TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 10. 2012
THỰC TRẠNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM
TƯƠNG TÁC
Đỗ Thị Hồng Hạnh1
TÓM TẮT
Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Giáo dục học ở trường Đại học Hồng Đức
hiện nay đang là vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý, giảng viên dạy môn giáo dục học:
làm thế nào để tri thức khoa học giáo dục trở nên sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết
phục đối với sinh viên và sinh viên sau khi ra trường có thể đáp ứng ngay được yêu cầu
công tác giảng dạy và giáo dục ở trường phổ thông. Bài viết đi sâu tìm hiểu nhận thức,
mức độ tích cực, kết quả học tập ... của sinh viên trong các giờ học, từ đó góp phần xây
dựng các cách thức vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn giáo dục
học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Từ khóa: Quan điểm sư phạm tương tác, môn giáo dục học
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan điểm sư phạm tương tác (SPTT) là một hướng tiếp cận dạy học tổng hợp,
tập trung vào người học, xác định rõ vai trò của từng yếu tố dạy học, thúc đẩy mối quan
hệ tương tác giữa các yếu tố người dạy, người học và môi trường. Tương tác tạo nên
động lực của quá trình dạy học, làm tăng các giá trị tương tác giữa các yếu tố, khắc phục
tính thụ động, đơn điệu, xuôi chiều của quan hệ dạy và học. Với vai trò chủ đạo, người
dạy có thể kiểm soát được quá trình dạy học, những tác động đồng bộ tới người học và
môi trường sẽ mang lại hiệu quả cao cho quá trình dạy học, đồng thời với vai trò chủ
động người học thể hiện sự năng động, sáng tạo trong tương tác với thầy và bạn, tận
dụng môi trường thuận lợi để nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
Thực hiện nhiệm vụ đào tạo của trường ĐH Hồng Đức, giáo dục học (GDH) là
môn khoa học ứng dụng có tính nghề nghiệp cao với nhiệm vụ trang bị cho sinh viên sư
phạm (SVSP) hệ thống những tri thức, hiểu biết về nghề nghiệp, nguyên lý cơ bản của
giáo dục học Mác xít; đường lối quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước; hệ thống
ở bảng 1.
Bảng 1. Nhận thức của SV về mục đích học tập môn GDH
Mục đích học tập
1. Hoàn thành
chương trình học
2. Vận dụng vào
rèn luyện nhân
cách của bản thân.
3. Giải thích các
hiện tượng GD
trong cuộc sống
4. Phục vụ dạy học
và giáo dục học
sinh sau này
Rất nhiều
Nhiều
Mức độ ( n = 232 )
Tương đối
Ít
nhiều
SL
%
SL
%
SL
23.7
30
12.9
55
23.7
83
79
34.1
67
28.9
49
Không
SL
%
10.3
6.0
31
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 10. 2012
5. Phục vụ các
nhiệm vụ khi đi thực
tế, thực tập sư phạm
6.
Làm đề tài
nghiên cứu khoa
học
7.
Học môn
phương pháp giảng
dạy bộ môn tốt hơn
45
19.4
79
34.1
54
23.2
19.4
64
27.6
62
26.7
42
18.1
19
8.2
Số liệu ở bảng 1 cho thấy: Đa số SV đã xác định đúng đắn mục đích học tập môn
GDH là hoàn thành chương trình môn học (xếp thứ 1), phục vụ nghề nghiệp sau này
(xếp thứ 2), rèn luyện nhân cách bản thân ... Tuy nhiên một số mục đích khác thì chưa
được SV coi trọng như: giúp SV học tốt môn phương pháp giảng dạy (xếp thứ 5), hay
giúp SV đi thực tế, thực tập sư phạm (xếp thứ 4) đặc biệt là để giúp SV làm đề tài khoa
học (xếp thứ 7) ...
Như vậy: Nhìn chung SV đã xác định đúng đắn mục đích học tập môn GDH ở
trường ĐH. Tuy nhiên SV tham gia vào học tập môn GDH với động lực chưa thật sự sâu
sắc, mạnh mẽ nên tính tích cực, chủ động học tập môn học chưa cao, ảnh hưởng không
tốt tới sự tham gia của SV vào các mối quan hệ tương tác trong dạy họ, ảnh hưởng tới
kết quả học tập môn GDH.
Số liệu ở bảng 2 cho thấy: Sự chủ động tích cực tham gia của SV vào môi trường
học tập chưa cao, chủ yếu là ở mức độ bình thường chiếm 68.1%, mức độ rất tích cực và
tích cực chiếm tỷ lệ rất ít (0.8 và 11.2%) và ở mức độ không tích cực chiếm tỷ lệ đáng kể
là 17.7%. Qua thực tế dự giờ, quan sát một số giờ GDH ở trường ĐH Hồng Đức, chúng
32
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 10. 2012
tôi thấy có sự phù hợp với kết quả nghiên cứu trên, biểu hiện ở chỗ: khi GV đặt ra câu
hỏi thì rất ít SV giơ tay phát biểu, khi GV gọi SV phát biểu, các ý kiến của SV nêu ra
cũng rất mơ hồ, kém sự đầu tư suy nghĩ. Trong các giờ học môn GDH, GV rất ít nhận
được các câu hỏi từ phía SV … Điều này cho thấy sự thụ động, chưa tích cực nỗ lực
tham gia vào giờ học của SV có thể làm hạn chế sự tương tác giữa GV và SV, do đó ảnh
hưởng đến hiệu quả nhận thức của SV.
2.3. Kết quả học tập của SV trong các giờ học GDH
Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi thu được kết quả ở bảng 3.
