(Luận văn thạc sĩ) thiết kế hoạt động dạy học các bài thơ mới theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ CHÂU

THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ MỚI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Minh Diệu

HÀ NỘI – 2014

i


Lời cảm ơn

Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Minh Diệu đã tận tình
hướng dẫn tơi trong q trình học tập và thực hiện luận văn.
Tơi cũng xin bày tỏ lịng biết ơn tới các thầy cơ giáo, gia đình, bạn bè,
các trường thực nghiệm đã giúp đỡ tơi hồn thành luận văn này.

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả


HS

Học sinh

KHXH

Khoa học xã hội

KN

Kỹ năng

KT

Kiến thức

NXB

Nhà xuất bản

PPDH

Phương pháp dạy học

SGK

Sách giáo khoa

THPT


9
9
9
26
33
33
35
44

Chương 2: THIẾT KẾ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI ............................................................
2.1. Nguyên tắc đề xuất quy trình hoạt động dạy học ............................
2.1.1. Bám sát mục đích, yêu cầu của CT dạy học Thơ mới trong trường

45
45

Trung học phổ thông .......................................................................................
2.1.2. Bám sát đặc trưng của Thơ mới ..................................................
2.1.3. Tăng cường hoạt động của HS.....................................................
2.1.4. Tăng cường hoạt động thực hành, ứng dụng ................................

45
45
45
45

2.1.5. Kết nối HS với gia đình và xã hội ................................................
2.2. Đề xuất quy trình hoạt động dạy học các tác phẩm Thơ mới ..........


3.1.2. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm ..................................................
3.1.3. Nội dung thực nghiệm .................................................................
3.2. Cách thức thực nghiệm...................................................................
3.2.1. Thiết kế giáo án thực nghiệm ......................................................
3.2.2. Cách đánh giá thực nghiệm .........................................................
3.3. Kết quả thực nghiệm ......................................................................
3.3.1. Thống kê kết quả trả lời các câu hỏi đánh giá ..............................

65
66
66
66
83
86
86

3.3.2. Thống kê đánh giá HS trên các phương diện nhận thức ..............
3.3.3. Đối chứng kết quả đánh giá HS lớp thực nghiệm với lớp đối
chứng ...................................................................................................
Tiểu kết Chương 3 ................................................................................

87

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ......................................................
1. Kết luận.............................................................................................
2. Khuyến nghị ......................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................
PHỤ LỤC ............................................................................................


41

Bảng 1.5: Kết quả phỏng vấn GV về chất lượng học tập Thơ mới của
học sinh .................................................................................................

42

Bảng 1.6: Đánh giá KQHT của HS THPT về Thơ mới ...............................

43

Bảng 3.1: Tổng quan đối tượng, địa bàn thực nghiệm ..........................

65

Bảng 3.2: Ma trận đề kiểm tra đánh giá ................................................

84

Bảng 3.3: Tổng quan kết quả trả lời các câu hỏi của HS.........................

86

Bảng 3.4. Kết quả đánh giá HS trên các phương diện nhận thức ...........

87

Bảng 3.5: Kết quả đánh giá HS trên các phương diện nhận thức ...........

88

hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” khẳng định: “Chuyển mạnh quá
trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo
dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (mục B.I.3).
Nghị quyết 29 liên quan trực tiếp đến việc đổi mới mục đích, nội dung và
phương pháp dạy học nói chung, trong đó có dạy học Thơ mới.

1


Mơn Ngữ văn nói chung và Đọc hiểu Thơ mới nói riêng cũng cần đặt ra
nhiệm vụ thiết kế bài học theo hướng tạo điều kiện tốt nhất để HS hình thành
các kĩ năng, năng lực cần thiết cho học tập và cho cuộc sống của chính các em.
1.4. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề:“Thiết kế hoạt động dạy học
các bài Thơ mới theo định hướng phát triển năng lực cho HS THPT ”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Trước CCGD (1985), Thơ mới chưa được đưa vào dạy học trong CT
THPT. Lí do: Nội dung các tác phẩm Thơ mới chứa đựng thế giới quan và
nhân sinh quan của các giai cấp tư sản và tiểu tư sản không thuộc tầng lớp
công nông binh.
Từ CCGD (Ở cấp THPT là từ 1985), CT Văn học đã đưa một số tác phẩm
tiêu biểu cho phong trào Thơ mới với tất cả các giá trị cơ bản của nó. Về sau,
do yêu cầu giảm tải, một số tác giả, tác phẩm bị chuyển sang đọc thêm rồi
lược bớt.
CT Ngữ văn hiện hành (từ 2000 đến nay), nội dung Thơ mới về cơ bản
khơng có sự thay đổi.
2.2. Về các cơng trình nghiên cứu, đã có rất nhiều tác giả, tác phẩm giới thiệu,
nghiên cứu Thơ mới, kể từ trước 1945. Đáng chú ý là các cơng trình: Thi nhân
Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân (1940), Thơ và mấy vấn đề trong thơ
Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức (1978), các tuyển tập thơ Xuân Diệu,

