ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ NGUYÊN CHƢƠNG
THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ NGUYÊN CHƢƠNG
THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành
: Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.1.1. Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai...........................................14
1.1.2. Khái niệm tố cáo và tố cáo về đất đai.................................................18
1.1.3. Khái niệm về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai.......................... 19
1.2. Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai.....................23
1.2.1. Khái niệm về thi hành pháp luật......................................................... 23
1.2.2.Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai...................24
1.2.3. Các nhân tố trong thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo
về đất đai....................................................................................................... 26
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu
nại, tố cáo về đất đai......................................................................................29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG...........................................................................31
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành............................................. 31
2.1.1. Các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại về đất đai từ năm 2004
tới nay............................................................................................................31
2.1.2. Pháp luật về giải quyết tố cáo về đất đai từ năm 2004 tới nay............37
2.1.3. Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành........................................ 38
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại
thành phố Đà Nẵng....................................................................................... 43
2.2.1. Tình hình các vụ khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai nổi cộm
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng....................................................................45
2.2.2. Những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động thi hành
pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng........................................................................................................ 50
2.3. Nguyên nhân của các bất cập trong thi hành pháp luật giải quyết khiếu
nại, tố cáo về đất đai tại thành phố Đà Nẵng................................................ 54
2.3.1.Về sự bất cập trongcác quy định pháp luật.......................................... 54
GQKNTC : giải quyết khiếu nại tố cáo
GQTC : Giải quyết tố cáo
XHCN : xã hội chủ nghĩa
UBND : ủy ban nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong
Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình
khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Khiếu nại, tố
cáo là hiện tượng xã hội xuất hiện trong quản lý hành chính nhà nước, là một
kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà
nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức. Do đó,
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong
quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân
dân. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính
đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành,
từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu
quả quản lý Nhà nước. Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là
một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm.
Trong lĩnh vực quản lý đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai là một hiện
tượng xảy ra phổ biến trong xã hội; đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế đất có giá, việc giao đất, cho
thuê đất phi nông nghiệp, thuê đất sản xuất kinh doanh phải trả tiền thì khiếu
nại, tố cáo về đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng
cũng như tính chất phức tạp về mặt nội dung.
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; chất lượng thi hành pháp luật còn
thấp, số lượng vụ việc giải quyết sai còn nhiều; trong khi giải quyết còn vi
phạm quy định về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu
nại, tố cáo; nhiều Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận giải quyết tố cáo
đã có hiệu lực pháp luật nhưng chậm thi hành hoặc không thi hành; công tác
thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa
3
được quan tâm đúng mức; kỷ luật hành chính trong giải quyết khiếu nại, tố
cáo bị buông lỏng; những vi phạm pháp luật khiếu nại, tố cáo chưa được xử lý
nghiêm minh, trình độ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáovề đất
đai còn bất cập...
Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai không thể thiếu cơ chế
giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai hoàn thiện và hiệu quả. Việc nghiên
cứu, tìm hiểu các khiếu kiện về đất đai và phân tích, đánh giá đúng công tác
thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là rất cần thiết, không
những giúp Nhà nước trong nỗ lực xác lập cơ chế giải quyết về đất đai một
cách có hiệu quả mà còn góp phần vào việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống
chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước hiện nay.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, pháp
luật tố cáo và xuất phát từ thực tiễn công tác thi hành pháp luật giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, để góp phần đổi
mới, nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng, tôi chọn đề tài: “Thi hành pháp luật giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài
nghiên cứu cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
dụng pháp luật để giải quyết khiếu nại về đất đai (ThS. Nguyễn Tuấn Khanh, Tạp
chí Thanh tra, Số 5/2008); Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai và giải quyết
tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai (Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật của Chính phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 09/2009); Giải
quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế (Bùi
Thị Thuận Ánh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội),...
-
Một số bài viết, công trình khoa học đề cập đến công tác kiểm tra,
giám sát hoạt động GQKNTC hành chính ở những góc độ khác nhau như:
Trách nhiệm của đại biểu dân cử trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân (ThS. Đào Xuân Tiến, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02/2005);
5
Tăng cường giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành
chính nhà nước - giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (TS Trần
Văn Sơn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2005); Nâng cao hiệu lực, hiệu
quả thanh tra trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo (Bùi Nguyên Súy, đề tài khoa học cấp Bộ của
Thanh tra Chính phủ năm 2007); ...
-
Trước những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, đã có một số công trình nghiên
cứu nhằm đưa ra các giải pháp đổi mới cơ chếgiải quyết khiếu nại, tố cáo
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1.
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận
chung để đánh giá đúng thực trạng thi hành pháp luật trong GQKNTC về đất
đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, xác định những ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân cụ thể. Từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình hình
thực tế của địa phương và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật GQKNTC về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2.
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn có 04 nhiệm vụ sau đây:
-
Nghiên cứu các vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý của công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay;
-
Tìm hiểu về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội, an ninh, chính trị của
thành phố Đà Nẵng và ảnh hưởng của nó đến tình hình khiếu nại, tố cáo về đất
đai và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố;
Đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố.
