NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
HỨA THỊ TUYẾT SƯƠNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN QUỲNH HOA
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I ....................................................................................................................................... 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. ...................................................................................................... 1
1.1
1.3.2 Vai trò của KSNB đối với hoạt động tín dụng trong NHTM: ........................................... 23
1.3.3.1 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong các Ngân hàng thương mại: 24
1.3.3.2 Nhiệm vụ kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong các Ngân hàng thương mại .. 25
1.3.4 Thiết kế hoạt động KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng trong NHTM ............................... 25
1.3.4.1 Xây dựng mô hình tổ chức kiểm tra kiểm soát .................................................................... 25
1.3.4.2 Thiết lập quy trình tín dụng phù hợp.................................................................................... 26
1.3.4.3 Thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng và hệ thống quản lý rủi ro tín dụng hợp lý
.......................................................................................................................................................... 27
1.4 KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT NỘI BỘ THEO BASEL .................................................... 28
Kết luận chương I .......................................................................................................................... 30
CHƯƠNG II ................................................................................................................................... 31
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM ........................................................................ 31
2.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM ........................................................................................................................ 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Đầu từ và Phát triển Việt Nam
.......................................................................................................................................................... 31
2.1.2 Kết quả kinh doanh của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam ................... 34
2.1.3 Tình hình tăng trưởng dư nợ tín dụng và nợ xấu giai đoạn 2013-2105 ........................... 35
2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM ........................................................................ 39
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu...................................................................................................... 39
2.2.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu.............................................................................................. 39
2.2.1.2 Phương pháp phỏng vấn lãnh đạo, nhân viên ..................................................................... 41
2.2.1.3 Phương pháp khảo sát Lãnh đạo nhân viên tín dụng, nhân viên giải ngân bằng bảng câu hỏi
.......................................................................................................................................................... 41
2.2.2 Thực trạng hoạt động KSNB tín dụng tại BIDV ................................................................ 41
2.2.2.1 Môi trường kiểm soát ........................................................................................................... 42
2.2.2.2 Nhận biết và đánh giá rủi ro ................................................................................................. 48
2.2.2.3 Hoạt động kiểm soát............................................................................................................. 51
3.3.2. Nâng cao chất lượng của Trung tâm thông tin tín dụng .................................................. 95
Kết luận chương III ....................................................................................................................... 96
KẾT LUẬN: ................................................................................................................................... 97
MỞ ĐẦU
1. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề:
Năm 2015, Việt Nam đã đàm phán thành công Hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP) và đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp đặc biệt là các
NHTM như: Thương mại của Việt Nam sẽ có mức tăng trưởng mạnh mẽ và Ngân
hàng có điều kiện đồng hành hỗ trợ vốn, dịch vụ cho các doanh nghiệp... Tuy
nhiên, song hành với những cơ hội đó là những thách thức vô cùng lớn là sự cạnh
tranh khốc liệt, bởi khi gia nhập TPP cho phép 12 nước thành viên cung cấp các
dịch vụ ngân hàng xuyên biên giới trong nội khối, tức khai thác chung thị trường.
Cá nhân, tổ chức Việt Nam có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng ở Mỹ hay bất kỳ
ngân hàng nào trong 12 nước TPP mà ngân hàng đó không cần mở chi nhánh tại
Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua, vấn đề quản trị rủi ro tại các ngân
hàng trong nước còn nhiều bất cập và nợ xấu hệ thống ngân hàng đang có xu hướng
tăng, một số ngân hàng có năng lực quản trị yếu kém, vi phạm các quy tắc quản trị
doanh nghiệp và quản trị rủi ro,.. Vì vậy, để bắt nhịp kịp với sự phát triển chung của
các nước trên thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp, các NHTM phải nỗ lực và đề ra
được những chiến lược phù hợp để giải quyết thách thức và tận dụng thời cơ nhằm
thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển mạnh mẽ và quản lý tốt rủi ro. Để làm
được những điều đó, các NHTM cần có hệ thống kiểm soát nội bộ hết sức hiệu quả
nhằm đảm bảo phát triển đúng định hướng và an toàn cho cả hệ thống.