ngữ ... Điều này đã tạo ra một bước đột phá mới cho thơ ca Việt Nam. Vì lần
đầu tiên trong văn học Việt Nam cái tôi cá nhân được thể hiện một cách rõ nét.
Cái tôi nhà thơ được tự do bộc lộ những tình cảm, cảm xúc riêng tư của cá
nhân. Ngơn ngữ thơ tự do, thốt khỏi hệ thống quy phạm của thơ văn xưa,
khơng chỉ có thể thơ thất ngôn, lục bát, thơ đường luật. Ngôn ngữ Thơ mới
khá đa dạng, có khi từ 3-5 chữ cũng có khi 11-13 chữ. Hình ảnh thơ cũng
phong phú: nếu thơ văn xưa tập trung miêu tả những hình ảnh ước lệ, những
hình ảnh trang trọng thì Thơ mới lại đi vào những hình ảnh giản dị của đời
thường. Tóm lại, đến Thơ mới, thơ ca Việt Nam đã được cởi trói về mọi mặt,
thơ ca thực sự là tiếng nói của tâm hồn.

3


Nghiên cứu về Thơ mới ta không thể không kể đến cơng trình của Phan
Cự Đệ với cuốn Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945, được xuất bản
năm 1966. Nó là một trong những cơng trình phê bình nghiên cứu đầu tiên
của ơng. Khác với Hồi Thanh, người tiếp cận Thơ mới bằng phương pháp phê
bình ấn tượng, Phan Cự Đệ đã vận dụng phê bình Mác-xít để nghiên cứu “trào
lưu thơ lãng mạn” này. Ông khảo sát những phương diện lý luận như chủ
nghĩa lãng mạn theo quan điểm Mác-xít, đặc trưng thẩm mỹ của phương pháp
sáng tác lãng mạn chủ nghĩa, quan điểm nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ của
các nhà thơ trong phong trào Thơ mới, những yếu tố chi phối đến sáng tác của
mỗi nhà thơ và của cả trào lưu. Ông cũng đặt Thơ mới trong mối quan hệ với
đời sống xã hội những năm trước Cách mạng tháng Tám để lý giải sự “thoát
ly” của các nhà thơ mới với thời cuộc như là một sự “bế tắc” của chủ nghĩa cá
nhân, từ đó sàng lọc, ghi nhận những đóng góp. Phan Cự Đệ đánh giá cao tinh
thần dân tộc cũng như những đổi mới về hình thức của Thơ mới đối với lịch
sử thi ca hiện đại Việt Nam. Đóng góp của Thơ mới cả hai phương diện nội
dung và hình thức nghệ thuật.

cái bản ngã, hạn chế khả năng bộc lộ cái tơi cá nhân cũng như tính độc đáo
của người sáng tạo. Nói cách khác, những nước này có tính đồng văn về lịch
sử, văn hố truyền thống. Sự tiếp xúc với phương Tây công nghiệp hiện đại là
cuộc biến thiên lớn nhất tạo nên một tình thế đối lập mãnh liệt giữa cái cũ và
mới, giữa Á và Âu, giữa bảo thủ và cấp tiến. Chính sự tiếp xúc này đã có
những biến đổi sâu sắc, tạo nên những lớp người mới, làm thay đổi cách sống,
cách nghĩ và ngay cả cách cảm. Sự gặp gỡ với phương Tây đã cởi trói và làm
thay đổi nhiều quan niệm từ hàng chục thế kỷ. Từ đó dẫn đến sự ra đời của
Thơ mới.
Tiếp đến tác giả khẳng định khái niệm Thơ mới khá đồng nhất giữa các
nước trong khu vực, sự ra đời đầu tiên của Thơ mới ở Nhật Bản. Đây là một
hiện tượng khu vực có tính chất loại hình. Thơ mới là sản phẩm của văn hố
đơ thị, là tiếng nói của con người cá nhân hiện đại, của tầng lớp trí thức đơ thị
bấy giờ. Họ muốn biểu hiện cảm xúc tình yêu cá nhân, bộc lộ cái tôi cá nhân
trong hoạt động sáng tạo, thơ ca thật sự trở thành tiếng kêu tự nhiên của con
5