Ý nghĩa thực tiễn:
Phân tích tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai và thực trạng công tác
thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành
phố, vận dụng những quy định của pháp luật, đánh giá những tồn tại, vướng
mắc, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác thi hành pháp luật giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai để từ đó đề xuất các giải pháp cho chính
quyền địa phương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp
phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo trong công tác
nghiên cứu và thực tiễn công tác giải quyết các khiếu nại hành chính và giải
quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước.
Những đóng góp mới của luận văn
8
Luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và
tương đối toàn diện thi hành pháp luật GQKNTC về đất đai trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng nên có những đóng góp mới như sau:
-
Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thi hành pháp
luật GQKNTCvề đất đai.
-
Làm rõ thực trạng, xác định nhữnh ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Đề tài nghiên cứu tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai và thực trạng
công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, tập trung
vào các cơ quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Tiếp công dân thành
phố, Thanh tra thành phố, UBND các quận, huyện trên địa bàn thành phố.
9
6.
Nội dung nghiên cứu:
Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu: cơ sở pháp lý của khiếu
nại, tố
cáo về đất đai; tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - chính trị của thành phố Đà
Nẵng và ảnh hưởng của nó đến khiếu nại tố cáo và công tác thi hành pháp
luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; vai trò của giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai.
-
Phân tích, đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay;
dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong thời gian tới
-
Nghiên cứu thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu
Phương pháp thu thập thập số liệu thứ cấp
-
Thu thập các văn bản liên quan đến đất đai và khiếu nại, tố cáo như:
Luật Đất đai năm 1993 (có sửa đổi bổ sung vào các năm 2000, 2001) và
2003, Luật đất đại sửa đổi bổ sung năm 2009 và Luật đất đai năm 2013, Luật
Khiếu nại, Luật tố cáo, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn.
-
Các báo cáo, tài liệu liên quan đến tình hình và công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Tiếp công
dân thành phố, Thanh tra thành phố, UBND các quận, huyện trên địa bàn
thành phố giai đoạn 2004 - 2013.
-
Tham khảo các công trình đã nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu của các tác giả.
-
Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề
nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
a. Xây dựng bảng hỏi điều tra phỏng vấn các đối tượng liên quan đến
đề tài
-
Phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ tham gia tiếp công dân, trực tiếp
giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại các cơ quan hành chính nhà nước:
gồm 5 nhóm đối tượng: công chức chủ trì, tham giai soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật, công chức trực tiếp tiếp công dân; chuyên viên theo dõi, phụ
trách công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư tại các cơ quan hành chính nhà nước;
chuyên viên, thanh tra viên trực tiếp tham gia giải quyết các vụ khiếu nại tố
cáo về đất đai; Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên Môi trường, Trưởng phòng
Tài nguyên Môi trường và Trưởng các Đoàn Thanh tra giải quyết các vụ
khiếu nại, tố cáo về đất đai.
c.
Thời gian phỏng vấn:trong 4 tháng, từ 05/01 -30/5/2014.
d.
Số lượng mẫu phỏng vấn, điều tra: khoảng 50 mẫu.
Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia và các cơ quan liên quan:
12
-
Tham vấn ý kiến các chuyên gia và các cơ quan liên quan, cụ thể là
các cán bộ lãnh đạo của Cục II Thanh tra Chính phủ, Vụ Tiếp dân và xử lý
đơn thư Thanh tra Chính phủ (Thường trực Trụ sở Tiếp Công dân của Trung
ương Đảng và Nhà nước, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai qua thực tiễn trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng
13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
1.1. Quan niệm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
1.1.1. Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai
Trong khoa học pháp lý tại Việt Nam, kể từ khi Hiến pháp 1959 ra đời,
bản Hiến pháp này đã công nhận rằng “Khiếu nại, tố cáo là một trong những
quyền cơ bản của công dân” và là một trong những cách thức để công dân
thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Nếu giải quyết tốt các khiếu nại sẽ góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, xây dựng và
phát triển đất nước.
-
Quan điểm về khái niệm khiếu nại
Khiếu nại là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã
là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào đó xem
xét, sửa chữa lại một việc làm mà họ cho là không đúng đắn, gây thiệt hại
hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thường
thiệt hại do việc làm không đúng gây ra.
Theo quy định tại Điều 2, Khoản 1 của Luật khiếu nại năm
2011:“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết
định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình”. Định nghĩa này cho rằng Khiếu nại chỉ có thể nhắm đối các chủ thể ra
quyết định là người , cơ quan thuộc Nhà nước. Tuy nhiên trên thực tế, bất cứ
cá nhân tổ chức nào có quyền lực tác động đến các quyền lợi của chủ thể khác
đều có thể nhận được sự phản hồi thông qua hình thức khiếu nại. Do đó về
mặt khoa học pháp lý, việc gói gọn nghĩa của thuật ngữ
16
Khiếu nại như định nghĩa này là không thực sự xác đáng. Nên đặt lại thành
thuật ngữ “Khiếu nại hành chính” sẽ hợp lý hơn.
-
Thuật ngữ “Khiếu nại về đất đai”
Trong giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà
xuất bản Công an nhân dân năm 2009, ThS Nguyễn Thị Dung đã kế thừa hai
cách hiểu của nhóm Nguyễn Như Ý và Nguyễn Ngọc Điệp, cùng với định
nghĩa về Khiếu nại trong Luật Khiếu nại,tố cáo năm 1998 để cho ra khái niệm