MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP GIÚP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH THEO MÔ HÌNH VNEN - Pdf 67

1
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP GIÚP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH THEO MÔ HÌNH
VNEN ”.
1. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:Giáo dục
3. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Năm học 2019 - 2020
4. Mô tả bản chất của sáng kiến:
4.1. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
Sáng kiến: "Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp
giúp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh theo Mô hình VNEN " là
sáng kiến có tính sáng tạo và hiệu quả cao, là việc làm h ữu ích giúp cho
người giáo viên trong công tác dạy học. Bằng cách đưa ra nh ững biện pháp
và việc làm cụ thể để giải quyết những vấn đề đang còn tồn đọng trong
công tác chủ nhiệm lớp hiện nay cụ thể như: Tìm hiểu thông tin h ọc sinh,
xây dựng Hội đồng tự quản và phát huy vai trò Hội đ ồng t ự qu ản c ủa h ọc
sinh, xây dựng nề nếp lớp học, xây dựng lớp học thân thiện, ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học và điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học kết h ợp
với đổi mới phương pháp dạy học cũng như xây dựng mối quan h ệ gi ữa
giáo viên và phụ huynh... . Để từ đó giúp h ọc sinh hình thành đ ược ý th ức
tích cực, tự giác, tự tin, chủ động và sáng tạo trong học tập góp ph ần nâng
cao chất lượng giáo dục cho học sinh; giúp h ọc sinh hoàn thành t ốt ki ến
thức trong chương trình môn học và hoạt động giáo dục cũng nh ư năng l ực
phẩm chất đem lại kết quả cao.
Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu sáng kiến: “Một số biện pháp làm
tốt công tác chủ nhiệm lớp giúp nâng cao chất lượng học tập cho h ọc
sinh theo mô hình VNEN”để đưa ra một số biện pháp giúp các em học tập
tốt thông qua công tác chủ nhiệm. Không những thế, việc giáo viên áp
dụng tốt các biện pháp sẽ giúp học sinh có một kĩ năng th ực hành nhanh

- Tìm hiểu thông tin, hoàn cảnh của từng học sinh.
- Tạo không khí vui tươi, thoải mái, nhẹ nhàng trong tiết học thông qua các
trò chơi.
- Gần gũi, thân thiện với các em đặc biệt là những học sinh cá biệt.
- Sách Tâm lý học sinh Tiểu học (NXBGD)
- Sách HD học Toán lớp 3 (NXBGD)
- Sách HD học Tiếng Việt lớp 3 (NXBGD)
* Về phía phụ huynh: Cần phối hợp với giáo viên trong việc h ỗ trợ con em
thực hiện hoạt động ứng dụng tại nhà.
4.4.Các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp:
4.4.1.Biện pháp 1: Tìm hiểu thông tin, phân hóa đối t ượng h ọc
sinh và xây dựng nề nếp lớp học.


3
* Mục đích: Giúp giáo viên nắm bắt thông tin cần thiết về học sinh.
Trên cơ sở đó, giáo viên tiến hành phân hóa đối tượng học sinh, xây d ựng
Hội đồng tự quản và xây dựng nề nếp lớp học để có biện pháp giáo dục phù
hợp nhất.
a.Nắm thông tin về học sinh
Mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của
mình, muốn đề ra các biện pháp giáo dục học sinh phù hợp, đạt hiệu qu ả
thì trước hết giáo viên phải hiểu học sinh, phải n ắm đ ược đ ầy đủ các
thông tin cần thiết về từng học sinh.
Do vậy, ngay từ ngày đầu nhận lớp, tôi thực hiện ngay công tác điều
tra thông qua 10 thông tin trong phiếu sau đây:
GIỚI THIỆU BẢN THÂN
1. Họ và Tên:………………………………………………………….............
2. Là con thứ…….....trong gia đình.
3. Hoàn cảnh gia đình (khá giả, đủ ăn, nghèo)....................................................