Bảng 3. SV tự đánh giá mức độ nhận thức đạt được trong các giờ học trên lớp môn GDH
TT
1
2
3
4
5
Mức độ nhận thức
Nhớ
Hiểu
122
52.6
Không bao giờ
SL
%
18
7.8
4
1.7
42
18.1
41
17.7
89
38.4
Số liệu ở bảng 3 cho thấy: đa số SV đã nhận thức được ở mức độ tương đối tốt
các vấn đề của bài học, mức độ hiểu là phổ biến chiếm đa số (xếp thứ 1); mức độ nhớ
(xếp thứ 2); mức độ vận dụng (xếp thứ 3). Tuy nhiên vẫn còn không nhỏ SV đôi khi rơi
vào trạng thái mơ hồ, khó hiểu (153 SV – 65.9%) hoặc không hiểu (122 SV – 52.6%)
trong các giờ học môn GDH. Số SV đạt đến mức độ cao của nhận thức là vận dụng kiến
thức vào giải quyết các tình huống, các vấn đề giáo dục, dạy học còn chưa nhiều (35 SV
– 15%). Để làm rõ lý do tại sao SV lại không hiểu bài hay mơ hồ khi lĩnh hội kiến thức
chúng tôi đã nêu một số câu hỏi: Em có khi nào thấy mình khó hiểu hay mơ hồ khi GV
giảng bài không? Theo em thì tại sao lại có điều đó? Do kiến thức môn học trừu tượng, khó
hiểu? Do cách giảng của GV hay do không theo dõi kịp, không tích cực học tập môn này
…? Kết quả chúng tôi thu được nhiều ý kiến giải thích của SV, trong đó các ý kiến chủ yếu
là: do bản thân SV chưa thực sự hứng thú, tự giác, tích cực tham gia vào các giờ học môn
GDH; do lớp học đông SV, GV ít có điều kiện cá biệt hoá dạy học, GV ít chú ý kiểm tra,
Phương
thức
giao tiếp, ứng xử
của giáo viên.
SL
%
Mức độ ( n = 232 )
Tương đối
Nhiều
Ít
nhiều
SL
%
SL
%
SL
%
22
9.5
43
18.5
112
29
12.5
42
18.1
57
24.5
Rất nhiều
Không
SL
%
23.3
1
0.4
102
43.9
45
19.3
5
2.1
Kết quả nghiên cứu ở bảng 4 cho thấy: SV tự đánh giá kết quả mà họ đã thu nhận
được nhiều nhất trong các giờ học môn GDH là phương thức giao tiếp ứng xử của GV
(xếp thứ 1). Điều này cho thấy: Sự ảnh hưởng của phương thức giao tiếp ứng xử của GV
trong dạy học đối với SVSP là rất lớn bởi trong dạy học SV vừa là đối tượng vừa là chủ
thể tham gia vào mối quan hệ tương tác thầy – trò. Mặt khác với ý thức trau dồi nghề
nghiệp, SVSP luôn quan tâm tới việc hình thành kỹ năng giao tiếp ứng xử của người
giáo viên tương lai. Tuy nhiên, SV mới chỉ chú ý đến nội dung môn học (xếp thứ 2) và ít
chú ý tới phương pháp tiếp cận tri thức, cách thức tổ chức dạy học (xếp thứ 4) đặc biệt là
kỹ thuật sử dụng các PPDH, phương tiện dạy học (xếp thứ 5), còn có nhiều SV không
thu hoạch được gì từ yếu tố này. Qua đó cho thấy: SV chưa thực sự có được phương
pháp học tập ở đại học và ý thức tiếp cận các phương pháp thông qua cách thức tổ chức
dạy học của GV. Do đó dẫn tới kết quả học tập môn GDH của SV chưa cao.
Tóm lại: Đa số SV học tập môn GDH với ý thức động cơ chưa thật sâu sắc, mạnh
mẽ và chưa có phương pháp học tập ở đại học do đó SV chưa tích cực tham gia vào giờ
học, kết quả học tập các giờ học môn GDH chưa cao. Kết quả này do nhiều nguyên
nhân: trách nhiệm của SV đối với việc học tập môn GDH chưa cao và có thể SV chưa có
được môi trường học tập thuận lợi dưới sự tổ chức hướng dẫn hoạt động học hiệu quả
của GV ...
3. MỘT VÀI NHẬN XÉT
Quan điểm SPTT là một hướng tiếp cận dạy học tổng hợp, khoa học, cơ bản và
năng động: tập trung vào người học và cơ bản dựa trên tác động qua lại: người dạy –
người học – môi trường làm gia tăng giá trị các mối quan hệ tương tác dạy học; yếu tố
khả năng ứng dụng quan điểm SPTT là cần thiết và hoàn toàn có thể, nhằm nâng cao
chất lượng dạy học GDH. Để làm được điều đó ở trường ĐH Hồng Đức hiện nay đòi
hỏi một sự tác động đồng bộ tới các yếu tố dạy học, trong mọi khâu của quá trình dạy
học nhằm nâng cao ý thức và chuẩn bị tốt cho các chủ thể tham gia vào dạy học, tạo môi
trường tích cực đa tương tác, trên cơ sở đó thực hiện tốt mục tiêu dạy học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]
[4]
Nguyễn Như An (1996), Phương pháp dạy học Giáo dục học, NXB.ĐHQGHN.
Nguyễn Ngọc Bảo và Hà Thị Đức (1998), Hoạt động dạy học ở trường THCS,
NXB. GDHN.
Đặng Thành Hưng (2005), Tương tác thầy – trò trên lớp học, NXB.GD Hà nội.
Jean – Marc Denommé và Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp sư
phạm tương tác, NXB. Thanh Niên, Hà Nội.
35
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 10. 2012
[5]
[6]
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 9 của BCHTWĐ, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Thành Vinh (2006), Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
trong các trường (khoa) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay, Luận án
TS. Hà Nội.