Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa : Luận văn ThS. Luật : 60 38 01 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN MINH

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG
BỘ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Thái

Phản biện 1:

Phản biện 2:
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số

: 60 38 01
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2012.

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Có thể tìm hiểu luận văn
tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung
tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

1.1.1. Giao thông

8

1.1.2. Giao thông đường bộ

8

1.1.3. Hành lang an toàn đường bộ

9

1.2.

Trật tự an toàn giao thông đường bộ

10

1.3.

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

12

1.3.1. Khái niệm

12

1.3.2. Vai trò của công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ


2.1.4. Cơ cấu quản lý hệ thống giao thông đường bộ

27

2.2.

Thực trạng vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa và công tác xử lý vi phạm

28

2.3.

Thực trạng vi phạm hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa và công tác xử lý vi phạm

51

2.3.1. Tình hình vi phạm hành lang an toàn đường bộ

51

2.3.2. Công tác xử lý vi phạm hành lang an toàn đường bộ

56

2.4.

Nguyên nhân vi phạm pháp luật giao thông đường bộ

cơ giới và công tác đào tạo, sát hạch thi cấp giấy phép lái xe

86

3.4.

Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, tăng cường
công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và hành
lang an toàn đường bộ

88

3.5.

Đổi mới và duy trì thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật giao thông đường bộ

93

KẾT LUẬN

102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

104

PHỤ LỤC

113


: ủy ban nhân dân

6


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Thống kê số lượng nhà dân, công trình dịch vụ xăng dầu,

54

bảng
2.1

mở đường ngang đấu nối vào các quốc lộ 1A, 45, 47, 10,
217, 15 đến tháng 12 năm 2010
2.2

Thống kê số công trình nằm trong hành lang ATGT
đường Hồ Chí Minh đến tháng 12 năm 2010

7



8


cho hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) và ảnh hưởng lớn đất trật tự an toàn xã
hội (TTATXH). Với những hậu quả của việc vi phạm pháp luật GTĐB ngoài
việc gây mất TTATXH, thì TNGTĐB còn gây ra sự ảnh hưởng lớn đến sức
khỏe cộng đồng, lấy đi tương lai thế hệ trẻ của đất nước, làm tăng thêm nỗi lo,
gánh nặng cho mỗi gia đình, cho mỗi địa phương và cho toàn xã hội, đồng
thời ảnh hưởng to lớn đến tài chính của các địa phương.
Nhưng vấn đề TNGTĐB cũng có thể dự đoán và phòng ngừa thông
qua các hoạt động của các cơ quan QLNN, hành động của nhân dân và toàn
xã hội. Đó là việc xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực này. Đây vừa là biện pháp hàng đầu để ngăn chặn vi phạm
pháp luật, nhưng đồng thời "là một biện pháp giáo dục hiệu quả nhất"- Theo
ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị An
toàn giao thông toàn quốc (Thông báo số 17/TB-VPCP ngày 30 tháng 01 năm
2008).
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là một hoạt động
phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng của các đối tượng và các phương tiện tham
gia GTĐB, việc thực hiện nhiệm vụ của lực lượng chức năng đôi lúc còn chưa
nghiêm, chưa minh bạch, thiếu cương quyết, chưa kịp thời, chưa thấu tình, đạt
lý. Hơn nữa, sự phân công, phân cấp quản lý trong lĩnh vực này chưa rõ ràng;
bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức đảm nhiệm chức năng xử lý vi phạm
hành chính về GTĐB vẫn còn nhiều hạn chế, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ cho
lực lượng này còn thiếu; hệ thống cơ sở hạ tầng của tỉnh Thanh Hóa cũng
chưa đồng bộ, thiếu liên hoàn.
Đề nâng cao hiệu quả hiệu công tác QLNN, giữ gìn trật tự an toàn
giao thông đường bộ (ATGTĐB), ngăn ngừa vi phạm, giảm nhẹ thiệt hại do
vi phạm pháp luật GTĐB gây ra đồng thời tăng cường hiệu quả xử lý vi phạm

tự ATGTĐB. Luận văn cũng đã đề xuất một số kiến nghị, trong đó kiến nghị
về hoàn thiện thể chế, ban hành văn bản quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền
cụ thể của chính quyền cơ sở trong quản lý bằng pháp luật về trật tự
ATGTĐB.