thần. Tôi còn vận động học sinh, nhờ sự giúp đỡ của Ban phân h ội phụ
huynh trong lớp, quan tâm giúp đỡ về vật chất để giúp cho em có đi ều ki ện
học tập tốt hơn.
* Đối với học sinh khuyết tật:
Tôi thường xuyên quan tâm, động viên, khuyến khích mỗi khi em có
tiến bộ. Ở lớp, tôi tận dụng tối đa mọi thời gian, đưa em vào mọi hoạt
động tập thể. Bên cạnh đó, tôi còn trao đổi, giao nhiệm vụ cho các nhóm
trưởng, các bạn trong nhóm thay phiên nhau, cùng học, cùng ch ơi thân mật
với em trong những giờ ở trường để các em thấy được sự quan tâm của
bạn bè, của tập thể. Từ đó, giúp các em dần dần hòa nh ập đ ược v ới các
bạn trong lớp và học tập ngày càng tích cực hơn.
* Đối với những học sinh chậm tiếp thu bài:
- Tôi tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó học chậm, học chậm nh ững
môn nào?
-Tôi lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng đó bằng những việc làm cụ th ể
như sau:
+ Giảng lại bài mà các em chưa hiểu hay còn hiểu mù m ờ vào gi ờ ra
chơi hoặc thời gian ngoài giờ lên lớp.
+ Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có th ể trả l ời
được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em.
+ Thường xuyên kiểm tra các đối tượng đó trong quá trình lên l ớp.
+ Gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình h ọc t ập, cũng nh ư
sự tiến bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm việc h ọc ở nhà cho các
em.
* Đối với học sinh cá biệt về phẩm chất( đạo đức).
Đối với học sinh có tính chưa tốt mà bản thân gia đình ch ưa giáo d ục
được hoặc có thể bị bạn bè lôi kéo,... Tôi thường tìm hiểu nguyên nhân qua
gia đình. Từ đó, tôi dùng phương pháp tác động tình cảm. Nghiêm kh ắc v ới
học sinh nhưng không cứng nhắc. Luôn gần gũi với các em và th ường xuyên
nhắc nhở động viên khen ngợi kịp thời. Thậm chí bản thân tôi còn giao cho

cùng học sinh thảo luận về cơ cấu của hội đồng tự quản. Tôi phân tích để
các em hiểu rõ về vai trò và trách nhiệm của Ch ủ tịch H ội đ ồng t ự qu ản,
Phó Chủ tịch Hội đồng tự quản. Sau đó lập danh sách ứng c ử ( nh ững h ọc
sinh tự nguyện đăng kí) và danh sách đề cử ( những bạn đ ược các bạn khác
tín nhiệm giới thiệu). Học sinh tiến hành bầu Ban kiểm phiếu gồm trưởng
ban và một số các thành viên khác. Tôi hướng dẫn kĩ cách làm việc của Ban
kiểm phiếu. Các ứng cử viên sẽ có thời gian để chuẩn bị phần tranh c ử của
mình. Đây là một hoạt động quan trọng nhằm tạo điều kiện cho h ọc sinh
được cảm thấy sự dân chủ, công bằng, bình đẳng và được học cách thuy ết
trình trước đám đông. Trước lễ bầu cử học sinh có th ể nh ờ tới s ự t ư vấn,
hỗ trợ của tôi, phụ huynh và các bạn học trong việc chuẩn bị tranh c ử. Bài
tranh cử của học sinh cần có những nội dung như: Giới thiệu về bản thân,
những mong muốn của em về lớp học, những việc em sẽ làm n ếu em tr ở
thành chủ tịch Hội đồng tự quản…
* Lễ bầu cử:
-Tôi tổ chức cho các ứng cử viên lần lượt tranh cử bằng các bài
thuyết trình đã được chuẩn bị trước.
- Tổ chức cho học sinh bỏ phiếu. Các bạn có s ố phi ếu cao nh ất t ừ trên
xuống sẽ trúng cử vào vị trí Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng tự quản.
* Thành lập các ban chuyên trách:
Sau khi hoàn thành lễ bầu cử tôi tiến hành bàn bạc v ới Chủ t ịch và
Phó chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh để vận động các bạn tham gia các
ban chuyên trách như: Ban học tập, Ban thư viện, Ban quyền lợi học sinh,
Ban đối ngoại, Ban sức khỏe và vệ sinh, Ban văn nghệ và th ể dục th ể thao.
Từ mỗi ban đó học sinh sẽ bầu ra một người làm trưởng ban. Tr ưởng ban
chịu trách nhiệm hoạt động chung của cả ban đó.