tim. Thơ mới là tiếng nói của cái tơi cá nhân cá thể, cái tôi cá nhân được tồn
tại một cách đầy ý nghĩa trong cuộc sống. Tác giả còn so sánh phong trào thơ
mới Việt Nam với các nước trong khu vực để thấy sự giống nhau cũng như sự
khác biệt giữa các nền văn học của các nước này. Đồng thời chỉ ra nguyên
nhân của sự khác nhau là do hồn cảnh lịch sử xã hội văn hóa tạo ra.
2.3. Về PPDH các giáo trình đại học, sách và tài liệu hướng dẫn GV đã phân
tích, bình giảng các bài thơ mới. Nhiều nhà giáo nổi tiếng cũng đã biên soạn
các bài giảng văn về Thơ mới. Hàng loạt sách Thiết kế bài giảng, Bài soạn
cũng đã không quên đối tượng Thơ mới.
Tuy nhiên, có thể thấy, các sách này phần lớn được soạn ra để phục vụ
cho các bài giảng văn, trong đó, thầy sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ
yếu, thậm chí độc nhất trong giờ học. Cho nên quy trình dạy học ở các tài liệu

THPT, tập trung vào trọng điểm là thiết kế hoạt động dạy học.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
a. Về lí thuyết, chúng tơi chỉ vận dụng kết quả nghiên cứu của lí luận văn
học, lịch sử văn học Việt Nam, nghiên cứu - phê bình văn học đối với các tác
phẩm Thơ mới và giai đoạn văn học 1930- 1945; đồng thời nghiên cứu các lý
luận giáo dục học liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học và Thơ mới.
b. Về thực tiễn, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát và thực nghiệm tại một
số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
Xây dựng quy trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực đối với
các bài học về Thơ mới.
4.2. Nhiệm vụ
a. Xác định cơ sở khoa học, gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tế để đề xuất
quy trình dạy học đối với các bài Thơ mới ở THPT.
b. Thiết kế quy trình dạy học các bài Thơ mới ở THPT
c. Thực nghiệm Sư phạm để khẳng định tính khả thi và tính hiệu quả của
quy trình đề xuất.

7


5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau đây:
5.1. Các phương pháp nghiên cứu lí luận gồm: phân tích - tổng hợp.
Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu cơ sở lí luận nhằm phân tích
và tổng hợp các cơng trình nghiên cứu, các quan điểm đổi mới giáo dục, các
phương pháp dạy học hiện đại, các phạm trù, khái niệm... liên quan tới luận
văn; Phương pháp này còn được sử dụng khi nghiên cứu cơ sở thực tiễn,

a. Khái niệm thơ: Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn tâm điêu
long, Lưu Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên một bài
thơ là tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngơn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh
văn). Đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành
điều kiện tồn tại của thơ: "Cái cảm hố được lịng người chẳng gì trọng yếu
bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngơn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm
thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngơn
ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa". Quan niệm này không chỉ dừng lại ở
việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó
giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một
thể thống nhất hồn chỉnh và sống động. Đây có thể coi là quan niệm về thơ
toàn diện và sâu sắc nhất trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa.
Các nhà Cấu trúc chủ nghĩa Châu Âu lại thay thế câu hỏi "thơ là gì?"
bằng một câu hỏi khác: tính thơ là gì? và nó được thể hiện ra như thế nào?
Trong tiểu luận Thơ là gì ?, Jacobson viết: "Nhưng tính thơ được biểu hiện ra
như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không
phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những
từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên
ngồi của chúng khơng phải là các dấu hiệu vơ hồn của hiện thực mà cịn có
trọng lượng riêng, giá trị riêng". Tiếp tục triển khai lý thuyết tự qui chiếu,
Jacobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là
tuyển chọn và kết hợp, đã đi đến kết luận: "Chức năng thi ca đem nguyên lý
tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp". Mặc dù có lưu ý ít
9


