®¹i häc quèc gia hµ néi
Khoa s- ph¹m
*
VÕ KHÁNH CAN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT
GIỮA KHOA ĐẠI HỌC TẠI CHỨC TRƯỜNG ĐẠI
HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VỚI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO
NGOÀI TRƯỜNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN TIẾN ĐẠT
Hà Nội – 2006
®¹i häc quèc gia hµ néi
Khoa s- ph¹m
*
VÕ KHÁNH CAN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT
GIỮA KHOA ĐẠI HỌC TẠI CHỨC TRƯỜNG ĐẠI
8
tiễn……………………
7.3. Nhóm phương pháp thống kê và phân tích số liệu…………. 9
8. Những đóng góp của đề tài…………………………………………... 10
9. Cấu trúc luận văn…………………………………………………….. 10
Chương1. Cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức hoạt động liên kết đào
11
tạo..
11
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề....................................................................... 14
1.2. Các khái niệm …………………………………............................... 18
1.2.1. Quản lý ................................................................................ 19
1.2.2. Các chức năng và vai trò quản lý ......................................... 19
1.2.3. Biện pháp quản lý ............................................................... 24
1.2.4. Quản lý giáo dục .................................................................. 25
1.2.5. Xã hội hoá giáo dục.............................................................. 25
1.2.6. Hoạt động đào tạo ............................................................... 26
1.2.7. Liên kết đào tạo .................................................................. 28
1.2.8. Đào tạo tại chức ..........................................………………. 29
1.2.9. Chất lượng đào tạo..........................................…………….. 29
1.3. Tầm quan trọng của vấn đề liên kết đào tạo 30
30
......................................
32
3
1.4. c trng ca vn liờn kt o to ...............................................
1.4.1. Đặc tr-ng của công tác đào tạo tại chức ..............................
2.6.5. Đánh giá chung về liên kết đào tạo giữa khoa Đại học Tại
chức với các cơ sở liên kết đào tạo ......................................
2.6.6. Những thuận lợi cơ bản của công tác liên kết đào tạo .
33
33
33
33
33
34
36
38
38
41
43
44
45
47
47
49
51
52
52
52
52
53
53
54
55
56
3.2.6. Tổ chức sự phối hợp đồng bộ, bình đẳng giữa Khoa Đại
học Tại chức và các cơ sở đào tạo, huy động các lực l-ợng
kinh tế xã hội tham gia vào liên kết đào tạo
3.3. Thăm dò tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Kết luận và khuyến nghị...........................................................................
Tài liệu tham khảo
65
68
71
73
74
77
80
83
5
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CĐ
CĐXH
CGCN
CN
ĐH
ĐHBK
ĐHTC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
KHOA HỌC KỸ THUẬT
LAO ĐỘNG SẢN XUẤT
LIÊN KẾT ĐÀO TẠO
LỰC LƯỢNG KINH TẾ XÃ HỘI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NHÀ GIÁO NHÂN DÂN
NHÀ GIÁO ƯU TÚ
NHÀ XUẤT BẢN
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM
THÍ NGHIỆM
THỨ TỰ
UỶ BAN NHÂN DÂN
TỔ CHỨC MẬU DỊCH QUỐC TẾ
XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Loại hình đào tạo Đại học tại chức trong những năm qua phát triển rất
mạnh, hầu như trường đại học nào cũng có loại hình đào tạo này. Đối với
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội số lượng sinh viên học đại học tại chức
ngày càng tăng. Nhà trường đã bồi dưỡng đào tạo một số lượng không nhỏ
cán bộ khoa học kỹ thuật đây là nguồn nhân lực rất cần thiết cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Sinh viên đại học tại chức
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội sau khi ra trường đã có mặt trên khắp mọi
miền đất nước, trong tất cả các lĩnh vực đời sống văn hoá xã hội, đặc biệt là ở
khoa học kỹ thuật trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động liên kết giữa Khoa Đại học
Tại chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với các cơ sở đào tạo ngoài
trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác đào tạo tại Khoa Đại học Tại chức
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
- Đối tƣợng nghiên cứu: Các hoạt động liên kết giữa Khoa Đại học Tại
chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với các cơ sở đào tạo ngoài
trường.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất và áp dụng một số biện pháp tổ chức hoạt động liên kết,
quán triệt được các yêu cầu sư phạm hiện nay thì sẽ nâng cao được chất lượng
đào tạo sinh viên đại học tại chức tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
- Khái quát các vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động liên kết giữa nhà
trường và cơ sở đào tạo trên cơ sở nền tảng lý thuyết là xã hội hóa giáo dục,
chú trọng vấn đề liên kết và phối hợp.
