MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CANH TRANH
TRONG ĐẤU THẦU.
1.1 Những nét chung về đấu thầu.
1.1.1 Khái niệm về đấu thầu.
“Đấu thầu”: thuật ngữ này đã được xuất hiện trên thế giới từ rất lâu
nhưng nó mới tồn tại ở nước ta hơn hai chục năm nay bởi nó chỉ xuất hiện trong
nền kinh tế thị trường. Theo quy chế đấu thầu hiện nay của nước ta: “Đấu thầu
đó là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu. Bên
mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp của chủ dự
án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu. Nhà thầu là
tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu. Nhà thầu là nhà xây
dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn,
nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư, nhà cung cấp trong đấu thầu
mua sắm hàng hóa”.
Bên cạnh đó đấu thầu còn được hiểu là quá trình thực hiện một hoạt động
mua bán đặc biệt nào đó mà bên mua yêu cầu bên bán cung cấp những bản chào
hàng cho một công trình, dịch vụ hoặc một hàng hóa cần mua nào đó trên cơ sở
những bản chào hàng, bên mua sẽ lựa chọn cho mình một hoặc nhiều bên bán
tốt nhất và phù hợp với mình nhất. Đấu thầu giúp cho bên mua mua được dịch
vụ, công trình hay hàng hóa mình cần một cách tốt nhất, sử dụng ngân quỹ của
mình một cách hiệu quả nhất.
1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu.
Đấu thầu là một quá trình mà chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp
ứng các yêu cầu của mình vì vậy trong đấu thầu có các đặc điểm sau:
Thứ nhất xét về bản chất sâu xa thì đấu thầu đó là một hoạt động mua bán
rất đặc biệt vì trong hoạt động đấu thầu người mua tức bên mời thầu có quyền
lựa chọn cho mình những người bán hay chính là nhà thầu tốt nhất cho mình.
Thứ hai đấu thầu chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, cũng như
những đặc tính không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường thì nó cũng mang
tính cạnh tranh gay gắt, người mua tổ chức đấu thầu để các nhà thầu (người
bán) ganh đua cạnh tranh với nhau, với mục tiêu của người mua là có được
thầu có đủ năng lực kỹ thuật, tài chính để thực hiện hợp đồng chứ không được
nhằm dành ưu đãi cho một số nhà cung cấp nào đó.
Đấu thầu hạn chế: hình thức này có sự thương lượng trực tiếp với một số
nhà cung cấp được chỉ định, và chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt,
khi không có đơn bỏ thầu trong đấu thầu mở và đấu thầu chọn lọc, hoặc các đơn
đều không áp ứng đủ điều kiện, hoặc khi mua sắm các phụ kiện bổ sung, thay
thế từ một nhà thầu đã được chọn.
1.2 Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu.
1.2.1 Khái niệm.
“Năng lực cạnh tranh” là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy
trì tồn tại ở vị trí của nó một cách lâu dài và có cơ hội phát triển lớn mạnh lên
trên thị trường cạnh tranh, phải đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất
bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra. Năng lực
cạnh tranh có thể chia thành ba cấp:
Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được
tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội,
nâng cao đời sống của nhân dân.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị
phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và
ngoài nước. Năng lực của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có được.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần của
sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
dịch vụ phụ thuộc vào lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào chất
lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản
phẩm dịch vụ đó.
Như vậy năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp: là khả
năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể thắng được nhiều gói thầu so với các
doanh nghiệp khác trên cùng thị trường cạnh tranh, đảm bảo đạt được một tỷ lệ
lợi nhuận tối thiểu mà doanh nghiệp đã đặt ra trong mục tiêu lợi nhuận của
Phần lớn các công trình xây dựng đều được tiến hành với số vốn rất lớn,
mà chủ đầu tư lại phải chi phần lớn số vốn đó cho việc tiến hành thi công công
trình, thường thì là chỉ tới khi hoàn thành được 80% công việc nhận thầu thì chủ
đầu tư mới thanh toán cho nhà thầu theo đợt hoặc theo thoả thuận từ trước.
Chính vì vậy mà chủ đầu tư xây dựng phải đảm bảo các điều kiện về năng lực
tài chính: “vốn tự có, lợi nhuận ba năm liên tiếp, vốn vay, thu nhập bình quân
của lao động trong doanh nghiệp…” theo đúng các yêu cầu mà chủ đầu tư đưa
ra. Đảm bảo được những điều này nhà thầu có thể tạo được niềm tin với các đối
tác là các chủ đầu tư, bên cạnh đó bên mời thầu cũng phải được đảm bảo về mặt
tiến độ, chất lượng, và chi phí để hoàn thành công trình. Nếu như nhà thầu nào
không thể đáp ứng những điều kiện mà chủ đầu tư đã yêu cầu trong hồ sơ mời
thầu thì sẽ không có tư cách tham gia đấu thầu. Và đó là điều đương nhiên và
những yêu cầu về năng lực tài chính chính là những tiêu chí cơ bản cho thấy khả
năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nhà đầu tư cần hợp tác với một
doanh nghiệp “đang sống” chứ không cần hợp tác với một doanh nghiệp đứng
trước nguy cơ phá sản, nợ nần chồng chất, đời sống công nhân viên người lao
động không được đảm bảo thì thử hỏi họ làm sao mà có thể yên tâm tận tâm tận
lực với công việc được giao.
Bản chất của đầu tư chính là bỏ vốn và sinh lợi nhuận, vốn ít mà lợi
nhuận cao, đồng vốn bỏ ra luôn an toàn luôn là mong muốn lớn nhất và là mối
quan tâm hàng đầu của chủ đầu tư . “Chọn mặt gửi vàng” nên chủ đầu tư tất