LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH THƯƠNG MẠI - Pdf 68

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TRONG DOANH NGHIỆP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ VÀ HẠCH TOÁN KẾ TOÁN QUÁ TRÌNH BÁN
HÀNG:
1. Ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá:
1.1 Ý nghĩa của công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá
Một doanh nghiệp thành đạt là một doanh nghiệp có các hoạt động sản xuất
kinh doanh đạt hiệu quả cao, có uy tín và có một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường và hàng hoá, sản phẩm của doanh nghiệp đó được thị trường chấp nhận.
Trong điều kiện hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động với mục tiêu là
lợi nhuận. Tuy nhiên một yếu tố rất quan trọng quyết định đến lợi nhuận của doanh
nghiệp đó chính là việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Đây là khâu cuối cùng
trong dây truyền hoạt động nhưng lại là một mắt xích rất quan trọng. Việc tiêu thụ
hàng hoá trước là để đáp ứng nhu cầu của thị trường và giúp doanh nghiệp thu hồi
được vốn để đầu tư sản xuất, mở rộng qui mô sản xuất. Và qua đó xác định được
kết quả kinh của đơn vị. Nếu công tác tiêu thụ hàng hoá được tổ chức tốt thì hàng
hoá, sản phẩm của đơn vị sẽ tiêu thụ nhanh và điều đó cũng có nghĩa là vòng quay
của vốn lưu động tăng dẫn đến doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao, làm
tăng thu nhập của cán bộ công nhân viên.
1.2 Nhiệm vụ của công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá
Xuất phát từ những ý nghĩa quan trọng của công tác tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá đối với kết quả sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp. Nó đòi hỏi doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì công tác tiêu thụ phải được tổ chức một cách
khoa học, chính xác, nhanh chóng. Vì vậy đã đặt ra nhiệm vụ cho những người làm
công tác hạch toán tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là phải tổ chức làm như thế nào để
có thể đáp ứng được yêu cầu quản lý, đem lại hiệu quả kinh doanh cao và xác định
được kết quả kinh doanh một cách chính xác. Ta có thể cụ thể hoá một số nhiệm vụ
chủ yếu của công tác này như sau.
- Phản ánh giám đốc tình hình kế hoạch tiêu thụ hàng hoá, về số lượng, chủng
loại, giá cả và thời hạn thanh toán. Trên cơ sở đó, định hướng hoạt động sản xuất

nghiệp không trực tiếp bán hàng nên không nắm bắt được những nhu cầu, thị hiếu
của thị trường, đồng thời không chủ động nắm bắt số lượng sản phẩm tiêu thụ.
2.2 - Bán hàng trực tiếp bên mua đến nhận hàng.
Căn cứ vào hợp đồng đã ký, bên mua cử người đến nhận hàng. Khi nhận
xong, người nhận hàng ký xác nhận là đã nhận hàng vào hoá đơn bán hàng và hàng
được xác nhận là tiêu thụ. Theo phương thức này thì có hai hình thức bán hàng đó
là:
− Bán hàng trực tiếp không qua kho: Hàng hoá, sản phẩm đơn vị mua về hoặc
sản xuất không nhập kho mà giao trực tiếp cho khách hàng. Hình thức này áp dụng
cho các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp có quy mô nhỏ, sản xuất ít
sản phẩm mà các sản phẩm này đòi hỏi phải tiêu thụ ngay.
− Bán hàng qua kho: Theo hình thức này, hàng hoá, sản phẩm đơn vị mua về
hoặc sản xuất được nhập vào kho, sau đó mới tiêu thụ. Hình thức này àp dụng ở
các doanh nghiệp có qui mô sản xuất, kinh doanh lớn và khối lượng hàng hoá
nhiều.
2.3 - Phương thức bán trả góp.
Với những hàng hoá có giá trị lớn, để khuyến khích người tiêu dùng có thu
nhập thấp sử dụng mặt hàng này thì doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức này.
Theo phương thức này thì khi nhận hàng người mua phải trả một phần giá trị của
mặt hàng đó. Phần còn lại trả dần theo thời gian quy định và số tiền trả chậm phải
chịu một mức lãi xuất do doanh nghiệp qui định và lãi xuất này được tính vào thu
nhập hoạt động tài chính của đơn vị bán.
Phương thức này đòi hỏi phải có sự ràng buộc giữa người mua và đơn vị bán.
2.4 - Bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng:
Phương thức này được áp dụng giữa các doanh nghiệp có mối quan hệ về mặt
lưu thông sản phẩm hàng hoá. Sản phẩm của đơn vị này có thể là tư liệu sản xuất
của đơn vị kia. Hai đơn vị có thể trao đổi hàng hoá, sản phẩm cho nhau. Bên giao
hàng coi như bán, bên nhận hàng coi như mua. Phương thức này thuận lợi cho cho
cả hai bên, giảm bớt khâu lưu thông trung gian. Tuy nhiên nó chỉ hạn chế ở một số
mặt hàng với nhu cầu của hai bên chứ không phải là phương thức tiêu thụ cho tất