BIDV là NHTM trong đó nhà nước giữ tỷ lệ cổ phần chi phối, nhưng lại hoạt
động theo cơ chế NHTMCP nên ngoài những rủi ro thông thường còn có thể xuất
hiện rủi ro về “vấn đề chủ sở hữu và người điều hành” do mâu thuẫn về lợi ích,
người điều hành (đại diện phần vốn góp) lại có xu hướng tăng chi tiêu hoạt động
BIDV.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ trong
NHTM và kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng ngân hàng. Nghiên cứu thực
trạng hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng được áp dụng tại BIDV, từ đó
đưa ra những giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá thực trạng, rút ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân của kiểm
soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV.
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chất lượng kiểm soát nội bộ hoạt động tín
dụng tại BIDV.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:
(1) BIDV thực hiện KSNB theo khung lý thuyết nào?
(2) Hoạt động kiểm soát nội bộ tín dụng tại BIDV có những ưu điểm, nhược
điểm và nguyên nhân gì?
(3) Từ những ưu nhược điểm, nguyên nhân đó ta cần làm gì để hoàn thiện
kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV?
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng tại ngân hàng
BIDV
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Nghiên cứu hệ thống KSNB hoạt động tín dụng tại ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
+ Không gian nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
+ Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu giới hạn trong 3 năm, từ năm 20132015.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
làm rõ những quy trình, quy định chung về hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ,
thông qua khảo sát để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Phan Đình Phùng,
phân tích đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm
soát của Agribank.
2. Nguyễn Quang Huy.“Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần An Bình chi nhánh Đồng Tháp”.Luận văn thạc sĩ kinh tế - Trường Đại
học Ngân hàng Tp.HCM, 2015. Luận văn đã làm rõ thực trạng chất lượng tín dụng
tại chi nhánh, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
NHTMCP An Bình –CN Đồng Tháp.
3. Lê Mai Phương. "Nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Luận văn thạc sĩ kinh tế
Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM, 2011. Luận văn đã nêu được thực trạng công
tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra kiểm soát nội
bộ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Phân tích thực
trạng nhìn nhận từ quy trình tổ chức hoạt động của bộ máy kiểm tra kiểm soát nội
bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
4. Phan Thuỵ Thanh Thảo. “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với
nghiệp vụ tín dụng trong các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Dương“
Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP HCM, 2007. Luận văn được
thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả KSNB hoạt động tín dụng tại các ngân hàng
thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Luận văn đã khái quát được các lý luận
về HTKSNB hoạt động tín dụng trong NHTM, thực trạng công tác kiểm soát nội bộ
đối với hoạt động tín dụng đồng thời đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn
thiện tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
5.ThS Nguyễn Minh Phương (2014), “Một số yếu kém trong quy trình kiểm
soát nội bộ hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại và khuyến nghị“.
Tạp chí ngân hàng số 6, tháng 03/2014. Công trình nghiên cứu này đã nêu được một
1
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng:
Theo khoản 14, điều 4 luật các tổ chức tín dụng số 47/2012/QH12 ngày
16/06/2010 khái niệm cấp tín dụng được phát biểu như sau: Cấp tín dụng là việc
thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử
dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp
tín dụng khác.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có thể hiểu là quan hệ chuyển nhượng quyền sử
dụng vốn (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ ngân hàng tới khách hàng (các tổ
chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) theo những điều kiện ràng buộc nhất định.
Cũng như các quan hệtín dụng khác, tín dụng ngân hàng cũng chứa đựng ba nội
dung như sau: Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho
người sử dụng; Sự chuyển nhượng này có thời hạn cụ thể; Và có kèm theo chi phí.
