THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN CỦA - Pdf 69

THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC
THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC HỘ KINH
DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN CỦA
CHI CỤC.
2.1. Khái quát chung về thuế GTGT và sự cần thiết phải quản lý việc
thực hiện luật thuế GTGT của các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn
quận Hoàn Kiếm.
2.1.1. Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng.
2.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng.
Khái niệm: Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng.
Thuế GTGT được áp dụng lần đầu tiên ở Pháp vào năm 1954, sau đó
một số nước Châu Âu khác cũng chuyển sang áp dụng loại thuế này và lần
lượt tiếp theo là nước Châu Mỹ la tinh và các nước Châu Á. Đến nay, trên
thế giới đã có khoảng 130 nước áp dụng thuế GTGT.
Ở Việt Nam, thuế GTGT được nghiên cứu từ năm 1990 và được áp
dụng thử nghiệm ở một số đơn vị thuộc ngành dệt, đường, xi măng từ năm
1993. Năm 1997, Luật thuế GTGT đầu tiên ở Việt Nam được thông qua thay
thế cho thuế doanh thu. Luật này chính thức áp dụng ở Việt Nam từ năm
1999.
Đặc điểm thuế GTGT :
Là thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ
nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng khi họ tiêu dùng
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế.
Thuế GTGT đánh vào tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ từ sản xuất,
nhập khẩu, lưu thông tới tiêu dùng nhưng chỉ có tính trên phần gia tăng thêm
của hàng hóa.
Trong đó, giá trị gia tăng là phần giá trị mới được tạo ra trong sản xuất kinh
doanh, nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu
thụ với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng. Tổng số thuế thu
được ở các giai đoạn sẽ bằng với số thuế tính theo giá bán cho người tiêu

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên bước ngoài tham
gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là
Luật đầu từ); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt
Nam nhưng không thành lập pháp nhân ở Việt Nam.
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối
tượng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhập khẩu.
2.1.1.2.3. Phương pháp tính thuế GTGT.
Giá tính thuế : Theo quy định của Luật thuế GTGT, giá tính thuế
GTGT được quy định khác nhau tùy theo đối tượng chịu thuế là hàng hóa
nhập khẩu hay sản xuất trong nước ( hàng xuất khẩu có thuế suất thuế GTGT
là 0%).
Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế là giá trị gia tăng là giá tính
thuế hàng hóa nhập khẩu cộng thuế nhập khẩu (nếu có), cộng thuế tiêu thụ
đặc biệt (nếu có).
Trường hợp được giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá
tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu,
thuế tiêu thụ đặc biệt tính theo mức thuế phải nộp sau khi đã được giảm.
Trường hợp miễn thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá tính
thuế GTGT là giá tính thuế hàng nhập khẩu ( do thuế nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt đã được miễn).
Thuế suất thuế GTGT : Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống
nhất theo loại hàng hoá, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay
kinh doanh thương mại. Hiện nay các mức thuế suất thuế GTGT gồm có 3
mức thuế suất:
Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ xuất khẩu bao gồm
cả hàng gia công xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình của
doanh nghiệp chế xuất; hàng hoá bán cho cửa hàng bán hàng miễn thuế;
hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT xuất khẩu ( trừ vận tải
quốc tề; hàng hóa, dịch vụ cung cấp trực tiếp cho vận tải quốc tế; dịch vụ du
lịch lữ hành ra nước ngoài; dịch vụ bưu chính viễn thông từ nước ngoài

kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ
nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía
nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng với các tổ chức nước
ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh
hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì
chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Trường hợp số thuế GTGT đầu vào của TSCĐ sử
dụng đồng thời cho cả sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và
không chịu thuế thì được khấu trừ toàn bộ. Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong
tháng nào được khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp trong tháng đó. Trường
hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ khai bỏ
sót thì được kê khai bổ sung với thời hạn tối đa là 6 tháng kể từ thời điểm phát
sinh.
Điều kiện được khấu trừ:
Thứ nhất: Có hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp
thuế GTGT ở khâu nhập khẩu
Thứ hai: Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hoá, dịch vụ
mua vào trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng
Thứ ba : Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu ngoài các điều kiện trên
phải có hợp đồng ký kết với nước ngoài về bán, gia công hàng hoá, cung ứng
dịch vụ, hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, tờ
khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu.
Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
Phương pháp này được áp dụng đối với các đối tượng nộp thuế sau:
Các cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện và thực hiện không đầy đủ
chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

