Giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán việt nam , luận văn thạc sĩ kinh tế - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

LƯƠNG THỊ MỸ QUYÊN

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN NGỌC ẢNH

`TP. Hồ Chí Minh – Năm 2009

-1-


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong bài viết này đã được tôi thu thập và tổng hợp từ những
nguồn tin đáng tin cậy. Do đó, số liệu đảm bảo được tính chính xác và trung thực.
Tôi xin cam đoan “Luận văn” này là đề tài nghiên cứu của bản thân tôi, tôi không sao
chép nguyên bản của bất cứ luận văn hay tài liệu nào.
Người thực hiện “Luận văn”
LƯƠNG THỊ MỸ QUYÊN
Cao học Khoá 15
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

-2-


fund) ........................................................................................................................
1.5.2Phân loại dựa theo đối tượng người đầu tư tham
1.5.2.1 Quỹ đầu tư riêng lẻ (quỹ đầu tư hạn chế)..................................................
1.5.2.2 Quỹ đầu tư tập thể:......................................................................................
1.5.3Phân loại theo cơ cấu, tổ chức điều hành: ...........
1.5.3.1 Mô hình tín thác ...........................................................................................
1.5.3.2 Mô hình công ty............................................................................................
1.5.4Phân loại theo mục tiêu và đối tượng đầu tư: .....
1.5.4.1 Quỹ đầu tư cổ phiếu (stock fund):..............................................................
1.5.4.2 Quỹ đầu tư trái phiếu và thu nhập (bond and income fund)...................
1.6 Bài học kinh nghiệm từ các nước: ..........................................................................
Kết luận Chương I ...............................................................................................................
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ TRÊN TTCK
VIỆT NAM ...........................................................................................................................

2.1 Thực trạng TTCK Việt Nam ..................................................................................
2.2 Thực trạng hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ...........................................
2.2.1Các giai đoạn phát triển của Quỹ đầu tư trên thị
Nam: ............................................................................................................................
2.2.1.1 Giai đoạn 1 (từ năm 1990 đến năm 1997):.................................................
2.2.1.2 Giai đoạn 2 (từ năm 2002 đến đầu năm 2006)...........................................
2.2.1.3 Giai đoạn 3: giai đoạn năm 2006 đến năm 2008 .......................................
2.2.2Đánh giá chung về hoạt động các Quỹ đầu tư tại
-3-


2.2.2.1 Những thành tựu của Quỹ đầu tư trên TTCK Việt Nam.........................
2.2.2.2 Những điểm còn hạn chế trong hoạt động của QĐT ................................
2.2.3
Điểm qua tình h

3.3 Hệ thống giải pháp phát triển quỹ đầu tư trên thị
Nam: ....................................................................................................................................
3.3.1Nhóm giải pháp từ phía chính phủ: .....................
3.3.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư
chứng khoán .................................................................................................................
3.3.1.2 Ổn định nền kinh tế vĩ mô, tạo tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn đầu tư
từ các Quỹ.....................................................................................................................
3.3.1.3 Đẩy mạnh việc phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam:................
3.3.2Nhóm giải pháp từ phía các công ty quản lý quỹ
3.3.2.1 Đa dạng hoá các loại hình đầu tư, thành lập các quỹ mới phù hợp với
nhu cầu, xu hướng thị trường.....................................................................................
3.3.2.2 Đẩy mạnh việc niêm yết chứng chỉ quỹ ra thị trường nước ngoài:.........
3.3.2.3 Xây dựng công cụ kiểm soát rủi ro hiệu quả.............................................
3.3.2.4 Minh bạch hóa trong thông tin ...................................................................
3.3.2.5 Nâng cao chất lượng nhân lực: ...................................................................
Kết luận Chương III .................................................................................................
Kết luận......................................................................................................................