10


- Vũ Ngọc Dương, Thực trạng và giải pháp về trật tự an toàn giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tạp chí khoa học công nghệ và
môi trường số 4 năm 2009 đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2009. Đề tài đã
nghiên cứu đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp đảm bảo an toàn trật
tự giao thông trên địa bàn tỉnh Hải Dương, nâng cao năng lực quản lý trật tự
ATGTĐB cho lực lượng công an và lực lượng Thanh tra giao thông.
- Trần Văn Luyện, Trần Sơn, Nguyễn Văn Chính, Trật tự an toàn giao
thông đường bộ, thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
năm 2003. Sách đã trình bày những nhận thức chung về trật tự ATGTĐB, tình
hình trật tự GTĐB, những giải pháp bảo đảm trật tự ATGTĐB mà không có
mục đích khai thác sâu về xử lý vi phạm pháp luật GTĐB là những nội dung
trọng tâm của đề tài "Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" sẽ đề cập đến.
- Lê Ngọc Tiến, Giáo dục pháp luật- biện pháp quan trọng trong giảm
thiểu tai nạn giao thông, Tạp chí Giao thông vận tải, số 7, năm 2004.
Lý Huy Tuấn, Quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đô thị, Tạp
chí QLNN, số 3, năm 2003.
Lê Ngọc Tiến, Giáo dục pháp luật- biện pháp quan trọng trong giảm
thiểu tai nạn giao thông đường bộ, Tạp chí Giao thông vận tải, số 7, năm 2004.
Từ nội dung của những công trình khoa học trên cho thấy đề tài mà tác giả
luận văn chọn sẽ không trùng lặp, là đề tài mới có giá trị thực tiễn tại địa phương
tỉnh Thanh Hóa, thuộc chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

liệu các vụ vi phạm GTĐB, TNGT do vi phạm hành chính trong lĩnh vực

12


GTĐB, vi phạm hành lang an toàn đường bộ từ năm 2003 đến năm 2010 trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Bám sát chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về
giao thông, phát triển hệ thống giao thông, an toàn giao thông (ATGT) và
hành lang an toàn đường bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; các chủ trương tỉnh Thanh Hóa về GTĐB, phát triển đồng bộ GTĐB,
có sự tính toán khoa học giữa sự phát triển GTĐB và sự phát triển kinh tế - xã
hội. Có sự so sánh giữa lý luận và thực tiễn về vi phạm GTĐB, hành lang an
toàn đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử
dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh để nêu bật tình hình, từ đó
đề xuất các giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật GTĐB, kiềm chế TNGT và
nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm hành chính về GTĐB trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa.
6. Đóng góp của luận văn
Từ vấn đề mà luận văn nghiên cứu bước đầu chỉ đạt được một số điểm
mới sau:
- Xây dựng một số khái niệm liên quan đến GTĐB, vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB.
- Phân tích thực trạng vi phạm pháp luật GTĐB trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa.
- Trên cơ sở thống kê một cách có hệ thống tình hình vi phạm
ATGTĐB và việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2003 đến năm 2010. Luận văn sẽ nêu các giải

14


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ

1.1. GIAO THÔNG, GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ, HÀNH LANG AN TOÀN
ĐƢỜNG BỘ

1.1.1. Giao thông
Khi nói đến giao thông là nói đến "việc đi lại từ nơi này đến nơi khác
của người và phương tiện chuyên chở" [57, tr. 381].
GTĐB là đòi hỏi có tính tất yếu, cần thiết của quá trình phát triển đời
sống xã hội ở mỗi một xã hội và mỗi quốc gia. Sự phát triển của giao thông
mang tính lịch sử và phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, khoa họccông nghệ nhất định.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người có thể nói từ khi còn sơ khai
đến xã hội văn minh ngày nay đều gắn bó chặt chẽ với hoạt động giao thông
mà trước hết là GTĐB, sau đó phát triển các loại hình giao thông khác như
giao thông đường thủy, giao thông đường sắt, giao thông đường không.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì đường bộ được hiểu là "Thứ đường đi
trên đất liền dùng cho người đi bộ và xe cộ, nói chung" [57, tr. 356]. Theo
Luật GTĐB năm 2008 thì định nghĩa "Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ,
hầm đường bộ, bến phà đường bộ" [70].
1.1.2. Giao thông đƣờng bộ
Giao thông đường bộ là một hiện tượng xã hội có xu hướng biến động
phát triển mạnh mẽ không chỉ ở Việt Nam mà còn diễn ra hầu hết các quốc
gia trên thế giới. GTĐB và phát triển GTĐB đang được xem xét ở nhiều góc
độ kinh tế- xã hội, chính trị dưới tác động của sự phát triển khoa học- kỹ thuật
tiên tiến. Và trên cơ sở của những khái niệm về đường bộ tại mục 1.1.1 có thể