1.1.2 Rủi ro tín dụng:
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng:
Theo thông tư 02/2013/TTNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Ngân hàng
Nhà nước về việc quy định phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp chích lập
dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ban hành, rủi ro tín dụng được phát biểu: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện
3
- Tính tất yếu: vì rủi ro luôn luôn gắn liền với sự vận động của nền kinh tế thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất kinh doanh không thể biết
trước được thị trường sẽ tiêu thụ sản phẩm của mình với số lượng bao nhiêu và giá
cả như thế nào, chính vì vậy chỉ khi họ sản xuất xong và đưa sản phẩm vào thị
trường tiêu thụ thì mới biết họ thành công hay thất bại. Nếu tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh tốt thì người sản xuất có đủ hoặc thừa khả năng thanh toán nợ đúng
hạn (đặt trong giả thiết không tồn tại rủi ro về đạo đức) và ngược lại, khi hoạt động
sản xuất kinh thất bại thì không có khả năng thanh toán cho ngân hàng, Ngân hàng
có khả năng mất vốn.
1.1.3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Môi trường kinh tế
Sự biến động quá nhanh và khó dự đoán của thị trường thế giới là nguyên
nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay. Nền
kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp. Sản xuất
công nghiệp còn phục vụ nông nghiệp: nguyên liệu, nuôi trồng và chế biến thực
phẩm. Sản xuất dầu thô, may gia công vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả
thế giới nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu. Những khó khăn
do bị khống chế hạn ngạch trong ngành dệt may, hay những vụ kiện bán phá giá
trong ngành thủy sản…làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung. Không chỉ xuất
khẩu, những mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém. Mặt hàng sắt
thép bị ảnh hưởng rất lớn bởi giá thép thế giới, việc tăng giá phôi thép làm cho một
số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất do chi phí giá thành
rất lớn trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
Tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế làm tăng áp lực cạnh tranh đối với
khiến nhiều tổ chức kinh tế không có sự chủ động trong việc điều chỉnh phương án
kinh doanh. Ví dụ như vào thời điểm năm 2001, họat động kinh doanh xe máy phát
triển mạnh với các dòng sản phẩm xe từ Trung Quốc, Hàn Quốc, rất nhiều doanh
nghiệp bỏ vốn vào kinh doanh lĩnh vực này. Tuy nhiên, sang năm 2002, nhà nước
ban hành quy định mỗi người chỉ được đứng tên sở hữu một xe máy, làm cho sức
5
mua bán xe giảm xuống đáng kể. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng kinh
doanh của các doanh nghiệp, kéo theo doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ
vay ngân hàng.
Nhiều vướng mắc trong việc cưỡng chế thu hồi nợ xuất phát từ sự kém hiệu
quả của cơ quan pháp luật. NHNN vẫn chưa thực hiện hiệu quả việc thanh tra, kiểm
tra, giám sát. Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát
toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra còn thụ động theo
kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, thiếu hiệu quả trong việc ngăn chặn, phòng ngừa rủi
ro và vi phạm.
Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh
Đây là những rủi ro mà cả khách hàng lẫn ngân hàng đều không lường trước
đối với khoản tín dụng của mình. Khách hàng gặp khó khăn ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ vay ngân hàng. Đối với khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh thì cũng
phải có thời gian để ổn định lại hoạt động kinh doanh thì mới có khả năng trả nợ
ngân hàng, còn đối với các khách hàng có tiềm lực yếu thì khoản tín dụng có khả
năng rất cao lâm vào tình trạng nợ xấu. Mặc dù lọai rủi ro này có thể được hạn chế
bằng cách mua bảo hiểm, tuy nhiên khi loại rủi ro này xảy ra, khách hàng và cả
ngân hàng cũng phải mất nhiều thời gian để lấy được khoản tiền bảo hiểm từ các
công ty bảo hiểm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng.
Ngoài ra, các nguyên nhân khách quan khác có thể kể đến có thể là:
- Những thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật một ngành
đúng hạn và đầy đủ cho ngân hàng.
Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện ở mức độ biến động ít hay
nhiều theo chiều hướng xấu của kết quả kinh doanh. Rủi ro trong kinh doanh của
doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc xây dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, việc dự toán chi phí và xác
định mức sản lượng không phù hợp, các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do
sự biến động của thị trường cung cấp, thị trường tiêu thụ.
