thúc NOS có
mặt trong ít nhất 16 - 28 sản phẩm) [7].
*Gen chỉ thị
Các chỉ thị chọn lọc di truyền sử dụng trong biến nạp thực vật thờng có nguồn
gốc từ vi khuẩn hoặc thực vật, gồm 2 loại chính:
- Chỉ thị chọn lọc (selectable marker): kết cấu gen mang đoạn khởi động NOS
(nopaline synthase promoter-terminater) điều khiển sự biểu hiện gen kháng npt2
(neomycin phospho transferase gene), chỉ có những thể biến nạp sống đợc trên môi tr-
ờng có kháng sinh kanamycin. Việc sử dụng gen chỉ thị cần đạt một số yêu cầu sau:
chất chọn lọc ức chế sinh trởng các tế bào không đợc biến nạp, sự thể hiện của gen
chọn lọc không làm ảnh hởng tới trao đổi chất của các tế bào chuyển nạp, sự biểu hiện
của gen chọn lọc bảo vệ tế bào khỏi tác dụng của chất chọn lọc, không ảnh hởng tới cây
chuyển gen [4].
- Chỉ thị sàng lọc (screenable marker) không chỉ giúp nhận biết các thể biến nạp
mà còn dự đoán đợc mức độ biểu hiện gen quan tâm trong mô thực vật đợc chuyển gen.
Chẳng hạn, chỉ thị -glucuronidaza (GUS) cho phép sàng lọc hoạt tính của enzym dễ
dàng trên cơ sở kĩ thuật nhuộm hoá tế bào. Gen chỉ thị sàng lọc cần có một số đặc điểm
sau: sản phẩm của nó là độc nhất và không độc đối với tế bào thực vật, các enzym chỉ
thị phải có khả năng dịch mã ổn định cao, phơng pháp phân tích thuận tiện, rẻ tiền, độ
nhạy cao và có khả năng phản ứng với các polypeptit ngoài mà không ảnh hởng hoạt
tính enzym [7] .
13
* Vùng khởi động sao chép và MCS
- Vùng pUC ori: vùng khởi động sao chép trong E. coli, có nguồn gốc từ vectơ
pUC9.
- RK 2 ori V: vùng khởi động sao chép trong A. tumefaciens, có nguồn gốc từ
plasmid RK2.
- Vùng MCS có chứa trình tự điểm cắt của rất nhiều loại enzym nh HindIII, SphI,
bệnh tật [27].
Dr. arntzen cùng các cộng sự đã thành công trong việc tạo ra cây thuốc lá sản
xuất vaccine phòng bệnh viêm gan B và chứng minh đợc rằng vaccine đợc sản xuất
trong thực vật có cấu trúc và chức năng tơng tự nh những vaccine đợc sản xuất từ huyết
thanh ngời hoặc từ tế bào nấm men. Chúng cũng gây đáp ứng miễn dịch rất mạnh khi đ-
ợc tiêm vào chuột. Khandelwal và cộng sự cũng công bố đã thành công trong việc
chuyển gen mã hoá cho protein ngng kết tố hồng cầu của virus dịch hạch ở bò vào cây
lạc, cây thuốc lá [23, 24].
Một loại vaccine khác cũng đợc tạo thành theo cách này, đó là vaccine phòng
bệnh tiêu chảy. Dr. arntzen cùng các cộng sự cũng đã tạo ra đợc cây thuốc lá và cây
khoai tây chuyển gen có chứa một lợng lớn các chất kháng nguyên hoạt động là các độc
tố trong ruột không bền với nhiệt của E. coli (E. coli heat labile enterotoxin = LT-B).
Độc tố này có cấu trúc tơng tự nh độc tố của virus tả. Những con chuột đợc ăn các loại
thực vật này đã bộc lộ phản ứng miễn dịch rất mạnh. Các cuộc thử nghiệm biểu hiện
lâm sàng trên những ngời tình nguyện bằng việc sử dụng khoai tây tơi chứa vaccine
15
phòng bệnh tiêu chảy sẽ sớm kiểm chứng hiệu quả của vaccine có nguồn gốc từ thực
vật [27].
Những nhà nghiên cứu ở trờng đại học Thomas Jefferson bang Philadelphia,
USA đã tạo ra cây cà chua có biểu hiện kháng nguyên của virus dại. Dr. Karaser và các
cộng sự tại phòng thí nghiệm Biotechnology Foundation của Thomas Jefferson
University cũng đã biểu hiện đợc vaccine dại trong cây rau bina (spinach). Dr. Karaser
thông báo rằng, đề tài nghiên cứu này đã đợc kiểm chứng bằng một cuộc thử nghiệm
gồm 16 ngời chia thành hai nhóm: một nhóm đối chứng và một nhóm thí nghiệm.
Nhóm thí nghiệm đợc ăn khoảng 150g lá rau bina. Kết quả khi kiểm tra thì những ngời
này có số lợng kháng thể tăng hơn so với nhóm còn lại. Vaccine dại từ thực vật sẽ đợc
phát triển một cách đầy đủ trong vòng từ 2 - 4 năm tiếp theo [13].
Xuất phát từ nhu cầu về vaccine ở nớc ta hiện nay, đồng thời để nhanh chóng
nắm bắt và tiếp cận với công nghệ mới trong việc sản xuất vaccine và các dợc chất chữa
bệnh cho ngời, động vật trên đối tợng cây trồng. Phòng công nghệ tế bào thực vật thuộc
.7H
2
O, 1mM HEPES
- Agarose, sucrose, 50mM glucose
- Glycerol , 0,1 M CaCl
2
, 5M acetat potassium, acetic acid, NaOH, SDS 1%
- Các loại kháng sinh kanamycin, ampecilin và rifamycin
- Cồn 70%, dung dịch chloroform : isopropanol (24 : 1), nớc khử ion, RNase
17
- 25mM Tris HCl pH 8, 10mM EDTA pH 8 (Ethylene Diamine tetraacetic)
* Thiết bị
- Máy PCR System 9700 (Appied Biosystem, Mỹ), máy điện di Powerpac300
(Bio-Rad, Mỹ), máy soi ADN (Mini-transllumminatior, Bio-Rad, Mỹ), máy chụp ảnh
(Amersham Pharmacia Biotech, Thuỵ Điển), máy Vortex (Mimishaker, IKA, Đức),
máy hút chân không Speed-Vac 110A (Savant, Mỹ), máy ly tâm, máy xung điện Gene
Plulser, cùng với các trang thiết bị khác của Phòng Công nghệ tế bào thực vật, Viện
Công nghệ sinh học.
2.2. Phơng pháp nghiên cứu
18
Hình 5. Sơ đồ thiết kế Ti-plasmid tái tổ hợp pBI121 mang gen GlyP
Sản phẩm PCR-GlyP
gus
NOST
GlyP
Sac
BamH I