6


V. Hưng
Q.Như
H.Sơn

Ban
Đối ngoại
G.Bảo
T.Ly
G.Huy
D.Hậu
T.Kiên

Ban
SK&VS

BanVN&
TDTT

T.Linh
H.Quyên
Q.Vương
M.Lệ
P.Nguyênn

Q.Anh
V.Trọng
T.Vương
P. Quốc

S ơ đồ Hội đồng tự quản học sinh lớp 3/3.

Ban sức khỏe vệ sinh: Theo dõi tình hình sức kh ỏe, v ệ sinh cá nhân,
vệ sinh trường lớp. Có nhiệm vụ phân công công vi ệc, đôn đ ốc nh ắc nh ở
nhóm thực hiện trực nhật, làm vệ sinh hàng ngày trong lớp học.
Ban văn nghệ thể dục thể thao: Phụ trách hoạt động văn nghệ, th ể
dục thể thao, dẫn dắt chương trình văn nghệ vào đầu giờ học, trò ch ơi hay
các hoạt động ngoại khóa khác: Tổ chức sinh nhật bạn.....
Nhìn chung với việc làm đầy tính dân chủ và chặt chẽ nh ư vậy, ít
nhiều giáo viên đã lãng quên nhưng đối với bản thân tôi đã đem đến s ự
thành công trong công tác chủ nhiệm lớp. Không hiển nhiên vào cuối m ỗi
tuần, tiết sinh hoạt lớp ngày thứ 6, tôi nắm được tình hình h ọc t ập, cũng
như mọi mặt hoạt động của lớp kể cả tâm tư nguyện vọng của t ừng đ ối
tượng học sinh. Mặt khác, căn cứ vào báo cáo của từng học sinh tôi còn
nắm được khả năng quản lý của từng em. Và cứ mỗi tháng tôi còn t ổ ch ức
họp rút kinh nghiệm một lần để tổng kết các mặt làm được của lớp c ủa cá
nhân để động viên khen ngợi kịp thời những việc các em đã làm đ ược.
Đồng thời chỉ rõ những thiếu sót và hướng dẫn các em cách khắc ph ục. Đây
chính là một phần công việc dẫn đến thành công trong công tác ch ủ nhi ệm
lớp của bản thân tôi.
d. Xây dựng nội quy lớp học.
Để giúp các em làm việc có hiệu quả và đi vào n ề n ếp. Ngay t ừ đ ầu
năm học, tôi tiến hành xây dựng nội quy lớp học trên c ơ s ở t ừ nh ững n ội
quy của nhóm, của tổ do học sinh đưa ra. Nội quy lớp h ọc của tôi đ ược xây
dựng ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu để học sinh dễ nhớ và th ực hiện; gồm
những điều nên và không nên. Ví dụ: Nên: đi h ọc đ ều và đúng gi ờ; tích c ực
trong học tập; giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường lớp sạch sẽ…Không
nên: nói chuyện riêng trong giờ học; viết vẽ bậy lên bàn, lên t ường; gây g ỗ
đánh nhau...


8

quan điểm tích hợp và quan điểm tích cực hóa các hoạt đ ộng h ọc t ập c ủa
học sinh. Ba quan điểm luôn đồng hành với phong trào xây d ựng l ớp h ọc