cho hoạt động giao thông vận tải, vì vậy việc quản lý, bảo vệ hành lang an

16


toàn đường bộ là hoạt động chung của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
chính trị- xã hội, lực lượng vũ trang và của toàn dân.
Giữ gìn, chống lấn chiếm, cơi nới, sử dụng trái phép đất hành lang an
toàn các tuyến đường; chấm dứt việc giao đất, cho thuê đất dọc trong hành
lang các tuyến đường, không phù hợp với qui định của pháp luật, ảnh hưởng
đến an toàn các công trình và hành lang đường bộ; đưa việc quản lý, sử dụng
hành lang an toàn đường bộ theo đúng quy định của pháp luật, việc khai thác
và sử dụng đất dành cho đường bộ, hành lang an toàn đường bộ cũng như
việc, mở đường nhánh, đấu nối đường nhánh vào đường chính phải có trong
quy hoạch, được cấp có thẩm quyền cho phép bằng văn bản, tránh vi phạm
pháp luật GTĐB là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong công
tác QLNN và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về GTĐB.
Sự an toàn trong hoạt động của đường bộ phụ thuộc rất lớn vào sự ổn
định hành lang an toàn. Luật GTĐB quy định: "Hành lang an toàn đường bộ
là giải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính từ mép ngoài đất của đường bộ
ra hai bên để đảm bảo an toàn giao thông đường bộ" [70]. Bao gồm: giới hạn
hành lang đối với đường bộ; giới hạn hành lang an toàn đối với cầu, cống;
giới hạn hành lang an toàn đối với hầm đường bộ; giới hạn hành lang an toàn
đối với bến phà, cầu phao; giới hạn hành lang an toàn đối với kè bảo vệ
đường bộ; giới hạn bảo vệ trên không của công trình đường bộ xây dựng mới;
giới hạn khoảng cách an toàn đường bộ theo chiều ngang.
Như vậy có thể thấy được hành lang an toàn đường bộ là bộ phận nằm
trong kết cấu hạ tầng GTĐB, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và bền vững
của công trình cũng như những hoạt động diễn ra trên công trình đường bộ.
1.2. TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ

thành và điều chỉnh bởi hệ thống QPPL của Nhà nước, quy phạm chính trị,
quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của một
dân tộc, một Nhà nước, là tình trạng xã hội ổn định, ở đó mọi công dân sống

18


và lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm,
không bị xâm hại.
Trật tự ATGT cũng là một phần quan trọng của TTATXH, có mối
quan hệ nhân quả và không tách rời TTATXH. Về mặt nhận thức, thói quen
và tâm lý của người tham gia giao thông cũng chính là của con người tham
gia hoạt động kinh tế xã hội. Kỷ cương trong quản lý kinh tế- xã hội cũng có
ý nghĩa quyết định kỷ cương trong giao thông, vì con người là tổng hòa các
mối quan hệ xã hội.
Như vậy, trật tự ATGTĐB có đảm bảo thì mới góp phần đảm bảo
TTATXH. Hoạt động GTĐB diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, liên quan đến mọi
tầng lớp dân cư, mọi chủ thể trong xã hội. Trật tự ATGTĐB được bảo đảm sẽ
tạo cho GTĐB thông suốt, tài sản, tính mạng, mọi lợi ích chính đáng khác của
những chủ thể tham gia giao thông được đảm bảo an toàn hơn, người dân có
cuộc sống yên lành, ổn định, nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế được thuận lợi.
Do vậy TTATXH cần được giữ vững.
Trật tự ATGT có tính xã hội sâu rộng, bảo đảm cuộc sống bình an và
hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà. Thiệt hại do TNGT gây ra về người và
của là rất lớn và đang gia tăng những mối nguy hại cho một gia đình, một xã
hội, một quốc gia. Những người bị thương vong phần lớn là những người lao
động chính, nên để lại nhiều gánh nặng lâu dài. Vì vậy trật tự ATGT ổn định
là một yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Tóm lại, từ vai trò tất yếu của GTĐB là đòi hỏi, yêu cầu phải có sự quản
lý của nhà nước đồng thời phải có những biện pháp để hạn chế thiệt hại do vi

của đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót của kẻ thất phu (Hàn Phi Tử.
Thiên Hữu Độ). Do đó Hàn Phi Tử không bàn đến nhân nghĩa, cũng không
trọng lễ như Khổng Tử, Tuân Tử, mà đề cao phương pháp dùng thế, dùng
thuật, dùng luật của pháp gia để trị nước.
Montesquieu trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" đã khẳng định:
"Sống trong một xã hội, muốn duy trì trật tự phải quy định rõ quan hệ giữa