- Phân tích làm rõ thực trạng hoạt động liên kết giữa nhà trường và cơ
sở đào tạo làm rõ mặt mạnh, yếu, khó khăn của Khoa Khoa Đại học tại chức
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Đề xuất những biện pháp tổ chức liên kết giữa Khoa Đại học tại chức
và các cơ sở đào tạo ngoài trường của khoa.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đi sâu nghiên cứu các hoạt động liên kết đào tạo của Khoa Đại học Tại
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức hoạt động liên kết đào tạo
- Chương 2: Thực trạng hoạt động liên kết đào tạo tại Khoa Đại học Tại
chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Chương 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động liên kết giữa Khoa Đại
học Tại chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với các cơ sở liên
kết đào tạo.
9
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO
1.1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề
Lâu nay khi nói đến đào tạo đại học thì người ta hiểu là đào tạo đại học
chính quy, còn đào tạo đại học tại chức dường như chưa được quan tâm một
cách đầy đủ, mặc dù đào tạo đại học tại chức được tiến hành từ rất sớm.
Khoa Đại học Tại chức Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập từ
năm 1961 đến nay vừa tròn 45 năm. Tuy được hình thành từ rất lâu nhưng
ngoài quy chế đào tạo tại chức 3585 được ban hành từ năm 1994 vẫn còn
nguyên hiệu lực, quy chế đó nay có nhiều điểm đã lạc hậu, không còn phù
hợp. Hầu như mảng đào tạo đại học tại chức vẫn là một khoảng đất trống
chưa được các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra những giải pháp
hữu hiệu cũng như các phương pháp tổ chức đào tạo, để nâng cao chất lượng
đào tạo cho hệ đào tạo này. Năm 2004 mới có một vài cuộc hội thảo của các
nhà khoa học, các giảng viên của các trường đại học bàn về quy chế đào tạo
đại học tại chức nhằm thay thế quy chế 3585 đã lỗi thời, tuy nhiên cho đến
Đặc trưng của tổ chức bao gồm các tiêu chí sau:
- Lý tưởng, sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức.
- Quy mô của tổ chức.
- Cơ cấu thiết chế của tổ chức.
- Nội dung công việc của tổ chức.
- Điều kiện tồn tại và phát triển của tổ chức.
11
Khi nói về phạm trù tổ chức và quản lý người ta thường nhìn nhận theo
các quan điểm sau:
- Phạm trù “tổ chức” trùm lên phạm trù quản lý với hàm ý có “tổ chức”
mới có quản lý
- Hai phạm trù này tích hợp vào nhau, lồng ghép vào nhau
- “Tổ chức” chỉ là bộ phận của quản lý song là bộ phận quan trọng và
then chốt nhất.
Quá trình phát triển về mặt lý luận của hai lĩnh vực này có thể khu biệt
thành khoa học tổ chức, khoa học quản lý. Tuy nhiên trên thực tiễn vấn đề tổ
chức và vấn đề quản lý trong công việc, trong từng hoạt động cụ thể luôn bổ
sung cho nhau, chuyển hoá cho nhau, gắn kết với nhau.
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần
có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích
của mình.
Vậy hoạt động quản lý là gì ? Định nghĩa kinh điển nhất là: Quản lý là
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Vậy hoạt động quản lý là hoạt động mang tính xã hội, bắt nguồn từ tính
chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác lao động nhằm đạt được
- Chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý bằng các phương
pháp quản lý và dựa trên những công cụ quản lý.
Các thành tố trên không tách rời nhau mà gắn bó tương tác với nhau.
Có thể nói bản chất của quản lý là sự tác động có ý thức và bằng quyền lực
của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy vai trò của mỗi
thành viên trong tổ chức, làm cho tổ chức được vận hành trơn tru đạt được
mục tiêu đề ra. Việc chủ thể thực hiện các tác động có chủ đích, có kế hoạch
chỉ dẫn, điều tiết, phối hợp hoạt động của cấp dưới đó chính là việc thực hiện
các chức năng quản lý.
13
Để hoạt động quản lý trong một tổ chức có hiệu quả người quản lý phải
biết vận dụng các chức năng đặc trưng của hoạt động quản lý:
- Kế hoạch (xây dựng kế hoạch quản lý)
- Tổ chức (thiết lập cơ chế tổ chức quản lý)
- Chỉ đạo các hoạt động và quan hệ tổ chức
- Kiểm tra, theo dõi, giám sát đánh giá kết quả và hiệu quả việc thực
hiện kế hoạch đồng thời sử dụng hệ thống những phương pháp đặc trưng
trong quản lý như:
- Phương pháp tổ chức hành chính
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp tâm lý xã hội
- Phương pháp kinh tế.