Góp phần khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa xuất khẩu do áp
dụng thuế suất thuế GTGT 0% và được hoàn lại toàn bộ thuế GTGT đó thu ở
khâu trước. Đồng thời nó còn kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn
hàng nhập khẩu, từ đó bảo hộ sản xuất trong nước.
Góp phần thực hiện tốt chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ, tạo điều
kiện chống trốn lậu thuế.
Góp phần hoàn thiệc hệ thống chính sách thuế của nước ta phù hợp
thông lệ quốc tế.
2.1.1.2.5. Yêu cầu đặt ra đối với quản lý thuế GTGT trong điều kiện hiện nay
- Hoá đơn, sổ sách, chứng từ phải đi vào nề nếp.
Căn cứ pháp lý chính để thực hiện thu thuế GTGT là hoá đơn chứng từ,
mà việc quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ hết sức phức tạp do liên quan tới
nhiều đối tượng và qua nhiều khâu luân chuyển. Cho nên, ý thức sử dụng đúng
chế độ hoá đơn, chứng từ của đối tương nộp thuế cần được khuyến khích. Bên
cạnh đó cơ quan thuế cần có sự hướng dẫn cập nhật thường xuyên những thay
đổi về chế độ sử dụng hoá đơn, chứng từ tới các đối tượng. Đặc biệt về chính
sách sử dụng chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với các hợp đồng trên 20
triệu đồng; hướng dẫn, theo dõi chi tiết, cụ thể tránh hiện tượng bóc tách hợp
đồng để trốn thuế GTGT. Qua đó, tạo được sự đồng bộ trong cơ chế hành thu để
đem lại hiệu quả thu cao nhất.
- Hệ thống pháp luật về thuế phải đồng bộ, hợp lý, minh bạch, rõ ràng
Để giúp cho việc thực hiện thu thuế GTGT có hiệu quả nhất thì ngoài
việc xây dựng được pháp luật thuế GTGT khoa học thì cần phải có sự kết hợp
hài hoà của các sắc thuế khác. Bởi việc tính và thu thuế GTGT liên quan chặt
chẽ tới các sắc thuế khác như thuế Nhập khẩu, thuế TTĐB ... Bên cạnh đó thuế
GTGT còn ảnh hưởng tới kết quả của sắc thuế như thuế TNDN. Hệ thống pháp
luật phải minh bạch, rõ ràng tránh hiện tượng nhầm lẫn không phân biệt được
doanh thu để áp dụng được đúng thuế suất, xác định được đúng tỷ lệ GTGT trên
doanh thu đối với các trường hợp ấn định. Làm được điều này, đảm bảo không
những việc thực hiện nghĩa vụ thuế được đầy đủ mà còn tạo điều kiện cho công

- Là loại hình có số lượng lao động tham gia đông hơn hẳn so với những
loại hình tổ chức sản xuất khác. Bản thân số lượng này không phải là yếu tố
quyết định song lại là cơ sở hình thành tính phong phú đa dạng không đồng nhất
của hoạt động kinh tế diễn ra ở tất cả các hộ kinh doanh cá thể.
- Phạm vi hoạt động kinh tế cá thể tương đối rộng lớn và đa dạng, được
phát triển ở mọi ngành nghề, phân bổ rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, từ
đồng bằng đến miền núi...và diễn ra trên mọi lĩnh vực sản xuất thương nghiệp
dịch vụ. Điều này chứng tỏ Nhà nước có số thu thuế từ khu vực kinh tế cá thể
trên phạm vi rộng.
- Kinh tế cá thể có thể tồn tại độc lập hoặc cũng có thể tham gia vào các
lĩnh vực khác như: Hợp tác xã, liên doanh liên kết... Quy mô của các hộ kinh tế
nhìn chung không lớn khoảng trung bình từ 5 đến 6 lao động.
- Kinh tế cá thể dù có cố gắng đến bao nhiêu cũng không loại bỏ được
những hạn chế vốn có như: Tính tự phát, manh mún hạn chế về kỹ thuật
Vai trò của thành phần kinh tế cá thể :
Cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kinh tế cá thể
được coi là bộ phận hỗ trợ hết sức quan trọng đối với nền kinh tế. Kinh tế cá thể
tồn tại là một tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu của xã hội và ngày càng
khẳng định vai trò to lớn của nó:
- Kinh tế cá thể đã và sẽ tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, đáp
ứng cho nhu cầu đời sống sinh hoạt của nhân dân, cung cấp các yếu tố đầu vào
của quá trình sản xuất, làm cầu nối giữa sản xuất và lưu thông tiêu dùng, tạo
điều kiện cho việc lưu thông hàng hoá tiền tệ trong nền kinh tế nhanh chóng và
có hiệu quả. Tham gia hỗ trợ những mặt mà kinh tế quốc doanh và các thành
phần kinh tế khác chưa giải quyết được.
- Kinh tế cá thể đã góp phần to lớn để tạo công ăn việc làm. Khu vực
quốc doanh ở nước ta tạo việc làm cho khoảng 11% trong tổng số lực lượng lao
động. Gần 90% lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh. Có nhiều hình
thức thu hút lao động ngoài quốc doanh: Doanh nghiệp tư nhân, cá nhân tự tạo
việc làm, lao động làm thuê theo vụ việc, mùa vụ... song cho tới nay phổ biến

