I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NễNG TH KIU DIM
HOàN THIệN PHáP LUậT Về ĐảM BảO QUYềN
CủA CáC DÂN TộC THIểU Số ở VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v Quyn con ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS NGUYN DUY SN
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong Luận văn
đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành
tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính
theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nông Thị Kiều Diễm
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP
LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ......................... 32
2.1.
MỘT SỐ THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG VÀ
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ............ 32
2.1.1. Thành tựu trong đảm bảo một số quyền dân sự, chính trị ................. 32
2.1.2. Thành tựu trong đảm bảo một số quyền kinh tế, xã hội và văn hóa...... 41
2.2.
HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ...................................................... 60
2.2.1. Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số
quyền chính trị, dân sự ....................................................................... 60
2.2.2. Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ........................................................ 66
2.3.
NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ TRONG VIỆC XÂY
DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO QUYỀN
3.2.1. Một số phƣơng hƣớng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật
về đảm bảo quyền chính trị, dân sự của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam hiện nay ............................................................................. 87
3.2.2. Một số phƣơng hƣớng cơ bản hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam hiện nay...................................................................................... 92
3.3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
VIỆT NAM....................................................................................... 100
3.3.1. Đổi mới công tác xây dựng và thi hành các văn bản pháp luật về
đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số trong tình hình mới .......... 100
3.3.2. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà
nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng trong việc xây dựng và thực
thi các văn bản pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số . 103
3.3.3. Tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình xây dựng
và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ... 104
3.3.4. Phân bổ nguồn kinh phí hợp lý cho quá trình xây dựng và thực
thi pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ..................... 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 109
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
thích đáng; quyền có việc làm, quyền đƣợc tham gia vào đời sống văn hóa v.v..
các quyền này là phù hợp và tƣơng thích với Luật Nhân quyền quốc tế.
Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc cùng nhau chung
sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 85,7%, còn lại 53 dân tộc
thiểu số với tỷ lệ 14,3% (hơn 12 triệu ngƣời). Có một số dân tộc thiểu số trên
1 triệu ngƣời, nhƣ: Tay, Thái... Song cũng có những dân tộc thiểu số rất ít
ngƣời, nhƣ: Pu Péo, Ơ Đu, Si La, Rơmăm, Cống, Bố Y, Mảng, Cờ Lao, La
Hù, Chứt, Lô Lô. Các DTTS Việt Nam sống tập trung chủ yếu tại vùng cao,
miền núi, biên giới là những nơi đi lại khó khăn, bị chia cắt, kinh tế - xã hội
còn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn thiếu thốn. Mặt khác,
địa hình sinh sống của đồng bào DTTS lại là những nơi cơ yếu về mặt chủ
quyền quốc gia, nên trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc
biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi trọng xây dựng hệ
thống các văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý bền vững, nhằm đảm bảo
quyền bình đẳng của các DTTS, gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa,
1
ổn định chính trị, xã hội vùng đồng bào DTTS. Trong thời kỳ đổi mới, Việt
Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng khích lệ về bảo đảm quyền con ngƣời
của các DTTS trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng nhƣ lĩnh vực kinh tế, xã
hội và văn hóa. Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam
hiện nay vẫn nổi lên những thách thức nhƣ: hệ thống pháp luật còn chồng
chéo, chƣa thống nhất; năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là
ở vùng DTTS còn bất cập; trình độ dân trí, ý thức pháp luật của ngƣời DTTS
còn hạn chế. Bên cạnh đó, một số thế lực thù địch lợi dụng tình hình khó
khăn, sự chƣa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để tuyên truyền, chia rẽ khối
đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị xã hội ở vùng đồng bào DTTS.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay" làm luận văn thạc sĩ.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010...