Trên cơ sở đó người quản lý tìm cách điều khiển các hoạt động và quan
hệ giữa các thành viên trong tổ chức, giữa các bộ phận trong tổ chức, đồng
thời dùng các công cụ quản lý để điều hoà các mối quan hệ giữa tổ chức của
mình với các tổ chức khác trong cộng đồng xã hội mà tổ chức quan hệ. Trong
việc giải quyết các mối quan hệ, người quản lý cũng cần quan tâm giải quyết
các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ công tác tổ chức
có hiệu quả, mà người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn các nguồn
vật lực và nhân lực. Một tổ chức hoạt động tốt phụ thuộc nhiều vào năng lực
của người quản lý, sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Nội dung của tổ chức là tạo nên một bộ máy quản lý trong đó gồm
nhiều bộ phận được chuyên môn hoá, có quan hệ với nhau nhằm thực hiện
các chức năng quản lý vì một mục tiểu chung. Vì thế tổ chức chính là việc
xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý của hệ thống được hình thành trên cơ sở kế
hoạch hoá. Một cơ cấu tổ chức được cho là hợp lý khi nó đạt được nguyên tắc
thống nhất trong mục tiêu, mỗi thành viên đều góp công sức vào các mục tiêu
của hệ thống.
- Lãnh đạo-chỉ đạo
15
Sau khi kế hoạch đã được lập. Cơ cấu bộ máy tổ chức đã hình thành,
nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người nào đó đứng ra lãnh đạo, dẫn
dắc tổ chức. Đây chính là quá trình chỉ đạo, hay tác động vào các thành viên
của tổ chức. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động
viên họ hoàn thành các nhiệm vụ nhất định nào đó đã được giao, để đạt được
mục tiêu của tổ chức.
- Kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một
nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nhằm phát
hiện các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động, và tiến hành các hoạt
động sửa chữa, điều chỉnh cần thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với
những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành điều chỉnh, uốn
nắn. Đó là quá trình tự điều chỉnh diễn ra mang tính chu kỳ như sau:
bên ngoài tổ chức. Khi thực hiện vai trò này người quản lý tìm kiếm sự ủng
hộ của những đối tác, những nhân vật có ảnh hưởng đến sự thành đạt của tổ
chức.
Các vai trò thông tin
Một người quản lý giỏi phải hình thành được một mạng lưới các mối
quan hệ tiếp xúc. Qua hoạt động của các vai trò liên nhân cách, người quản lý
sẽ thu được các thông tin quý. Do có các quan hệ, tiếp xúc như vậy người
quản lý trở thành tế bào thần kinh trung ương của tổ chức.
- Vai trò hiệu thính viên: Vai trò này đòi hỏi người quản lý phải tìm
kiếm, thu thập và xử lý, sàng lọc thông tin. Từ đó những thông tin nào có thể
ảnh hưởng đến tổ chức của mình, và xác định thông tin nào là chính xác cần
thiết có thể sử dụng được.
- Vai trò phát tín viên: Với vai trò này người quản lý phải chia sẻ thông
tin với cấp dưới và các thành viên khác trong tổ chức. Tất nhiên là một người
17
quản lý giỏi thì cần phải biết những thông tin nào cần chia sẻ, như thế nào, lúc
nào cho những ai.
- Vai trò phát ngôn nhân: Người quản lý có trách nhiệm gửi thông tin
về thực trạng của tổ chức mình đến cho nhiều người nhất là những người bên
ngoài tổ chức. Vai trò này ngày một quan trọng vì báo chí và công luận đòi
hỏi thông tin ngày một nhiều.
Các vai trò quyết định
Người quản lý khi sử dụng thông tin nhận được, phải quyết định xem
bằng cách nào và khi nào sẽ phải xác định những mục tiêu và hoạt động mới
của tổ chức mình. Cho nên vai trò quyết định sẽ là vai trò quan trọng nhất
trong các vai trò đang được xem xét. Với tư cách của người sáng nghiệp,
người dàn xếp, người phân phối nguồn lực và người thương thuyết, người
Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý nhằm
giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đề ra.
1.2.4. Quản lý giáo dục
Giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng được
nhiều tác giả định nghĩa khác nhau. Có thể tổng quát như sau: Quản lý giáo
dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đầy mạnh
công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Ngày nay
với sứ mệnh phát triển giáo dục cho mọi người, giáo dục thường xuyên nên
công tác giáo dục không giới hạn trong thế hệ trẻ, quản lý giáo dục được hiểu
là sự điều hành, điều chỉnh hoạt động của toàn bộ hệ thống giáo dục quốcdân.