9
thân thiện, học sinh tích cực. Do đó, để giáo dục học sinh có hiệu qu ả trong
một môi trường thân thiện, giúp các em tự tin trong học tập và rèn luy ện,
để người thầy thật sự vừa là thầy vừa là bạn của các em, tôi đã th ực hiện
những điều sau đây:
a. Xây dựng mối quan hệ thầy - trò, bạn bè gần gũi, yêu th ương
trong lớp học
Ngay từ đầu năm học, bản thân tôi luôn xác định:“Lớp học thân
thiện” là lớp học mà nơi đây luôn có những tình cảm yêu th ương, tôn trọng,
gắn bó lẫn nhau. Luôn có sự chia sẻ giữa giáo viên và học sinh, gi ữa h ọc
sinh với học sinh. Lớp học thân thiện không có sự xúc ph ạm v ề nhân
phẩm, danh dự, thân thể học sinh. Vì lẽ đó, đối với lớp tôi đang gi ảng d ạy,
khi học sinh chưa ngoan, tôi tìm hiểu nguyên nhân và nhẹ nhàng khuyên
nhủ, sử dụng các biện pháp giáo dục phù hợp với t ừng đ ối t ượng h ọc sinh.
Ví dụ: Ngoài việc giảng dạy hoạt đông giáo dục nâng cao năng lực và
phẩm chất cho các em qua các môn học thì tôi thường tâm s ự v ới h ọc sinh
trong những giờ giải lao để nắm bắt tâm tư, tình cảm của các em. Tôi
thường tìm hiểu xem các em có thích cách làm của bạn A, bạn B đó hay
chưa, vì sao? Bạn nào trong lớp là hiếu động nh ất, bạn nào hiền nh ất,
khuyên các em nên đối xử công bằng với các bạn trong lớp. Nh ất là, đ ối v ới
những bạn học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Chính vì th ế, nên tôi th ường
động viên các em bằng câu nói: “ Chúng ta nên giúp đỡ bạn vì bạn không có
đủ điều kiện như mình” hoặc “ Hãy cố gắng giúp đỡ bạn em nhé!”.
Từ những buổi tâm sự đó, tôi đã tạo nên mối quan hệ gần gũi với
học sinh hơn, biết được học sinh cần gì? và không thích gì? Học sinh thì
mạnh dạn hơn trong việc nêu ý nghĩ của mình với tôi.

cho các em dễ hiểu nhất, giàu hình ảnh và đạt giá trị biểu cảm cao v ới m ột
âm điệu phù hợp.
Ví dụ: Khi bước vào lớp, học sinh đứng dậy chào, tôi tươi cười nhìn
xuống cả lớp rồi nhẹ nhàng nói: “Cô mời các em ngồi xuống !”. Và buổi học
thường bắt đầu một cách tốt đẹp, vui vẻ.
c. Sử dụng ánh mắt và cử chỉ trong giao tiếp với học sinh:
Ông cha ta thường nói: “Đôi mắt là c ửa s ổ c ủa tâm h ồn”. Th ật v ậy,
ánh mắt nói lên thái độ của mỗi con người. Với giáo viên, ánh m ắt cũng góp
sức làm nên thành công trong dạy học. Trong quá trình tiến hành tiết dạy,
tôi cố gắng chủ động trong việc tổ chức các hoạt động học tập của h ọc
sinh bằng một kế hoạch dạy học đã định sẵn trong đ ầu. Khi đ ứng tr ước
học sinh, khi nói với với các em điều gì, tôi luôn nhìn các em m ột cách trìu
mến, khuyến khích để tạo cho các em niềm cảm xúc và hứng thú trong học
tập. Sự yêu thương gần gũi với các em được thể hiện qua ánh mắt sẽ kh ơi
dậy ở các em niềm tự tin, hứng thú và sự sáng tạo.
d.Dùng lời khen để động viên khuyến khích:


11
Ai cũng biết rằng, tâm lí con người luôn thích được khen. Vì vậy,
những lời động viên kịp thời là nguồn động lực giúp các em cố g ắng trong
học tập. Do đó, động viên các em không chỉ bằng lời nói, nh ững vi ệc làm
trước lớp mà còn bằng cách thường xuyên nhận xét vào vở các em mỗi khi
các em có tiến bộ. Như: “ Hôm nay, em có nhiều tiến bộ. Cố lên em nhé!”; “
Bài làm tốt, đáng khen” hoặc “ …Em cần nỗ lực nhiều hơn!”… Điều đó, sẽ
như một ngọn lửa truyền niềm tin vào các em, giúp các em m ạnh dạn và
xóa đi những mặc cảm, tự ti.
Ví dụ: Em Thanh Cường lớp tôi học chưa tốt môn Tiếng Việt, bài viết
chính tả của em thường mắc nhiều lỗi. Bài viết của em tuần trước m ắc
đến 10 lỗi. Bài viết tuần này em mắc 7 lỗi. Mắc 7 lỗi chính t ả trong m ột bài