Kết quả những công trình nghiên cứu nói trên đƣợc sử dụng làm tài liệu
tham khảo bổ ích của luận văn này. Tuy nhiên, các công trình nêu trên chƣa
thực sự nghiên cứu toàn diện pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở
Việt Nam trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng nhƣ lĩnh vực kinh tế, xã hội
và văn hóa. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đảm
bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay" là sự cần thiết
trong bối cảnh hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Nghiên cứu tổng quát về quan điểm của Nhà nƣớc, pháp luật Việt Nam
về vấn đề DTTS. Đánh giá tình hình ban hành, thực hiện, thi hành, giám sát
các văn bản pháp luật và chính sách về việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền cơ
bản của các DTTS, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Đánh giá tính phù hợp và
những hạn chế những văn bản pháp luật, chính sách để từ đó đƣa ra giải pháp
để sửa đổi, bổ sung luật pháp nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền của nhóm
ngƣời này ở Việt Nam, góp phần cho việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân
tộc Việt Nam ngày càng vững mạnh.
3
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện đƣợc mục đích nói trên, tác giả đã đƣa ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc
liên quan đến việc bảo đảm quyền của các DTTS ở Việt Nam, chủ yếu thời kỳ
đổi mới. Từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam với các quy định của
pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của các DTTS.
- Đánh giá thực trạng những quy định pháp luật ở Việt Nam hiện hành
về các vấn đề DTTS. Từ đó đƣa ra những điểm phù hợp và chƣa phù hợp, trên
nhằm hoàn thiện pháp luật, chính sách về đảm bảo bảo các quyền cơ bản của
các DTTS ở Việt Nam thời gian tới.
6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức
khoa học cơ bản mang tính lý luận và thực tiễn về quyền của các DTTS. Giúp
nâng cao nhận thức toàn diện về pháp luật Quốc tế và quá trình xây dựng và
thực thi pháp luật Việt Nam đảm bảo quyền của các DTTS.
Kết quả của Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy. Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng cơ
sở lý luận, pháp lý cho các nhà hoạch định luật pháp, chính sách về quyền của
các DTTS ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở pháp lý về quyền của các dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo
quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về
đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1.1. Khái niệm dân tộc
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài ngƣời. Trƣớc
khi dân tộc xuất hiện, loài ngƣời đã trải qua trải qua các hình thái cộng đồng
đồng từ thấp đến cao nhƣ bộ lạc, bộ tộc. Dân tộc là loại hình của cộng đồng
đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban
đầu do do sự tập hợp của nhiều bộ lạc liên minh, sau này của nhiều cộng
đồng mang tính tộc ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân
tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau. Bƣớc vào giai
đoạn công nghiệp rõ rệt nhất là ở các nƣớc phƣơng Tây, do yêu cầu xóa bỏ
tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc nhằm tạo ra một thị trƣờng
thống nhất, nên cộng đồng dân tộc đƣợc kết cấu chặt chẽ hơn. Kết cấu của
cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa
trong khu vực và bản thân.
+ Dân tộc (Ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc ngƣời,
ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, Mƣờng, Thái, H'Mông… Các cộng đồng này
có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở
nhiều quốc gia dân tộc khác nhau đƣợc liên kết với nhau bằng những đặc
điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc ngƣời.
Theo định nghĩa này, Việt Nam vừa là dân tộc mang hàm nghĩa quốc
gia - dân tộc vừa là một quốc gia kết hợp của nhiều tộc ngƣời. Hay nói cách
khác Dân tộc Việt Nam là quốc gia bao gồm nhiều dân tôc/tộc ngƣời hợp lại.
Để hiểu rõ hơn về dân tộc - tộc ngƣời, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận
rộng rãi 5 tiêu chí sau để xác định thế nào là dân tộc (ethnic) [11]:
7
- Có cùng tiếng mẹ đẻ (có ngôn ngữ tộc ngƣời thống nhất);
- Có cùng một khu vực lãnh thổ (có lãnh thổ tộc ngƣời thống nhất);
- Có nền kinh tế tộc ngƣời thống nhất;
- Có các đặc trƣng văn hoá thống nhất/văn hoá tộc ngƣời;
- Có Ý thức tự giác tộc ngƣời thống nhất.