DANH MỤC TÀI LIỆU


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTCK:

Công ty chứng khoán

CTQLQ:

Công ty Quản lý quỹ


Doanh nghiệp nhà nước

CTCP:

Công ty Cổ Phần

DN:

Doanh nghiệp

UBCK:

Uỷ Ban Chứng khoán

Cty:

Công ty

CTLD:

Công ty Liên doanh

QĐT:

Quỹ đầu tư

QĐTCK:

Quỹ đầu tư chứng khoán



LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Quỹ đầu tư chứng khoán đã có mặt ở Việt Nam từ khá lâu (trước cả khi thị
trường chứng khoán Việt Nam ra đời – năm 1995), và thời gian vừa qua các Quỹ
này đã đóng góp khá lớn cho thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ. Quỹ
đầu tư đã góp phần làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên sôi động hơn,
góp phần cung cấp thêm nguồn cung chứng khoán cho thị trường, đồng thời giúp
cho các công ty huy động vốn được thuận lợi. Bên cạnh đó, Quỹ còn giúp nhà đầu
tư đa dạng hóa danh mục đầu tư, phân tán rủi ro và tiết kiệm chi phí đầu tư… Tuy
nhiên, vai trò của Quỹ ở thị trường Việt Nam vẫn chưa thật sự nổi bật, các Quỹ vẫn
chưa thể trở thành nhà tạo lập thị trường trong thời gian qua vì một số lý do sau:
-

Hàng hoá trên thị trường chứng khoán vẫn còn ít và kém chất lượng; thông tin
trên thị trường còn chưa minh bạch khiến các Quỹ đầu tư rất thận trọng trong
vấn đề giải ngân nguồn vốn.

-

Hoạt động của Quỹ còn bị hạn chế bởi một số chính sách pháp lý của Chính phủ,
khiến Quỹ chưa thể phát huy hết tiềm năng của mình.

-

Việc phổ cập chứng khoán cho nhà đầu tư nhỏ lẻ vẫn chưa nhiều và chưa hiệu
quả.


này chủ yếu đưa ra các giải pháp khác nhau cho việc thành lập và nâng cao vai trò
của Quỹ đầu tư nói chung, chưa đề cập sâu đến Quỹ đầu tư mạo hiểm vào các công
ty vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, các tài liệu này đều được tác giả nghiên cứu cách đây
khá lâu, do vậy thiếu tính thời sự của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu mô hình tổ chức, kinh nghiệm điều hành, huy động vốn của
các Quỹ đầu tư tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển, tác giả sẽ kết hợp
với thực trạng hoạt động của các Quỹ đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam
hiện nay để đưa ra những hệ thống giải pháp nhằm phát triển Quỹ đầu tư và Quỹ
đầu tư mạo hiểm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài xoay quanh tình hình hoạt động, mô
hình tổ chức, cơ chế huy động vốn của các Quỹ đầu tư ở các thị trường phát triển.
Bên cạnh đó, các Quỹ đầu tư đang hoạt động trong nước và thị trường chứng khoán
Việt Nam là những đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả đã sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp
nghiên cứu định tính như:
-7-


-

Sử dụng phương pháp thống kê lịch sử và phương pháp tổng hợp để hệ thống và
đánh giá tình hình hoạt động của các Quỹ đầu tư tại Việt Nam.

-

Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp so sánh để phân tích, so sách tìm
ra điểm tương đồng và khác biệt giữa môi trường hoạt động của các nước, từ đó


-8-


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ

1.1 Khái niệm:
QĐT là một định chế tài chính trung gian trên thị trường vốn. Nguồn vốn của
quỹ được huy động từ các NĐT cá nhân, các tổ chức tài chính…và được ủy thác cho
các nhà quản lý QĐT chuyên nghiệp tiến hành đầu tư vào chứng khoán (cổ phiếu,
trái phiếu, các chứng khoán phái sinh, tiền tệ hay các loại tài sản khác) với mục đích
mang lại lợi nhuận hợp pháp cao nhất với mức rủi ro thấp nhất có thể cho những
người góp vốn thành lập quỹ
1.2 Vai trò của Quỹ đầu tư:
1.2.1

Vai trò của quỹ đối với người đầu tư:

Khi các NĐT cảm thấy không đủ kiến thức, kinh nghiệm và thời gian để trực
tiếp hoạt động trên TTCK, họ tìm đến những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp để ủy
thác số tiền đầu tư của mình. Như vậy, so với hình thức đầu tư trực tiếp của từng cá
nhân thì hình thức đầu tư thông qua QĐT có những lợi thế nhất định:


Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro:
QĐT hình thành trên cơ sở tập hợp những số tiền nhỏ thành một khoản lớn sẽ
giúp các NĐT dù chỉ có ít vốn vẫn tham gia vào các dự án đầu tư lớn, điều này
cho phép họ vẫn thu được lợi nhuận và giảm thiểu được rủi ro trên cơ sở phân
tán đầu tư.