Vì thế định nghĩa sau đây là khái quát và đầy đủ nhất:
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ
thống giáo dục nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ sở giáo
dục trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống
19
cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.” [29, tr.25]
Giáo dục là một bộ phận của nền kinh tế xã hội, hệ thống giáo dục và
mạng lưới nhà trường là bộ phận của kết cấu hạ tầng xã hội, do đó quản lý
giáo dục là quản lý một loại hình kinh tế - xã hội đặc biệt nhằm thực hiện
đồng bộ hài hoà sự phân hoá xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật
phụcvụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.5. Xã hội hoá giáo dục
1.2.5.1. Xã hội hoá
“Xã hội hoá là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động
xây dựng quan hệ gắn bó giữa nhà trường và nhân dân, tạo điều kiện cho nhân
dân thực hiện tốt quyền làm chủ của mình đối với sự nghiệp giáo dục. Người
dân không chỉ đóng góp sức người sức của xây dựng nhà trường mà còn tham
gia kiểm tra giám sát nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục.
Thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục mới đem lại sức mạnh cho cho
giáo dục để thực hiện các mục tiêu của giáo dục là phát triển toàn diện con
người về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng nghề nghiệp để đáp ứng
được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Vì thế giáo dục cần thiết
có sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của các lực lượng xã hội hay cá nhân để
tạo ra môi trường thuận lợi cho giáo dục, hoàn thiện nội dung và phương pháp
giáo dục, cải tiến công tác quản lý giáo dục.
Xã hội hoá công tác giáo dục là con đường để thực hiện "dân chủ hoá
giáo dục" để đưa hệ thống giáo dục từ một thiết chế hành chính cô lập thành
một thiết chế giáo dục của nhân dân, do dân, vì dân. Phải làm cho mọi người
trong cộng đồng hiểu và nắm được những thông tin về giáo dục, để mọi người
có thể đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình để được hưởng thụ một nền
giáo dục có chất lượng. Đồng thời có thể tham gia ý kiến, đóng góp công sức
trí tuệ tiền bạc cho giáo dục.
Xã hội hoá công tác giáo dục còn nhằm mục tiêu "Giáo dục cho mọi
người" làm cho mọi thành viên của cộng đồng được hưởng thụ giáo dục một
21
cách thường xuyên, liên tục, được đào tạo suốt đời. Để thực hiện mục tiêu này
thì mọi người phải tham gia làm giáo dục, có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia
vào quá trình giáo dục với tư cách là những chủ thể của giáo dục, đồng thời
cũng là những chủ thể của giáo dục. Và cũng là đối tượng của giáo dục, dưới
mọi hình thức khả năng và điều kiện.
Mục tiêu cao nhất của giáo dục là xã hội hoá cá nhân. Vì thế điều quan
tài lực trong xã hội. Phát huy sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân
dân, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển.
- Có sự lãnh đạo trực tiếp thường xuyên của đảng, sự quản lý chặt chẽ
của nhà nước và vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục, để thực hiện
thành công xã hội hoá công tác giáo dục ở nước ta.
- Nội dung xã hội hoá giáo dục
Tại nghị quyết 04-NQTW 14-9-1993 tư tưởng xã hội hoá công tác giáo
dục được khẳng định rất rõ ràng:
“Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân
góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân, dưới sự quản lý của nhà nước.”
“Xã hội hoá giáo dục là huy động mọi người tham gia làm giáo dục”
(Quách Tuấn Ngọc – Giám đốc Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục và Đào tạo).
“Xã hội hoá giáo dục thực chất là xã hội hoá sự nghiệp giáo dục hay xã
hội hoá công tác giáo dục. Nó thuộc phạm trù cách làm giáo dục. [3, tr.19]
“Xã hội hoá giáo dục cũng có thể hiểu một cách đơn giản đó là quá
trình tạo ra một xã hội học tập và khi mọi người được hưởng thụ giáo dục thì
mọi người, mọi gia đình, toàn xã hội phải có trách nhiệm về tinh thần và vật
chất đối với giáo dục.” [11, tr.20]
Theo Nghị quyết số 90/CP của chính phủ ngày 21-8-1997 về phương
hướng, chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, chúng ta
có thể hiểu xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là:
Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội
vào sự nghiệp giáo dục- đào tạo.
23
Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với
việc tạo ra một môi trường giáo dục lành mạnh.
Đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục và đào tạo, mở rộng cơ