xin rác!” đặt phía ngoài sọt rác. “ Tắt đèn, tắt quạt bạn nhé!” ở gần ổ cắm


12
điện...Sẽ giúp học sinh có ý thức tự giác giữ gìn vệ sinh tr ường l ớp, bi ết ti ết
kiệm điện.
Ngoài ra, tôi còn chú ý đến quang cảnh trong lớp học. Không ch ỉ
ngoài sân trường mới cần có cây xanh mà ngay trong l ớp cũng cần ph ải có
đủ ánh sáng, lọ hoa, cây xanh. Do đó, ngay t ừ đầu năm h ọc tôi cùng các em
học sinh tiến hành xây dựng góc thiên thiên cây cảnh ngay tại l ớp h ọc. Đ ể
từ đó, giúp các em đỡ mệt mỏi sau những gi ờ h ọc căng th ẳng, t ạo không
khí thật sự thoải mái, thân thiện, gần gũi với thiên nhiên h ơn.

Góc thiên nhiên, cây cảnh
Để mang lại động cơ, hứng thú khi các em được quan sát chính
những sản phẩm, thành quả do mình làm ra thì tôi cùng học sinh xây d ựng
góc học tập. Góc học tập là nơi để các đồ dùng của giáo viên và học sinh t ự
làm để chuẩn bị cho tiết học. Và đồng th ời cũng là n ơi l ưu gi ữ l ại nh ững
kiến thức các em đã học trong tuần, tháng. Đặc biệt để trưng bày các s ản
phẩm đẹp mà sau tiết học các em hoàn thiện nh ư sản phẩm môn th ủ công,
mĩ thuật, những bài văn hay, bài viết chữ đẹp...Nh ững học sinh nào có bài
văn hay và đẹp thì được trưng bày ở góc học tập này. Việc làm này cũng
nhằm khuyến khích động viên các em sẽ cố gắng nhiều h ơn đ ể có s ản
phẩm được trưng bày.
Mặt khác, để thuận tiện cho các em tìm kiếm thông tin, tài liệu tham
khảo và phát triển óc sáng tạo, tạo thói quen đọc sách cho học sinh thì
ngay trong lớp học, tôi và các học sinh xây d ựng m ột góc th ư vi ện. Trong
góc thư viện luôn có những tài liệu bổ ích, những quyển sách, quy ển
truyện hay, có giá trị được mượn từ thư viện trường, của giáo viên, ph ụ
huynh và các em học sinh đóng góp để góc th ư viện thêm phong phú . Từ

bỏ tiền vào đó. Đến cuối tháng, các em tự mở heo đất rồi kiểm tra số tiền
mà cả lớp vừa đóng góp được. Điều đó, giúp các em vui vẻ và h ứng thú v ới
việc giúp đỡ bạn bè và người khác. Qua đó, giúp các em hiểu thêm đ ược giá


14
trị như thế nào là: “ Lá lành đùm lá rách; uống nước nhớ nguồn; ăn quả
nhớ kẻ trồng cây ”.
4.4.3 Biện pháp 3: Đầu tư nghiên cứu, điều chỉnh tài liệu
hướng dẫn học và đổi mới phương pháp giảng dạy.
* Mục đích: Giúp học sinh có hứng thú trong học tập, tự tin khi tìm
hiểu kiến thức, có điều kiện thuận lợi trong việc tìm tòi suy nghĩ đem l ại k ết
quả cao trong học tập.
Lớp học theo Mô hình VNEN đòi hỏi học sinh phải t ự học, t ự lĩnh h ội
kiến thức, phát huy óc sáng tạo. Giáo viên chỉ là người h ướng d ẫn cho h ọc
sinh phương pháp học. Nhưng hướng dẫn của giáo viên phải tuỳ thuộc vào
từng môn, từng bài học cụ thể. Cần phải hướng dẫn như thế nào, cần phải
đổi mới phương pháp ra sao? Điều đó giáo viên cần ph ải nghiên c ứu n ội
dung bài trước khi đến lớp để làm sao cho tiết học mà h ọc sinh v ừa n ắm
được kiến thức, vừa được học trong một không khí vui vẻ, tho ải mái, thân
thiện, để khuyến khích sự chuyên cần tích cực, chủ động, sáng tạo và ý
thức vươn lên của học sinh.
Chính vì lẽ đó nên trong quá trình giảng dạy ở lớp, tôi luôn ti ến
hành giảng dạy theo phương pháp mới, thay đổi một cách linh hoạt các
hình thức tổ chức dạy học với mục tiêu làm sao cho các em tự ho ạt đ ộng t ự
chiếm lĩnh kiến thức. Vì vậy, đối với một số bài học để tạo s ự m ới lạ, đem
lại hưng phấn cho các em trong tiết học. Tôi thay đổi một vài yêu c ầu nh ỏ
theo lô gô của sách Hướng dẫn học bằng các trò ch ơi h ọc tập nh ư: Tiếp
sức, truyền điện, Đố bạn biết, khăn trải bàn…
Ví dụ: Đối với bài 2: Ôn tập về cộng, trừ các số có ba ch ữ số