20


người cai trị và người được cai trị. Đó là luật chính trị. Lại phải quy định quan
hệ giữa công dân. Đó là luật dân sự" [64, tr. 44].
Như vậy theo dòng lịch sử, dù ở thời xa xưa việc QLNN dưới quan
điểm đức trị, hay pháp trị thì dùng pháp luật quản lý đất nước và sử dụng
pháp luật là công cụ để xử lý người không tuân thủ pháp luật luôn là một lựa
chọn có hiệu quả để quản lý đất nước, phát triển và ổn định xã hội.
Trong xã hội hiện đại ngày nay việc dùng pháp luật để QLNN lại càng
quan trọng. Để quản lý xã hội nói chung và hoạt động quản lý nói riêng trong
từng lĩnh vực thì việc sử dụng các "hình phạt" luôn được lựa chọn để làm cho
pháp luật thể hiện được tính nghiêm minh, mọi người phải tôn trọng và thực
hiện. Lĩnh vực GTĐB cũng không phải là ngoại lệ.
Thực hiện chủ trương chung của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng
định "Quản lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng" [49, tr. 120].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng tiếp tục khẳng định
"Quản lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng" [50, tr. 94]. Để
QLNN bằng pháp luật có hiệu quả, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
của Đảng đưa ra yêu cầu: "Quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi trọng
việc giáo dục đạo đức" [51, tr. 129].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại tiếp tục đề cao vai

GTĐB còn là các điều ước quốc tế do nước ta tham gia hoặc ký kết.
Vấn đề đặt ra là tại sao Nhà nước phải quản lý lĩnh vực GTĐB? Hoạt
động QLNN nói chung và quản lý trong một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể
bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau. Phổ biến là quản lý bằng
phương pháp hành chính, phương pháp kế hoạch chính sách, phương pháp
kinh tế và phương pháp tư tưởng. Nhưng tựu chung Nhà nước nào cũng phải
dùng pháp luật như một công cụ đồng thời là phương pháp chủ yếu để quản lý
xã hội, đó chính là pháp luật.
Từ những khái niệm về pháp luật GTĐB, Luật GTĐB, thì có thể khái
quát vấn đề vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB như sau:

22


Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là những hành vi của cá
nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực GTĐB một cách
cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải
bị xử lý vi phạm hành chính, bao gồm: Các hành vi vi phạm quy tắc GTĐB;
các hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB; các hành vi vi phạm
quy định về phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về
người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi phạm quy định
về vận tải đường bộ; các hành vi vi phạm khác về GTĐB.
Những hành vi vi phạm pháp luật về GTĐB có thể làm phát sinh
những quan hệ pháp luật sau đây:
- Vi phạm pháp luật dân sự.
- Vi phạm pháp luật hành chính.
- Vi phạm kỷ luật nhà nước (đối với cán bộ, công chức, viên chức
hành chính trực tiếp thực hiện hoạt động QLNN trong lĩnh vực GTĐB).
- Vi phạm pháp luật về đất đai.
Vậy xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này như thế nào, và có

phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử
phạt bổ sung:
a) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có
thời hạn hoặc không thời hạn;
b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm
hành chính [41].
Vậy những chủ thể nào có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực GTĐB. Theo quy định tại Điều 47 Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02
tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB:

24


1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Trưởng Công an các
cấp (trừ Trưởng Công an cấp xã) có thẩm quyền xử phạt đối với các
hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này trong phạm vi quản lý
của địa phương mình.
2. Cảnh sát giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối
với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với
người và phương tiện tham gia giao thông trên đường bộ được quy
định trong Nghị định này.
3. Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ
động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng công an
cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan
đến trật tự an toàn giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối
với các hành vi vi phạm quy định tại các điểm, khoản, điều của
Nghị định này…
4. Thanh tra giao thông đường bộ trong phạm vi chức năng,
nhiệm vụ được giao có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi

1.3.2. Vai trò của công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đƣờng bộ
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là hoạt động trong
tổng thể các vấn đề thuộc nội dung của hoạt động QLNN. Do vậy những kết
quả thuận lợi, ổn định từ công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về GTĐB.
Thứ nhất, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB nhằm đảm
bảo phát triển bền vững kinh tế- xã hội.
Bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ công nghệ thông tin và kinh tế tri thức.
Một hệ thống GTĐB hiện đại sẽ tạo đà phát triển cho phát triển kinh tế xã hội,
là yếu tố hàng đầu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao hiệu quả kinh tế
cho hoạt động kinh doanh cho các chủ thể ở tất cả các địa phương trong tỉnh
Thanh Hóa và trong cả nước. Trái lại một hệ thống GTĐB yếu kém, sẽ không

26


đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, tức là hiệu lực, hiệu quả QLNN
trong lĩnh vực GTĐB chưa được đầy đủ và chặt chẽ.
Giao thông vận tải nói chung, GTĐB nói riêng được hình thành trên
cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Bàn về
giao thông vận tải, Các Mác đã từng khẳng định:
Những quan hệ giữa các quốc gia khác nhau đều phụ thuộc
vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao
động và giao thông trong nước của quốc gia đó. Nguyên lý đã được
mọi người công nhận. Nhưng không chỉ những mối quan hệ giữa
nước này và nước khác mà cả toàn bộ cơ cấu nội bộ của bản thân
nước đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của giao thông
trong và ngoài nước đó [59, tr. 5].
Có thể nhận định rằng phát triển GTĐB và phát triển kinh tế- xã hội là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status