nhiều đến hoạt động nguyên lý tương đương về ý nghĩa nhưng trong tư duy
nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi
tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu
trúc có tính chất khép kín của văn bản. Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý

dưới đây có nhiều ý nghĩa phong phú và sâu sắc:
b.1. Về nội dung cảm xúc: Thơ ca có sự tưởng tượng phong phú và cảm
thụ mãnh liệt
Đặc tính căn bản nhất của thơ ca là tưởng tượng và cảm thụ mãnh
liệt. Thượng thư đã nói: “Thơ nói chí” [17, tr.1] (Trung Quốc); Lục Cơ từng
nói: “Thi dun tình nhi kỉ mị” [17, tr.171] (Trung Quốc). Bạch Cư Dị: “Thơ,
gốc là tình, ngọn là ngôn ngữ, hoa là thanh âm, quả là ý nghĩa” [17, tr.96). Văn
Nhất Đa nói: “Thơ là sự ngưng tụ tình cảm mãnh liệt” [20, tr.309] (Tiếng Trung).
Quách Mạc Nhược nói: “Bản chất của thơ là thể hiện tình cảm” [18, tr.215] (Tiếng
Trung). Biê-lin-xki đã nhấn mạnh: “Tình cảm là một trong những động lực
chủ yếu nhất của bản chất thơ tình; khơng có tình cảm thì khơng có thi nhân,
và cũng khơng có thơ ca” [3, tr.74] (Tiếng Trung). Musset - nhà thơ lãng mạn
Pháp - chủ trương: “Thơ là sự phát tiết của tình cảm cá nhân”, thi nhân đã viết
trong một bài thơ:
“Một lời nói, một nụ cười, một lời than, một cái nhìn
đều tạo thành tác phẩm mang vẻ đẹp tinh tế, đầy ma lực và sự sợ hãi;
Một giọt lệ biến thành một hạt trân châu;
Đây chính là sự si mê của thi nhân trong cõi người
Đây chính là hùng tâm và cuộc sống, là của cải của anh ta”
Trên thực tế, thơ ca từ xưa đến nay đều lấy tình cảm làm đối tượng biểu đạt.
Willam Hallit - nhà phê bình người Anh thế kỉ 19, nói: “Khủng khiếp là thơ, hi
vọng là thơ, yêu thương là thơ, thù hận là thơ, khinh thường, đố kị là thơ, yêu mến,
thương xót, tuyệt vọng hoặc điên cuồng, tất cả đều là thơ [15, tr. 59] (Tiếng Anh)
Thơ ca khơng ngừng biểu hiện tình cảm, hoặc là mạnh mẽ hùng hồn, hoặc là
trằn trọc băn khoăn, hoặc là vui sướng đến phát cuồng, hoặc buồn bã đến đoạn
tuyệt, hoặc đau khổ, tất cả đều lộ bộc lộ mãnh liệt, nồng nàn, triền miên không