Đối với các môn học khác cũng vậy, tôi tổ chức hoặc tôi yêu cầu H ội
đồng tự quản tổ chức hoạt động học dưới hình thức trò chơi. Có lúc trò
chơi nhằm để ôn lại kiến thức cũ, có lúc thì để cung cấp kiến th ức m ới
hoặc kiểm tra, củng cố lại kiến thức.
Mặt khác, trong quá trình tiến hành tiết dạy, tùy theo môn học và nội
dung bài dạy tôi thường điều chỉnh tài liệu sách H ướng dẫn h ọc k ết h ợp
với trò chơi học tập mục đích để phát huy tối đa công cụ trang trí c ủa l ớp
học thân thiện, đồ dùng học tập cũng như tạo sự mới lạ hấp dẫn trong
việc tìm tòi khám phá kiến thức của học sinh. Qua đó, kích thích đ ược s ự
hứng thú trong học tập của các em giúp các em trút bỏ đ ược sự t ự ti và tr ở
nên mạnh dạn, tự tin để thể hiện khả năng của mình.
4.4.4. Biện pháp 4: Xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên và
phụ huynh, cách tổ chức hướng dẫn học sinh tự học ở nhà thông qua
" Hoạt động ứng dụng" của mô hình VNEN.
* Mục đích: Giúp phụ huynh nắm được việc học của con em mình
nhằm tạo điều kiện quan tâm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh,
giúp các em phát triển tốt hơn cả về thể chất lẫn tinh thần.
Mối liên kết giữa phụ huynh, giáo viên và nhà trường trong việc giáo
dục học sinh là điều quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp h ọc. H ơn n ữa,
đối với Mô hình VNEN yêu cầu có sự tham gia tích c ực c ủa gia đình, c ộng
đồng trong việc phối hợp giảng dạy cho học sinh. Vì v ậy , ngay từ cuộc họp
phụ huynh đầu năm, tôi huy động phụ huynh cùng vào cu ộc v ới giáo viên
để cùng trang trí xây dựng lớp học thân thiện cũng nh ư cung c ấp thêm cho
phụ huynh những kiến thức về tâm lý sư phạm, cách chuẩn bị bài cho các
em trước khi đến lớp….
Ngoài ra, thông qua Ban Phân hội cha mẹ học sinh, tôi tri ển khai
được những hoạt động của lớp của Nhà trường đến với phụ huynh, tạo s ự
đồng thuận giữa phụ huynh học sinh và nhà trường. Nh ất là các phong trào
thi đua ở lớp như: Trang trí lớp học, Hội thi cắm hoa nghệ thuật, Làm báo
ảnh....