7
Rủi ro tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở các doanh nghiệp không thể đối
phó với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ. Rủi ro tài chính diễn ra
cùng với mức độ sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài chính doanh nghiệp.
Từ phía ngân hàng
Chính sách và quy trình cho vay của ngân hàng lỏng lẻo là do: Định hướng
tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, chưa triệt để nguyên tắc của thị trường là lợi
nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận đươc, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, theo
phong trào, theo khẩu hiệu phát triển kinh tế, tìm mọi cách cạnh tranh, giành giật thị
trường ở các ngành hàng, các nhóm khách hàng mà không hề nhận thấy rằng ngân
hàng mình không có sở trường trong lĩnh vực này hoặc chưa chuẩn bị đủ tiềm lực
đối với ngành hàng này. Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào lợi
nhuận ngân hàng nên khi cho vay quá chú trọng về lợi nhuận. Ngân hàng tập trung
vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó.
Kỹ thuật cấp tín dụng còn nghèo nàn, chưa hiện đại và đa dạng như việc xác
định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp.
Công tác quản lý rủi ro tín dụng và kiểm soát sau cho vay chưa được chú trọng, chỉ
mang tính hình thức.
Thiếu thông tin: việc thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích
thông tin không đầy đủ dẫn đến việc cho vay không hợp lý. Ngân hàng chưa xây
cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin
cậy; Các luật lệ và qui định được tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”1
Khái niệm trên có thể khái quát bằng sơ đồ sau:
(Nguồn: COSO 1992-Internal Control – Intergrated frameword)
Sơ đồ 1.1 Khái quát khái niệm KSNB theo quan điểm COSO
1
COSO 1992-Internal Control – Intergrated frameword
9
Theo đó, KSNB là một quá trình không phải là một sự kiện hay tình huống mà
là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp. KSNB hữu
hiệu nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh
nghiệp chứ không phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc
là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. KSNB
phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình.
KSNB bị chi phối bởi con người trong đơn vị (bao gồm ban giám đốc, nhà
quản lý và các nhân viên). Con người đặt ra mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát vào
vận hành hướng tới các mục tiêu đã định. Ngược lại, KSNB cũng tác động đến hành
vi của con người. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ưu tiên khác nhau khi
làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng như trao đổi
và hành động một cách nhất quán. KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân
và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức.
KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho ban giám đốc và nhà
quản lý việc đạt được các mục tiêu của đơn vị. Điều này là do những hạn chế tiềm
tàng trong hệ thống KSNB như: sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá
nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp.
Môi trường kiểm soát được thể hiện thông qua tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá
trị đạo đức, tính trung thực, triết lý quản lý, phong cách điều hành. Môi trường kiểm
soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được
thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB. Điều này không chỉ đúng
trong giai đoạn thiết kế mà cả trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp.
Các nhân tố trong môi trường kiểm soát nêu trên đều quan trọng, nhưng mức
độ quan trọng của mỗi nhân tố tùy thuộc vào từng doanh nghiệp.
Theo COSO 2013, Môi trường kiểm soát gồm 5 nguyên tắc sau:
-Nguyên tắc 1: Đơn vị chứng minh các cam kết về tính trung thực và giá trị
đạo đức. Điều này thể hiện rằng người quản lý phải chứng tỏ đơn vị quan tâm đến
tính trung thực và giá trị đạo đức.
11
- Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải chứng tỏ sự độc lập với người quản lý
và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội
bộ.
- Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị cần thiết
lập cơ cấu tổ chức, các loại báo cáo, phân định trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt
được mục tiêu của đơn vị.
- Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về việc sử dụng nhân viên có
năng lực thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với
mục tiêu của đơn vị.
- Nguyên tắc 5: Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về
trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức.
1.2.2.2. Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng và phân tích những rủi ro ảnh hưởng
đến việc đạt được mục tiêu, từ đó có thể quản trị được rủi ro. Mỗi đơn vị luôn phải
thị của nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đối phó
với rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Hoạt động kiểm soát tồn
tại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổ chức trong một đơn vị.