Điều này sẽ nói cho NĐT biết loại đầu tư nào mà người quản lý sẽ thực hiện
bằng tiền của ông ta. Điều này sẽ thỏa mãn nhu cầu, mục đích đa dạng của NĐT
(cần đảm bảo an toàn vốn, muốn có thu nhập đều đặn thường xuyên, chấp nhận
rủi ro cao để mong thu được lợi nhuận cao…)



Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư:
Việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn
nhất luôn là tiêu chí hàng đầu đối với mỗi NĐT. Chứng chỉ QĐT chính là một
loại chứng khoán, do vậy, người đầu tư hoàn toàn có thể mua bán nó trên TTCK
hoặc bán lại cho bản thân Quỹ (nếu là QĐT dạng mở).

1.2.2

Vai trò của quỹ đối với công ty muốn huy động vốn

Bên cạnh lợi ích của NĐT, bản thân các DN sử dụng vốn cũng có những lợi ích
nhất định:
-

Các DN có khả năng thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp hơn khi vay qua
hệ thống ngân hàng

-

Việc đầu tư vốn vào DN thông qua QĐT thường có giới hạn nhất định nên các
DN vẫn đảm bảo tự chủ trong hoạt động kinh doanh mà không bị chi phối như
các cổ đông lớn của DN



-

Trong một số trường hợp đặc biệt, chính phủ còn kêu gọi sự hỗ trợ của các quỹ
trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách có liên quan đến thị trường tài chính,
cụ thể là TTCK. Cụ thể là trong thời gian chứng khoán đi xuống, chính phủ từng
yêu cầu các QĐT ngưng việc bán chứng khoán ra để giúp NĐT nhỏ lẻ yên tâm
về mặt tâm lý, giúp cho giá chứng khoán trên thị trường tăng lên.

-

QĐT bằng nguồn vốn và nguồn nhân lực có năng lực cao về tài chính và quản lý
sẽ góp phần thúc đẩy các công ty mà họ đầu tư ngày càng phát triển hơn nữa

-

QĐT cũng tạo điều kiện cho việc phát triển các kỹ năng của thị trường trong
nước do họ thường đòi hỏi các tiêu chuẩn cao về lưu ký, thanh toán và thanh
toán bù trừ, tiết lộ thông tin và quản lý nói chung.
-3-


1.2.4

Vai trò của quỹ đối với TTCK

Trong quá trình hoạt động, các QĐT sẽ vừa tạo ra chứng khoán, vừa tạo ra nhu
cầu giao dịch chứng khoán và hướng cho việc giao dịch chứng khoán trên thị trường
diễn ra đều đặn. Điều này có nghĩa là QĐT hỗ trợ tích cực cho việc hình thành và
phát triển TTCK. Cụ thể:

đang lưu hành của một tổ chức phát hành
-4-


-

Một quỹ công chúng không được đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản quỹ vào
chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành.

-

Một quỹ công chúng không được đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản quỹ vào bất
động sản.

-

Một quỹ công chúng không được đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản quỹ vào các
công ty trong cùng một tập đoàn hay một nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn
nhau.

-

Vốn và tài sản của quỹ công chúng không được dùng để cho vay hoặc bảo lãnh
cho bất kỳ khoản vay nào, không được phép cho vay để tài trợ cho hoạt động của
quỹ công chúng, trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trải các chi phí cần thiết
cho quỹ công chúng. Tổng giá trị các khoản vay của quỹ công chúng không
được vượt quá 1% giá trị tài sản ròng của quỹ công chúng tại mọi thời điểm.
Thời hạn vay tối đa không được vượt quá 30 ngày.

¾ Các quỹ công chúng không bị hạn chế đầu tư vào các loại trái phiếu chính

Cổ đông của quỹ: là những người góp vốn mua cổ phần do quỹ phát hành, có
quyền lợi như các cổ đông của các công ty cổ phần bình thường.
Người hưởng lợi: là người mua chứng chỉ quỹ theo mô hình tín thác và được hưởng
lợi trên kết quả hoạt động của quỹ. Tuy nhiên, NĐT nắm giữ chứng chỉ quỹ không
có quyền biểu quyết cũng như thay đổi chính sách đầu tư của quỹ.
Công ty kiểm toán: là đơn vị xác nhận báo cáo tài chính của QĐT của Quỹ đầu tư.
1.4.2

Hoạt động của quỹ đầu tư:

¾ Hoạt động huy động vốn:

Phương thức phát hành:
Đối với các QĐT dạng công ty, quỹ phát hành cổ phần để huy động vốn hình
thành nên quỹ. Tương tự như các CTCP, cổ đông của quỹ cũng nhận được cổ phiếu
xác nhận số cổ phần mình sở hữu tại công ty.