Các nhà Dân tộc học Xô Viết đã dùng bốn tiêu chí để xác định thành
phần dân tộc ở Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết:
sống trên cùng lãnh thổ.
- Về vị thế xã hội: Là nhóm yếu thế trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực,
vai trò và ảnh hƣởng của nhóm tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở lãnh
thổ nơi mà họ sinh sống).
- Về bản sắc: Có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn
ngữ, phong tục tập quán... mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số.
- Về địa vị pháp lý: có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi
mà họ đang sinh sống.
- Về ý chí chủ quan: Một phần trong các thành viên của cộng đồng ấy
phải có ý chí bảo tồn những đặc trƣng văn hóa của riêng họ - Tuy nhiên yếu
tố này cũng còn gây nhiều tranh cãi về tính bắt buộc.
Trên thực tế Liên Hợp quốc thừa nhận cộng động Ngƣời thiểu số (trong
đó bao gồm cả dân tộc thiểu số) là vẫn đề nhạy cảm và phức tạp (Lời nói đầu
cuả Nghị quyết 217C (III) của Đại Hội Đồng). Thừa nhận ngƣời thiểu số là một
trong các nhóm dễ bị tổn thƣơng và yêu cầu cần phải có những cơ chế riêng
biệt để bảo vệ ngƣời thiểu số. Ngoài quy định quyền bình đẳng trong việc
hƣởng các quyền con ngƣời đƣợc quy định tại Công ƣớc quốc tế về quyền con
ngƣời, Đại hội đồng Liên Hợp quốc cũng yêu cầu Hội đồng Kinh tế xã hội
(ECOSOC) nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lƣỡng về vấn đề ngƣời thiểu số,
và sau đó dƣới tác động tích cực của Tiểu ban về Ngăn ngừa phân biệt đối xử
và bảo vệ ngƣời thiểu số, quyền của ngƣời thiểu số đƣợc ghi nhận một cách
trực tiếp tại Điều 27 Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966.
Đến năm 1992 một văn kiện quốc tế quan trọng về ngƣời thiểu số là Tuyên
11
ngôn về các quyền của những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng
tộc, ngôn ngữ và tôn giáo đƣợc thông qua đã góp phần ghi nhận, bảo vệ và thúc
đẩy quyền của ngƣời thiểu số. Đây là những văn kiện mà hiện đang đóng vai
dựng và bảo vệ Tổ quốc là điều kiện cơ bản để Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam
thực hiện tốt các chính sách và pháp luật trên phạm vi toàn lãnh thổ.
Thứ hai, về địa bàn cƣ trú: Dân cƣ các DTTS ở nƣớc ta phân bố không
đồng đều, tập trung ở một số vùng, nhƣng không cƣ trú thành những khu vực
riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác, thậm trí xen kẽ với các dân tộc đa
số. Khu vực cƣ trú bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển, thậm
chí ở đô thị thành phố, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là ở miền núi, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo...là địa bàn chiếm tới 3/4 lãnh thổ quốc gia và có
vị trí chiến lƣợc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng. Đặc điểm xen kẽ
giữa các dân tộc một mặt đã tạo điều kiện để các dân tộc này có cơ hội để
tăng cƣờng sự hiểu biết, hòa hợp, gắn bó với nhau, nhờ đó các dân tộc có điều
kiện học hỏi những tri thức mới, từng bƣớc thu hẹp khoảng cách về trình độ
phát triển giữa các dân tộc. Nhƣng mặt khác, đặc điểm sống xen kẽ này làm
cho các dân tộc kém phát triển hơn dễ bị đồng hóa, mất đi nguồn gốc, bản sắc
của dân tộc mình.