Mọi hoạt động kiểm soát đều bao gồm hai yếu tố là:
- Chính sách kiểm soát: Là những nguyên tắc cần làm, là cơ sở cho việc thực
hiện các thủ tục kiểm soát. Chính sách kiểm soát có thể được tài liệu hóa đầy đủ và
có hệ thống hoặc được lưu hành theo kiểu truyền miệng.
- Thủ tục kiểm soát: Là những quy định cụ thể để thực thi chính sách kiểm
soát. Một thủ tục sẽ không có tác dụng nếu áp dụng một cách máy móc mà không
tập trung vào những yêu cầu nhà quản lý đã đề ra thông qua các chính sách. Việc
thiết lập các thủ tục kiểm soát cần phải cân đối mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí,
cân đối giữa hoạt động kiểm soát và rủi ro phát sinh.
Theo COSO 2013, Hoạt động kiểm soát gồm 3 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 10: Đơn vị phải lựa chọn, thiết lập các hoạt động kiểm soát để
góp phần hạn chế các rủi ro giúp đơn vị đạt mục tiêu trong giới hạn chấp nhận
được.
13
- Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và phát triển hoạt động kiểm soát chung với
công nghệ hiện đại để hỗ trợ sự thành công cho việc đạt được các mục tiêu của đơn
vị.
- Nguyên tắc 12: Đơn vị triển khai hoạt động kiểm soát thông qua nội dung
các chính sách đã được thiết lập và triển khai thành các thủ tục.
1.2.2.4. Thông tin truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết
lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành
các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm
cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp.
Giám sát thường xuyên được thực hiện ngay trong các hoạt động thường ngày
và được lặp đi lặp lại, do vậy sẽ hiệu quả hơn so với giám sát định kỳ. Phạm vi và
mức độ thường xuyên của việc giám sát định kỳ phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh
giá rủi ro và sự hữu hiệu của các hoạt động giám sát thường xuyên. Nếu hoạt động
giám sát thường xuyên càng hữu hiệu thì giám sát định kỳ sẽ giảm đi. Việc tổ chức
giám sát định kỳ hoàn toàn là do xét đoán của người quản lý dựa trên các nhân tố:
bản chất và mức độ của các thay đổi và những rủi ro, năng lực và kinh nghiệm của
người thực hiện kiểm soát, kết quả của các hoạt động giám sát thường xuyên.
Mục tiêu chính của việc giám sát là nhằm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ
luôn hoạt động hữu hiệu do vậy cần giám sát tất cả các hoạt động trong đơn vị và
đôi khi còn áp dụng cho các đối tượng bên ngoài đơn vị như nhà cung cấp, khách
hàng...
Giám sát thường xuyên, định kỳ hoặc kết hợp cả hai được sử dụng để xác định
xem mỗi thành phần trong năm thành phần của kiểm soát nội bộ có được thực hiện
đầy đủ không. Giám sát định kỳ được tiến hành định kỳ, sẽ thay đổi trong phạm vi
và tần số phụ thuộc vào đánh giá rủi ro, hiệu quả của việc đánh giá liên tục và sự
cân nhắc trong quản lý. Kết quả phát hiện được đánh giá theo tiêu chuẩn của nhà
quản lý, và những thiếu sót sẽ được truyền đạt đến ban quản lý và ban giám đốc.
Theo COSO 2013, giám sát gồm 2 nguyên tắc sau:
15
- Nguyên tắc 16: Đơn vị phải lựa chọn, triển khai và thực hiện việc đánh giá
liên tục hoặc định kỳ để biết chắc rằng liệu những bộ phận của hệ thống KSNB có
hiện hữu và đang vận hành đúng.
- Nguyên tắc 17: Đơn vị phải đánh giá và thông báo những yếu kém của hệ
thống KSNB kịp thời cho các đối tượng có trách nhiệm bao gồm nhà quản lý và Hội
đồng quản trị để có những biện pháp khắc phục.
Tóm lại, trên đây là 5 thành phần cơ bản và 17 nguyên tắc và thuộc tính của