tiếp
- Thanh toán trực tiếp: Là hình thức thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp giữa
người mua và người bán.
- Thanh toán gián tiếp: Là hình thức thanh toán chuyển tiền ở tài khoản, hoặc bù
trừ công nợ giữa bên thông qua cơ quan trung gian là ngân hàng. Một số hình thức
thanh toán gián tiếp như: Thư tín dụng, séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu...
• Chính sách giá cả hàng hoá và phương pháp định giá bán:
Bất kỳ một nhà kinh doanh nào tham gia trên thị trường đều quan tâm đến giá
cả. Giá cả của hàng hoá là tín hiệu của thị trường, nó giúp các nhà kinh doanh biết
được hàng hoá của họ có được thị trường chấp nhận hay không. Giá cả hàng hoá
quyết định đến lợi nhuận của hoạt động kinh doanh. Vì vậy định giá là rất quan
trọng, đòi hỏi phải nghiên cứu các vấn đề sau đây:
- Hoạt động kinh doanh phải đáp ứng nhu cầu của chế độ hạch toán kinh
doanh đó là: Lấy doanh thu bù đắp các chi phí và có lãi.
- Nghiên cứu mối quan hệ cung và cầu: Nhu cầu, thu nhập của người mua
tăng hay giảm và giá hàng thay thế, bổ sung tăng hay giảm.
• Một số chính sách giá trong kinh doanh:
Để thu hút khách hàng Doanh nghiệp nên có các chính sách giá cả linh động.
Như chính sách đánh giá thấp, giá biến đổi, giá bán cao và chính sách ấn định
nhiều mức giá. Doanh nghiệp nên tiến hành giảm giá đối với khách hàng mua
thường xuyên, với số lượng lớn, đồng thời Doanh nghiệp nên có chính sách
khuyến mại, tặng quà cho khách hàng.
II. NỘI DUNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
1. Nhiệm vụ và nội dung tổ chức hạch toán tiêu thụ hàng hoá.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý của quá trình bán hàng, kế toán tiêu thụ và xác
định kết quả tiêu thụ cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cơ bản dưới đây:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh kịp thời, trung thực doanh thu.
- Ghi chép phản ánh chính xác giá vốn hàng bán trong kỳ kinh doanh.
- Ghi chép phản ánh chính xác, đầy đủ các chi phí phát sinh trong quá trình

kỳ.
Hàng hoá xuất
kho trong kỳ
=
Hàng hoá tồn
kho đầu kỳ
+
Hàng hoá nhập
kho trong kỳ
-
Hàng hoá tồn
kho cuối kỳ
2.1 - Hạch toán giá vốn hàng xuất bán
* Khái niệm giá vốn hàng bán:
Giá vốn hàng bán là trị giá vốn hàng xuất bán trong kỳ. Đối với doanh nghiệp
thương mại, trị giá vốn là số tiền thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để có được số
hàng hoá đó, tức là giá vốn hàng bán bao gồm trị giá mua thực tế và chi phí thu
mua của hàng xuất bán.
* Phương pháp xác định giá vốn hàng xuất bán:
Do hàng hoá mua về nhập kho hoặc xuất bán ngay, gửi bán...được mua từ
những nguồn khác nhau và vào những thời điểm khác nhau nên giá trị thực tế của
chúng không hoàn toàn giống nhau, do vậy khi xuất kho,... cần phải tính giá trị
thực tế của hàng xuất kho tuỳ theo từng hoạt động, yêu cầu quản lý và trình độ
nghiệp vụ của cán bộ kế toán mà có thể áp dụng một trong các phương pháp sau
đây:
- Phương pháp bình quân gia quyền:
+ Bình quân cả kỳ dự trữ:
Công thức tính:
Giá đơn vị
bình quân

Hệ số giá
(H)
=
Trị giá thực tế tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế nhập trong kỳ
Giá hạch toán tồn đầu kỳ + Giá hạch toán nhập trong kỳ
Giá thực xuất = H x Giá hạch toán xuất trong kỳ
* Phương pháp hạch toán kế toán giá vốn hàng bán.
* Tài khoản sử dụng: TK 632 " Giá vốn hàng bán".
Tài khoản này phản ánh giá vốn hàng bán và kết chuyển trị giá vốn hàng bán
để xác định kết quả tiêu thụ. Giá vốn hàng bán được hạch toán tuỳ thuộc vào
phương pháp kế toán hàng tồn kho trong Doanh nghiệp. Trong trường hợp Doanh
nghiệp áp dụng phương pháp KKTX để hạch toán hàng tồn kho thì giá vốn hàng
bán được hạch toán như sau:
* Kết cấu TK 632 theo phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX)
Bên nợ: + Phản ánh giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong
kỳ.
+ Phản ánh chi phí nguyên vật liệu (CPNVL), chi phí nhân công
(CPNC) vượt trên mức bình thường và chi phí sản xuất chung(CPSXC) cố định
không phân bổ không được tính vào trị giá hàng tồn kho mà phải tính vào giá vốn
hàng bán của kỳ kế toán.
+ Phản ánh khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ (-)
phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra.
+ Phản ánh khoản chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho
phải lập năm nay lớn hơn khoản đã lập dự phòng năm trước.
Bên có: + Phản ánh khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối
năm tài chính (31/12) (Khoản chênh lệch giữa số phải lập dự phòng năm nay nhỏ
hơn khoản đã lập năm trước).
+ Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ
trong kỳ sang TK 911 - "Xác định kết quả kinh doanh".
TK 632 "Giá vốn hàng bán" cuối kỳ không có số dư

hàng là giá bán chưa thuế, kể cả các khoản phụ thu (nếu có).
Đối với DN nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán
hàng là giá bán đã có thuế cộng với các khoản phụ thu (nếu có).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status