-6-


Đối với các QĐT dạng hợp đồng, thơng thường lượng vốn dự kiến hình thành
nên quỹ được chia thành các đơn vị (tương tự như cổ phần của quỹ dạng cơng ty).
Quỹ sẽ phát hành chứng chỉ đầu tư, xác nhận số đơn vị tương đương với số vốn góp
của người đầu tư vào quỹ. Cũng như cổ phiếu phổ thơng khác, chứng chỉ đầu tư có
thể phát hành dưới hình thức ghi danh hoặc vơ danh và có thể được chuyển nhượng
như cổ phiếu.
Định giá phát hành:
Việc định giá cổ phiếu/ chứng chỉ đầu tư lần đầu để lập nên quỹ do các tổ chức
đứng ra thành lập quỹ xác định. Đối với quỹ theo mơ hình cơng ty, việc định giá cổ
phiếu quỹ là do các tổ chức bảo lãnh phát hành xác định. Đối với QĐT dạng hợp

chỉ QĐT được niêm yết trên TTCK và giao dịch như bất kỳ loại cổ phiếu niêm yết
nào. Chính vì vậy, giá của chứng chỉ QĐT do cung cầu thị trường quyết định và giao
động xung quanh giá trị tài sản ròng. Đối với QĐT dạng mở, sau khi phát hành,
chứng chỉ đầu tư của quỹ được phát hành thêm và mua lại tại chính CTQLQ hoặc
thông qua các đại lý của công ty. Giá chứng chỉ đầu tư của quỹ luôn gắn liền với giá
trị tài sản ròng của quỹ.
¾ Hoạt động đầu tư:

Bất kỳ QĐTCK nào được thành lập cũng nhằm đạt được những mục tiêu ban
đầu như sau:
-

Thu nhập: nhanh chóng, có nguồn chi trả cổ tức

-

Lãi vốn: làm tăng giá trị các nguồn vốn ban đầu thông qua đánh giá các cổ phiếu
trong danh mục đầu tư của quỹ

-

Thu nhập và lãi vốn: sự kết hợp giữa 2 yếu tố trên
Để đạt được các mục tiêu ban đầu, mỗi quỹ đều hình thành các chính sách đầu

tư riêng của mình, trên cơ sở đó có thể xây dựng danh mục đầu tư nhằm đạt được
mục tiêu đã đề ra. Người đầu tư sẽ lựa chọn và quyết định đầu tư vào quỹ theo khả
năng và mức độ chịu rủi ro của mình dựa vào các thông tin về chính sách và mục
tiêu đầu tư của quỹ. Chính sách và mục tiêu đầu tư của quỹ thường được thể hiện ở
tên gọi của quỹ.
-8-

hình hợp đồng. Quỹ có một khoản thời gian nhất định khi phát hành cổ phiếu/ chứng
chỉ quỹ lần đầu để huy động vốn và thường không phát hành thêm, ngoại trừ trường
hợp các cổ đông hiện hữu đồng ý tăng vốn (tương tự như công ty cổ phần).

-9-


Do không có nghĩa vụ mua lại chứng chỉ quỹ khi NĐT yêu cầu nên quỹ có thể
đầu tư vào tài sản có tính thanh khoản cao hoặc các tài sản kém tính thanh khoản.
Cũng do đặc điểm này nên loại hình QĐT này thường được thành lập để đầu tư vào
các nước có TTCK mới nổi hoặc đầu tư vào các công ty chưa niêm yết trên TTCK.
Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, cổ phiếu/ chứng chỉ QĐT của quỹ
được giao dịch như bất kỳ chứng khoán niêm yết nào trên TTCK tập trung, các NĐT
có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ QĐT của mình trên thị
trường thứ cấp thông qua các nhà môi giới.
¾ Ưu và nhược điểm của quỹ đóng:

- Ưu điểm thông thường nhất về cấu trúc của quỹ đóng là nó đảm bảo cho các

nhà quản lý quỹ thực hiện công việc tốt hơn bởi vì họ có thể làm việc với một nguồn
vốn ổn định. Họ không phải đối phó với tình trạng rút vốn của những người tham
gia góp vốn trong những thời điểm bất lợi. Nếu các NĐT muốn thu hồi lại tiền, họ
chỉ việc bán cổ phần của mình trên TTCK.
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ QĐT của quỹ đóng thường được bán với giá

chiết khấu hấp dẫn so với giá trị tài sản ròng của quỹ có thể là lợi thế chủ yếu cho
các NĐT. Mua với giá chiết khấu vừa đem lại những khoản thu nhập lớn đồng thời
còn có một mục đích tương đối phổ biến nữa đó là một chiến lược rủi ro thấp. Vì
quỹ đóng có tính chất ổn định nên cho dù việc mua chứng chỉ quỹ đóng với giá chiết
khấu hay giá cao hơn giá trị tài sản ròng vẫn không gặp rủi ro cao.

trường thứ cấp mà giao dịch trực tiếp với quỹ hoặc các đại lý được ủy quyền của
quỹ.
¾ Ưu và nhược điểm của quỹ mở so với quỹ đóng:
- Có tính thanh khoản tốt hơn: Vốn đầu tư quỹ mở có tính thanh khoản cao vì

NĐT có thể rút vốn vào bất kỳ lúc nào, ngay cả khi thị trường đang đi xuống. Việc
rút vốn của NĐT cũng được bảo đảm do các CTQLQ luôn phải nắm giữ một lượng
lớn tài sản có tính thanh khoản cao.
- Tính minh bạch cao và rủi ro đầu tư thấp: Ngoài việc công bố đầy đủ các

thông tin cần thiết, quỹ mở còn công bố giá trị tài sản ròng của quỹ hàng ngày. Để
mở rộng quy mô của quỹ và có những khách hàng ổn định, CTQLQ phải quản lý
- 11 -


quỹ đạt kết quả hoạt động tốt nhất có thể và cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn cho
khách hàng; các CTQLQ cũng tranh thủ mọi cơ hội để giới thiệu triết lý đầu tư và
cách thức quản lý quỹ cho người đầu tư.
- Dễ dàng đầu tư và được cung cấp dịch vụ tốt nhất: Người đầu tư có thể dễ

dàng mua, bán chứng chỉ quỹ/ cổ phiếu tại văn phòng giao dịch của ngân hàng (hoặc
các đại lý được ủy quyền). Cơ chế mua bán linh hoạt của QĐT dạng mở cũng đòi
hỏi CTQLQ phải quan tâm hơn đến việc cung cấp các dịch vụ đáng tin cậy nhằm
mang lại sự thuận tiện và nhiều lợi ích cho khách hàng.
- Hạn chế: Do NĐT có thể rút vốn bất kỳ lúc nào họ cần nên quỹ mở có cơ cấu

vốn không ổn định. Quỹ luôn luôn phải duy trì một tỷ lệ lớn các tài sản có tính thanh
khoản cao. Quỹ này ít có khả năng tham gia vào các dự án dài hạn với mức độ rủi ro
lớn, tiềm năng phát triển cao mà chỉ chủ yếu đầu tư vào các công cụ được giao dịch
trên TTCK.


Quỹ đầu tư tập thể
1.5.2.1

Quỹ đầu tư riêng lẻ (quỹ đầu tư hạn chế)

QĐT riêng lẻ (hay QĐT hạn chế) là một quỹ do một số tổ chức hoặc cá nhân có
quan hệ (quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, quan hệ đồng nghiệp…) góp vốn và thuê
CTQLQ quản lý nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất và đảm
bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư, không mở rộng đối tượng tham gia quỹ. Các NĐT
này có thể đầu tư vào các công ty có tiềm năng nhưng hạn chế về vốn, sau đó khi
các công ty này phát triển đến một mức độ nào đó thì họ sẽ thu hồi vốn lại và thu

-13-


được một mức lãi cao, hoặc họ cũng có thể đầu tư vào chứng khoán của công ty
chưa niêm yết….
Có nhiều dạng QĐT riêng lẻ trong đó có hai loại hình quỹ điển hình và phổ biến
là :
¾ Quỹ đầu tư phòng ngừa rủi ro (hedge fund – quỹ phòng hộ)