trong dạy học.
* Mục đích: Giúp học sinh có điều kiện học tập tốt, hứng thú say mê
trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh.
Trong giai đoạn ngày nay, với công nghệ thông tin phát tri ển nh ư
vũ bão, việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho đ ổi m ới ph ương
pháp dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nh ất. Dạy
bằng giáo án điện tử, trình bày trên màn hình tivi được bản thân th ực hi ện
thường xuyên trong giờ dạy học. Tôi đã sử dụng phần mềm power point,
truy cập Internet tìm nguồn phim tư liệu, chụp hình, quay phim đ ể đ ưa
những hình ảnh minh họa, thông tin, đoạn phim,... đến v ới h ọc sinh m ột
cách nhanh nhất, sinh động nhất. Bên cạnh đó, những n ội dung cần l ưu ý
đối với học sinh tôi cũng thực hiện trình chiếu không cần ph ải sử d ụng
bảng phụ lỉnh kỉnh nữa. Lúc này tôi có nhiều thời gian giúp đỡ học sinh
khuyết tật và học sinh chậm tiến bộ góp phần vào việc nâng cao ch ất
lượng học tập cho học sinh hơn.
Ví dụ: Khi dạy học phần B. Hoạt động thực hành- Bài 16 A: Nông
thôn và thành thị ( sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 3 - Tập 1B/ Trang 83
-Tuần 16).
Qua giờ dạy, tôi đã giảng dạy điện tử, trình chiếu những hình ảnh,
đoạn phim tư liệu về vẻ đẹp của nông thôn và thành th ị... T ừ nh ững hình
ảnh, đoạn phim mà các em quan sát, tôi đã hướng dẫn h ọc sinh tìm t ừ ng ữ,
tìm ý lập thành gợi ý cho đoạn văn nói về cảnh đẹp ở nông thôn hay thành
thị. Từ đó, tôi thấy các em tìm ý dễ dàng hơn cho đề bài mà các em đã ch ọn.
Đó chính là cơ sở để tiết học sau các em viết thành đoạn văn, bài văn miêu
tả chân thật, sinh động, hấp dẫn làm sao. Chính nh ững hình ảnh và đo ạn
phim tư liệu được sưu tầm sẽ giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp đó và có
kết quả học tập tốt hơn mong đợi.


17

trước mà thay vào đó là một thái độ vui vẻ, tự tin trong h ọc t ập và m ạnh


18
dạn thể hiện những gì mình biết trước đám đông, tham gia tốt các hoạt
động trong học tập cũng như hoạt động của lớp, góp ph ần vào s ự thành
công cho công tác chủ nhiệm lớp của bản thân tôi.
Kết quả theo dõi khảo sát đến cuối học kỳ I năm h ọc 2019- 2020 thu
được như sau:
* Về sự tự tin, hòa đồng trong học tập và tham gia các hoạt động c ủa
lớp.
Kết quả
khảo sát

Đầu năm
học

Cuối học
kỳ I

TSHS

31 em/ 13 nữ

NỘI DUNG KHẢO SÁT

SL

TL



8 hs

26,8 %

3hs

8,7 %

* Về kết quả đánh giá học tập của học sinh.
Kết quả đánh
giá
học tập
Đầu năm học

Tổng số
học sinh

Môn học và hoạt động giáo dục
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
11/ 13 nữ 28
90,3 %
3
9,7 %


có tính sáng tạo và hiệu quả cao.
5. Những thông tin cần được bảo mật: Không có
6. Đánh giá ích lợi thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Qua quá trình áp dụng sáng kiến, tôi thấy chất lượng học sinh ngày
càng nâng cao, có những tiến bộ rõ rệt về kết quả học tập. Các em luôn có
tinh thần học tập tích cực, chủ động, sáng tạo trong vi ệc chiếm lĩnh ki ến
thức, không còn các tình trạng như: Học sinh tự ti, mặc cảm, học sinh chậm
tiếp thu bài,học sinh rụt rè nhút nhát ngại phát biểu, lớp h ọc n ặng n ề, h ọc
sinh không đoàn kết giúp nhau trong học tập, đi học không chuyên cần... .
Ngoài ra, lớp học luôn vui vẻ, thoải mái giúp các em say mê, h ứng thú trong
học tập cũng như tham gia tốt các hoạt động của lớp học, hoạt động mang
tính từ thiện và phát triển tốt các kỹ năng cơ bản trong cuộc sống.
Mặt khác, phụ huynh cũng thấy rõ được sự tiến bộ của con em mình
nên đã hưởng ứng nhiệt tình, tham gia hỗ trợ cùng giáo viên đ ể giúp cho
học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, phát triển cả về th ể ch ất l ẫn tinh
thần.
7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp d ụng
sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử:
Trong quá trình đầu tư xây dựng, tổ chức thực hiện làm tốt công tác
chủ nhiệm lớp giúp nâng cao chất lượng học tập cho h ọc sinh theo Mô
hình VNEN đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Góp phần tạo điều kiện
thuận lợi cho nhà trường cũng như cho ngành giáo dục đối v ới Mô hình
VNEN thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp giúp nâng cao chất l ượng giáo


20
dục cho học sinh về mọi mặt, để đào tạo con người m ới trong giai đo ạn
hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status