Thứ ba, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Các DTTS ở Việt Nam
có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau. Một số DTTS nhƣ dân
tộc Khơme, Chăm, Hoa là những dân tộc thiểu số phân bố ở những vùng đồng
bằng, đô thị là nơi có nền kinh tế- xã hội phát triển nhƣ: Thành phố Hồ Chí
Minh, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Nai, Tây Ninh… lại
sinh sống xen kẽ với đa số ngƣời dân tộc Kinh nên có nhiều cơ hội để phát
triển kinh tế - xã hội, Một số dân tộc khác nhƣ dân tộc Tày, Nùng, Thái,
Mƣờng tuy có cuộc sống khó khăn, thiếu thốn hơn nhƣng phần lớn đã thoát
khỏi cuộc sống lạc hậu và đói nghèo. Một số DTTS rất ít ngƣời nhƣ dân tộc
Brâu, Pupéo, Chứt, Mảng… cƣ trú chủ yếu ở Kom Tum, Hà Giang, Quảng
13
Bình, Lai Châu… lại có đời sống vật chất rất khó khăn, thiếu thốn, lạc hậu,
vai trò nổi bật trong việc xác lập địa vị bình đẳng và nguyên tắc không phân
biệt đối xử với ngƣời DTTS trong việc hƣởng thụ các quyền con ngƣời trên
các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Ngoài ra, pháp luật
còn có vai trò tích cực tạo ra một môi trƣờng thuận lợi, khắc phục những hạn
chế, khó khăn, tạo cơ hội cho những ngƣời DTTS phát huy các giá trị con
ngƣời vốn có.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 đã khẳng định: Mọi
ngƣời sinh ra đều tự do và bình đẳng về ngôn ngữ và các quyền. họ đƣợc phú
cho lý trí và lƣơng tri và cần đối xử với nhau trong tình anh em (Điều 1) hoặc
“Không một ai có thể bị tƣớc bỏ các quyền đã ghi nhận trong Công ƣớc
này…”. Từ đó có thể rút ra một nguyên tắc nền tảng của luật quốc tế về nhân
quyền là bình đẳng. Tất cả các cá nhân trong cộng đồng nhân loại đều bình
đẳng về phẩm giá và các quyền, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về
dân tộc, ngôn ngữ, giới tính, tôn giáo… Nhận thức trên xuất phát từ một thực
tế không thể phủ nhận đó là ngƣời thiểu số hay ngƣời đa số cũng đều là những
con ngƣời, những thành viên của cộng đồng xã hội, suy rộng ra DTTS cũng
nhƣ dân tộc đa số đều đƣợc hƣởng những quyền con ngƣời nhƣ nhau và
không phải chịu bất kỳ hạn chế vô lý nào trên phƣơng diện là ngƣời DTTS.
Nhận thức về quyền bình đẳng đó đã chi phối rất nhiều đến quá trình
xây dựng hệ thống pháp luật quốc tế về nhân quyền, nhiều quan điểm cho
rằng đã là bình đẳng về quyền đồng nghĩa với việc “cào bằng” quyền cho mọi
chủ thể, cho dù chủ thể đó thuộc nhóm thiểu số, có nhƣ vậy mới phù hợp với
tính chất phổ quát áp dụng chung cho toàn nhân loại. Tuy nhiên cần phân tích
chủ thể là ngƣời thiểu số về dân tộc hay DTTS, trên thực tế đây là nhóm
ngƣời dễ bị tổn thƣơng hơn với dân tộc đa số, phần lớn các nhóm DTTS
không chiếm ƣu thế về số lƣợng ngƣời nên thƣờng có vị thế thấp hơn, không
chiếm ƣu thế về chính trị, kinh tế, thậm trí DTTS ở nhiều nơi còn bị thôn tính,
15
1.3. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ngƣời DTTS (hay ngƣời thiểu số về dân tộc) là thuật ngữ đƣợc sử dụng
rộng rãi trên thế giới. Trong quá trình lịch sử lâu dài, ngƣời DTTS đƣợc cộng
đồng thế giới ghi nhận là nhóm ngƣời yếu thế, dễ bị tổn thƣơng so với các dân
tộc đa số khác. Ngƣời DTTS có đặc thù là những dân tộc có ít ngƣời, sống
manh mún, không có thế mạnh về kinh tế, chính trị, duy trì lối sống ảnh
hƣởng nhiều bởi tập quán lạc hậu, chậm thay đổi, lại bị bó hẹp trong những
không gian riêng, ngôn ngữ riêng vì vậy những ngƣời này thƣờng không nắm
trong tay quyền lực, dễ bị đàn áp, chia rẽ, đồng hóa, thậm trí bị diệt vong bởi
các dân tộc đa số khác. Trên thực tế đã xảy ra những tội ác gây nên tình trạng
căng thẳng, xung đột, chia rẽ, phân biệt giữa những ngƣời thuộc nhóm thiểu
số và những ngƣời thuộc nhóm đa số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, sắc
tộc...điển hình nhƣ tội ác A-pác-thai, làm cho Liên Hợp quốc và nhiều tổ chức
khác trên toàn thế giới quan tâm và đã đƣa ra nhiều biện pháp nhằm bảo vệ
nhóm thiểu số trong đó có cả nhóm thiểu số về dân tộc,.