Là một danh mục đầu tư được quản lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận tới mức cao
nhất. Quỹ này sử dụng những chiến lược đầu tư hiện đại như các giao dịch chứng
khoán phái sinh trên TTCK thế giới cũng như trong trên TTCK trong nước nhằm thu
lợi tức cao.
Về mặt pháp lý Quỹ phòng hộ thông thường được lập ra dựa trên quan hệ góp
vốn đầu tư của các cá nhân với nhau. Và cho phép một số lượng giới hạn các NĐT
tham gia với yêu cầu số vốn đầu tư ban đầu tối thiểu rất lớn. Khoản đầu tư vào quỹ
Phòng hộ có tính thanh khoản thấp do quỹ này yêu cầu các NĐT phải giữ vốn góp

vừa và nhỏ. Bỏ vốn ra, các NĐT mạo hiểm đồng thời thực hiện việc hỗ trợ điều
hành các công ty này. Như vậy QĐTMH và các công ty được đầu tư cùng chia sẻ
thành công và rủi ro. Các NĐT mạo hiểm có khuynh hướng đầu tư vào các ngành
kinh doanh đặc thù, hoặc nhắm vào những công ty mới thành lập, còn thiếu kinh
nghiệm quản lý, hoặc dùng quỹ mạo hiểm để vực dậy các công ty bề thế đang đứng
trước nguy cơ sa sút.
1.5.2.2

Quỹ đầu tư tập thể:

Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. NĐT có
thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các NĐT riêng lẻ. Quỹ công chúng
cung cấp cho các NĐT nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm
thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư
mang lại.
QĐT tập thể có thể được thành lập theo hai dạng là quỹ đóng và quỹ mở. Khi
muốn huy động vốn thì QĐT tập thể sẽ thực hiện quảng cáo để thu hút những người
tham gia góp vốn đầu tư. Việc quảng cáo chỉ được ghi rõ mục đích đầu tư, cơ cấu
danh mục dự kiến, lý do tại sao chọn cơ cấu danh mục như vậy và tuyệt đối phải
-15-


không được cam kết chắc chắn về việc đảm bảo lợi nhuận thu được. Vốn của QĐT
tập thể sẽ được thể hiện dưới dạng chứng chỉ quỹ được phát hành rộng rãi ra bên
ngoài.
Phạm vi đầu tư các quỹ tập thể thường rất rộng, họ có thể đầu tư vào chứng
khoán, vào bất động sản hoặc tham gia góp vốn vào các liên doanh với nước ngoài
hay mua lại một phần vốn của các bên đối tác. Họ cũng có thể đầu tư vào các dự án
có tính khả thi của Chính phủ. Tuy vậy, để đảm bảo tính an toàn và hạn chế rủi ro
cho nguồn vốn của quỹ, thì một bộ phận khá lớn quỹ này sẽ được đầu tư vào các trái

-16-


Khi huy động được đủ vốn thì CTQLQ ký với Ngân hàng giám sát một chứng
thư tín thác quy định mọi vấn đề đối với hoạt động của quỹ nhằm bảo vệ quyền lợi
của người đầu tư. Chứng thư tín thác này bắt buộc phải được sự phê chuẩn của Bộ
tài chính hay các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Quỹ tín thác sẽ không có Hội
đồng quản trị. Trong mô hình này, CTQLQ sẽ có trách nhiệm quản lý và đề ra chính
sách, còn Ngân hàng giám sát sẽ nắm quyền giám sát và quản lý tài sản.
Người đầu tư vào Quỹ tín thác không được gọi là cổ đông vì họ chỉ có quyền
nhận lợi tức từ số vốn góp và không có quyền bầu cử và các quyền khác như mô
hình công ty. Vì thế người đầu tư lúc này được gọi là người thụ hưởng và chứng chỉ
QĐT được gọi là chứng chỉ hưởng lợi.
1.5.3.2

Mô hình công ty

QĐT có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty đầu
tư cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các NĐT bằng cách phát hành cổ
phiếu. Công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật công ty mà còn phải
chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của các luật liên quan tới tín thác đầu tư chứng
khoán. Cổ phiếu của Quỹ có thể được giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC.
Những người góp vốn vào Quỹ sẽ trở thành những cổ đông được quyền hưởng
cổ tức và biểu quyết bầu Hội đồng quản trị cũng như các vấn đề cơ bản của Quỹ như
các cổ đông trong một công ty cổ phần truyền thống.
Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ
đông đứng ra thuê CTQLQ và Ngân hàng bảo quản. Hội đồng quản trị sẽ giám sát
hoạt động của 2 tổ chức này theo kiểu “tam quyền phân lập”: Hội đồng quản trị đề
ra chính sách và giám sát, CTQLQ thực hiện đầu tư còn Ngân hàng bảo quản nắm
giữ tài sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status