11





thức kết cấu mang tính nhảy vọt là: khơng tn theo thứ tự không gian, thời
gian tự nhiên mà tùy ý co giãn, lúc căng lúc chùng hết sức linh hoạt, lúc thì
đột nhiên đến, lúc thì đột nhiên đi, từ đầu này nhảy đến đầu khác, từ có ý đến
trống không; tỉnh lược quan hệ từ, tỉnh lược câu, đoạn mang tính q độ, tính
q trình. Đặc điểm này do đặc tính thẩm mĩ của thơ quyết định. Thơ ca bão
hịa tình cảm, phong phú tưởng tượng, cho nên, tất yếu tuân theo logic của tình
cảm và tưởng tượng, mà lơ-gic của tình cảm và tưởng tượng là khơng chấp
nhận giới hạn khơng gian thời gian, lúc thì ở chỗ này, lúc thì ở chỗ kia, thoắt ở
trước mắt, thoắt lại ở sau lưng, nhảy nhót bất tận làm lộ ra một khoảng trống
nhất định.
b.3. Về ngôn ngữ: Thơ ca có sự kết tụ đặc biệt về ngơn ngữ, coi trọng sự
lạ hóa, giàu tiết tấu và âm luật, phong phú về nhạc tính.
Sự kết tụ đặc biệt của ngôn ngữ thơ ca là: vận dụng triệt để khả năng của
câu thơ để biểu đạt nội dung phong phú, ý tứ rộng lớn, thậm chí yêu cầu mỗi
từ đều phải có sức biểu hiện mãnh liệt, khiến cho một lời cũng thấu tình, hai
chữ cũng đạt lí, lấy ít nói nhiều, bảo tồn được tình cảm và diện mạo. Quách
Tiểu Xuyên trong Xuân ca tập 1 viết: “Xuân ca hát hay nhưng làm không giỏi,
mỗi câu mỗi chữ đều phải dùng hơn nghìn cân bút mực”. Nói như vậy mới
thấy, để có được một câu một chữ, nhà thơ đã phải tơi luyện kì cơng như thế
nào. 115 chữ trong Hạ tân lang, độc sử của Mao Trạch Đông đã khái quát 50
vạn năm nhân loại tiến hóa từ vượn thành người, từ thời đồ đá đến thời đồ
đồng, đồ sắt, từ thời công xã nguyên thủy đến xã hội chiếm hữu nô lệ và xã
hội phong kiến, rồi đến thời cách mạng dân chủ chủ nghĩa mới. Điều đó cũng
giống như Triệu Bổ đã viết trong Hịa Thi: “Uống rượu, liền cầm nghiên bút/
hào khí mênh mang che phủ cả nghìn xưa”.
Ngơn ngữ thơ ca chú trọng sự lạ hóa. Thơ ca khi vận dụng ngơn ngữ rất
chú trọng sự thay đổi, biến hình của ngơn ngữ hằng ngày. Trên phương diện từ
vựng, thơ ca thường dùng từ cổ, chữ ít thấy, ngơn ngữ ngoại lai, điển cố, sử

tế/ Phiêu bạt tây nam thiên địa gian”. Câu thơ đối ngẫu, kết cấu đều đặn chỉnh
tề, đọc lên có âm vang, làm người nghe cảm thấy hài hòa tha thiết, làm cho
câu thơ dễ nhớ, dễ truyền bá, không những thế, còn tạo ra một loại sức căng

14


khiến cho giữa hai thứ đối nhau hình thành khơng gian và thời gian tương ứng,
nâng cao sức biểu hiện.
Tiết tấu, âm luật, đối ngẫu… khơng những có thể tạo nên tính nhạc cho
ngơn ngữ thơ ca, làm cho bản thân thơ ca có tính tình cảm mà cịn có thể tạo
ra một loại ý ở ngoài lời. Ý ở ngồi lời chính là ẩn ý trong cảm nhận vơ tận
của người đọc.
b.4. Về thi pháp: Thơ ca có thi pháp đặc thù
Thi pháp là lí luận, nguyên tắc và cách viết trong nghệ thuật thơ
ca. Pháp là khuôn phép, quy tắc, vì vậy, thi pháp chỉ hình thức thơ ca, chỉ
cách biểu hiện cố định, không thay đổi về phương diện kĩ xảo - chủ yếu là thủ
pháp biểu hiện và kĩ xảo của riêng thơ, như: khởi hứng, ẩn dụ, tượng trưng, ý
tượng, trùng điệp ý tượng…
1.1.1.2. Đặc điểm của Thơ mới
Thơ mới là tên gọi chung của các thể loại thơ phi cổ điển, chịu ảnh hưởng
các phép tắc tu từ, thanh vận của thơ hiện đại phương Tây, trở thành một hiện
tượng trong khu vực các nước đồng văn châu Á, thơ mới ra đời, phát triển dựa
trên yêu cầu cấp thiết hiện đại hóa thi ca truyền thống.
Có thể nêu lên những đặc điểm cơ bản của Thơ mới như sau:
a. Về hình thức, Thơ mới được giải phóng triệt để khỏi các phép tắc tu từ,
thanh vận chặt chẽ của các thể loại thơ truyền thống, thậm chí có sự xuất hiện và
phát triển mạnh của thể loại thơ tự do, thơ không vần, thơ cấu trúc theo bậc thang
v.v… Số lượng câu thơ thường không bị giới hạn như các bài thơ truyền thống;
Ngơn ngữ bình thường trong đời sống hàng ngày được nâng lên thành ngơn từ