ta. Việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu nhằm đảm bảo việc tập
trung nguồn thu cho NSNN. Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế nước ta
hiện nay, chi tiêu cho phát triển là một nhu cầu vô cùng lớn nên xảy ra hiện
tượng thiếu hụt ngân sách. Vì vậy, chúng ta phải tìm mọi biện pháp để tăng
thu ngân sách nhà nước. Với đường lối đổi mới kinh tế tạo điều kiện cho các
thành phần kinh tế phát triển bình đẳng trước pháp luật thì việc quản lý thu
thuế khu vực kinh tế nào cũng rất quan trọng. Thành phần ngoài quốc doanh
nói chung và kinh tế cá thể nói tiêng lại đang phát triển cả về quy mô và số
lượng, thu nhập tăng nhanh thì việc tăng cường quản lý thu thuế khu vực
kinh tế này là rất cần thiết.
Bên cạnh đó, đảm bảo công bằng xã hội là một yêu cầu đặt ra với
chính sách thuế và bản thân với chính sách thuế cũng phải đảm bảo sự công
bằng xã hội vì có công bằng xã hội thì mới có thể động viên số thu lớn nhất
trong thời gian ngắn nhất. Tăng cường quản lý thuế GTGT đối với thành
phần kinh tế cá thể một cách chặt chẽ chính là biện pháp để đảm bảo tính
công bằng xã hội, từ đó giảm tối đa hiện tượng trốn lậu thuế, tạo ra sự cạnh
tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế.
Ngoài ra, thông qua quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể
sẽ tạo điều kiện cho nhà nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế thông
qua:
- Kiểm tra, kiểm soát các ngành nghề, mặt hàng kinh doanh, từ đó
giúp cho các cơ quan quản lý kinh tế có định hướng phát triển ngành nghề
phù hợp.
- Nắm được mức độ tiêu dùng, cơ cấu tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ từ
đó giúp nhà nước có cơ sở định hướng cho tiêu dùng trong dân cư phù hợp
với từng giai đoạn phát triển kinh tế cá thể.
Trong những năm gần đây, việc quản lý thu thuế nói chung và thuế
GTGT đối với thành phần kinh tế cá thể còn nhiều thiếu sót dẫn đến hậu quả
là gây ra nguồn thất thu thuế, nhà nước bị chiếm dụng vốn gây ra tác động
xấu đối với nền kinh tế. Việc áp dụng thuế GTGT thay thế cho thuế doanh

kiểm tra kỹ càng. Khi tiếp nhận thì cán bộ thuế ghi vào sổ nhận hồ sơ và viết
phiếu hẹn trả giấy chứng nhận đăng ký thuế cho hộ kinh doanh. Sau khi nhận
hồ sơ của các hộ kinh doanh thì các đội thuế phường, chợ chuyển hồ sơ về
đội nghiệp vụ dự toán thuộc chi cục thuế, tại đây cán bộ nghiệp vụ kiểm tra
hồ sơ đăng ký thuế, đối chiếu các chỉ tiêu khai trên tờ khai sau đó nhập vào
hệ thống máy tính.
Tiếp đó, đội kê khai lập danh bạ bộ kinh doanh đã đăng ký thuế và
được cấp mã số thuế, đồng thời ra thông báo cho đội thuế phường biết để
đưa vào sổ bộ thuế. Chi cục thuế đã thống kê được tình hình kinh doanh cá
thể trên địa bàn thông qua trình tự và thủ tục đăng ký kinh doanh.
Các đội thuế phường, liên phường, chợ, liên chợ, ủy nhiêm thu thường
xuyên hướng dẫn và đôn đốc người nộp thuế có trách nhiệm đăng ký thuế,
khai và nộp thuế.
Trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thành phần kinh tế cá thể chiếm một số
lượng rất lớn, ngành nghề hoạt động đa dạng như sản xuất, ăn uống, thương
nghiệp, dịch vụ, thuê nhà, vận tải... quy mô hoạt động cũng rất phong phú,
trình độ học vấn của người nộp thuế cũng rất khác nhau vì vậy việc quản lý
thực hiện Luật thuế GTGT của chi cục cũng gặp rất nhiều khó khăn và trở
ngại. Tính đến tháng 12 năm 2008 chi cục thuế Quận Hoàn Kiếm đã quản lý
được 11.101 hộ kinh doanh cá thể trong đó có 10.022 hộ đã đươc cấp mã số
thuế, 1.079 hộ chưa được cấp mã số thuế 12.288. Còn đến tháng 12 năm
2009 chi cục quản lý đươc 11.873 hộ kinh doanh cá thể trong đó có 11.685
hộ đã được cấp mã số thuế và 188 hộ chưa được cấp mã số thuế. So với năm
2008 thì đến năm 2009 số hộ mà chi cục đã quản lý được tăng lên 772 hộ
kinh doanh, đặc biệt năm 2008 số hộ chưa được cấp mã số thuế còn tương
đối cao nhưng đến năm 2009 thì con số đó đã giảm xuống rất thấp, giảm 891
hộ so với năm 2008. Điều đó chứng tỏ sự nỗ lực rất lớn trong công tác quản
lý đối tượng nộp thuế của chi cục thuế Quận Hoàn Kiếm.
Để thấy được rõ hơn việc quản lý đối tượng nộp thuế trên địa bàn ta
có thể xem khái quát bảng số liệu về hộ kinh doanh cá thể sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status