Một số văn kiện quốc tế quan trọng trong việc ghi nhận về quyền của
ngƣời thiểu số nhƣ sau:
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (1948), đƣợc Đại hội đồng
Liên Hợp quốc thông qua theo nghị quyết số 217A(III) ngày 10/12/1948. Tuy
không phải là một văn kiện có tính ràng buộc về mặt pháp lý, nhƣng bản
Tuyên ngôn này có một sức mạnh đạo đức, chính trị đáng kể. Nó là cơ sở để
xây dựng các văn kiện quốc tế khác về nhân quyền và thƣờng đƣợc viện dẫn
để chứng minh cho các hành động của Liên Hợp quốc trên lĩnh vực này, ngoài
ra nó còn ảnh hƣởng đến pháp luật của nhiều quốc gia trên Thế giới.
Điều 2 của Tuyên ngôn khẳng định: “Mọi ngƣời sinh ra đều đƣợc
hƣởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này, không có bất
kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
18
sắc về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo theo cách thức riêng của họ
hoặc cùng cộng đồng, bảo vệ quyền đƣợc bảo tồn những đặc trƣng mà họ
muốn duy trì và phát triển. Công ƣớc này cũng đòi hỏi các quốc gia tham gia
phê chuẩn Công ƣớc (trong đó có Việt Nam) có nghĩa vụ bảo đảm rằng tất cả
các cá nhân thuộc quyền tài phán của quốc gia phải đƣợc hƣởng thụ các
quyền trong Điều 27. Và theo Khuyến nghị chung số 18 của Ủy ban quyền
con ngƣời về không phân biệt đối xử theo Công ƣớc về các quyền dân sự và
chính trị (1966) yêu cầu các quốc gia tham gia công ƣớc phải có những biện
pháp cụ thể để điều chỉnh những bất bình đẳng mà các nhóm thiểu số ở nƣớc
mình phải gánh chịu.
Mặc dù Công ƣớc này chỉ có duy nhất một điều trực tiếp quy định
về quyền của ngƣời thiểu số, nhƣng nó vẫn đƣợc coi là một mốc phát triển
quan trọng, vƣợt bậc về bảo vệ ngƣời thiểu số về dân tộc, chủng tộc, ngôn
ngữ, tôn giáo.
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966,
Công ƣớc này đƣợc Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết
số 2200 A (XXI) ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 3/1/1976. Mặc dù là
một trong hai Công ƣớc quan trọng nhất về nhân quyền, nhƣng khác với Công
ƣớc quốc tế về dân sự và Chính trị năm 1966, thì Công ƣớc này đã không ban
hành đƣợc bất kỳ điều khoản trực tiếp nào đề cập trực tiếp đến bảo vệ quyền
của ngƣời thiểu số, mà chỉ quy định quyền bình đẳng cho tất cả các thành viên
của nhân loại trong việc thực hiện các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội.
Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về
chủng tộc hoặc dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ năm 1992, Đƣợc Đại hội đồng
Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết 47/135, ngày 18/12/1992. Đây là
văn kiện riêng biệt của Liên Hợp quốc đã cụ thể hóa quyền của các nhóm thiểu