Những hơi
Gió bấc
Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào
Em ơi…”
(Sương rơi- Nguyễn Vĩ)

16


1.1.1.3. Những đóng góp và hạn chế của Thơ mới
a. Những đóng góp chủ yếu của Thơ mới đối với nền văn học và văn hóa
Việt Nam
a.1. Từ góc độ văn hóa, nhân văn, Thơ mới đã thổi luồng sinh khí mới
vào bầu khơng khí đang tù đọng, ngột ngạt, già cỗi của thơ ca, văn học và văn
hóa nước nhà. Đó là một cuộc Cách mạng, mang hơi thở của văn hóa, văn học
phương Tây tràn vào Việt Nam.
Trong bầu khơng khí mới ấy, một số giá trị cũ được hồi sinh, phát triển
theo hướng hiện đại hóa, và một số giá trị mới được hình thành.
Bạn đọc các thế hệ sau có thể học được trong Thơ mới các giá trị nhân
văn như: tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống; những cảm xúc giàu tính
thẩm mỹ; sự đề cao cái “tơi” cá nhân,…
a.2. Từ góc độ ngơn ngữ, Thơ mới đã có cơng lao to lớn trong việc góp
phần làm cho tiếng Việt phát triển đến một tầm cao mới, đưa tiếng nói và chữ
viết dân tộc lên trình độ hiện đại. Trong Thơ mới, người ta có thể nhận thấy
mọi tâm trạng, cảm xúc tinh tế và sâu lắng, những khía cạnh phong phú và đa
dạng trong đời sống tâm hồn con người Việt Nam, bước qua thời kì phong
kiến để đến với thời kì hiện đại.

không bàn về thơ mới, không bênh vực Thơ mới, không bút chiến khẩu chiến.
Thế Lữ chỉ lặng lẽ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh
khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan rã (Mấy vần thơ).
Ơng là người có cơng trong việc xây dựng nền Thơ mới. Phan Khôi, Lưu
Trọng Lư chỉ là người làm cho người ta chú ý đến Thơ mới mà thơi, cịn Thế
Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy vào tương lai của Thơ mới.
Thế Lữ xuất hiện được Hoài Thanh đánh giá rất cao: Ðộ ấy Thơ mới vừa ra
đời. Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam
giai đoạn 1930- 1945.
Thơ Thế Lữ tiêu biểu cho tiếng nói của cái tơi trong Thơ mới thời kì đầu.
Nó hăng hái tự khẳng định, vẫn ít nhiều cịn dè dặt, tình u cịn mức độ, chứ
chưa bng tuồng, ích kỉ trắng trợn như về sau. Thế Lữ nói đúng cái “tơi”
trong Thơ mới.
18


Thơ Thế Lữ thời kì đầu say sưa thốt li hiện thực. Nhưng những sự kiện
lớn lao của lịch sử cịn dư vang trong tâm trí. Thơ Thế Lữ có ấp ủ một tinh
thần dân tộc, một khát khao tự do. Thời kì đầu tinh thần dân tộc đó chính là
tiếng vọng lại xã hội của phong trào (1930-1931).
Thơ Thế Lữ diễn tả nỗi buồn. Thế Lữ đưa vào thơ Việt Nam cái buồn vô
cớ, cái buồn thi vị, lúc đó cái buồn đang là cái “mốt”. Cái buồn trở thành một
thứ trang sức của trí thức tiểu tư sản. Cái buồn bàn bạc khắp nơi, cả trong giấc
mộng, trong cảnh tiên:
“Tiếng đưa hiu hắt bên sông
Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”...
(Tiếng sáo thiên thai)
(2) Lưu Trọng Lư - “con nai vàng ngơ ngác”
Lưu Trọng Lư là một trong những người khởi xướng và cổ vũ hăng hái
cho Thơ mới, ơng đã góp phần đem lại sự chiến thắng cho Thơ mới. Mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status