ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN MỸ LỆ
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ TĨNH - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN MỸ LỆ
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ TĨNH - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
nghiệp để có thể sửa chữa và hồn thiện luận văn của mình.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Mỹ Lệ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.............................................................. 3
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn ........................................................................... 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 5
6. Đóng góp của đề tài ................................................................................................ 6
7. Kết cấu đề tài luận văn ............................................................................................ 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ ........................................................................................... 7
1.1. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã ............................................................................................ 7
1.2. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, cơng chức, trong đó có cán bộ, cơng chức cấp xã ...................... 16
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã ........................................................................................................................ 25
1.4. Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của một số
địa phương ở Việt Nam............................................................................................. 28
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH HÀ TĨNH ........................................................ 35
2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
3.2.3. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã ............................................................................................................... 72
3.2.4. Tăng cường công tác quản lý về công tác đào tạo, bồi dưỡng và
bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho các cơ sở đào tạo đầu mối .................................... 79
3.2.5. Bổ sung nguồn kinh phí cho cơng tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã ............................................................................................................... 82
3.2.6. Thực hiện tốt công tác xét tuyển, lựa chọn CBCC cấp xã tham gia
các khoá đào tạo, bồi dưỡng do các cơ quan đơn vị đề nghị. ..................................... 83
3.2.7. Tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, cơng chức
cấp xã sau đào tạo. ........................................................................................................... 84
3.2.8. Phân công các sở, ngành, địa phương tổ chức thực hiện công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ............................................................... 86
3.3. Một số kiến nghị, đề xuất................................................................................... 88
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 94
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Từ, cụm từ
Viết tắt
1
Cải cách hành chính
CCHC
Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phịng an ninh. Hiệu
lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói
chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công
tác của đội ngũ CBCC cơ sở. CBCC cấp xã có vai trị là cầu nối giữa Đảng, Nhà
nước với quần chúng nhân dân đồng thời trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước
tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơng dân. Chính vì đội ngũ CBCC cấp xã có vai trị quan trọng như vậy
nên việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, trong sạch về
lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ
được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Đảng ta xác
định đầu tư xây dựng đội ngũ CBCC cơ sở có phẩm chất, đạo đức và năng lực
ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở
trong công tác cán bộ.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các quốc gia cũng như
giữa khu vực công và khu vực tư trong mỗi quốc gia, nhà nước nào cũng đều chú
trọng đến công tác ĐTBD nguồn nhân lực khu vực cơng của mình nhằm xây
dựng đội ngũ cán bộ có thể đáp ứng được nhiệm vụ của tổ chức.
Ở nước ta, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng
chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục
vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước, Chương trình Tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã đề ra giải pháp “Tiếp tục đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bằng các hình thức phù hợp,
có hiệu quả”.
1
Tỉnh Hà Tĩnh đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh
phát triển cơng nghiệp hố, hiện đại hố và thực hiện các cơng trình, dự án trọng
điểm gắn với chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới nên việc
đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã là yêu cầu hết sức bức thiết.
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên
được Đảng, Nhà nước ta quan tâm. Đồng thời đây cũng là chủ đề nghiên cứu của
khá nhiều đề tài của các cơ quan trung ương như Ban Tổ chức Trung ương, Bộ
Nội vụ, Học viện Hành chính… từ nhiều năm nay. Một số đề tài khoa học, luận
án, luận văn đã tập trung vào nghiên cứu xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã, trong
đó đề cập đến ĐTBD CBCC hoặc một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo
bồi dưỡng CBCC cấp xã như:
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của Nhà nước
pháp quyền XHCN”. Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.09 của TS. Thăng
Văn Phúc - Bộ Nội vụ. Đề tài đã đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải
pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nói chung và
cán bộ, cơng chức trong các cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan
nhà nước. Đề tài đã có chương riêng về thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ
cán bộ, cơng chức cấp xã.
- “Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi mới”.
Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước, NXB. Chính trị quốc gia. 2004.
Cuốn sách có phần phân tích, đánh giá thực trạng về số lượng, chất lượng cấp ủy
viên Đảng bộ cơ sở; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên
cứu đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống
chính trị cơ sở, trong đó có đề xuất, giải pháp đối với đội ngũ cán bộ cơ sở.
- “Nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp xã (Qua
khảo sát ở đồng bằng sơng Hồng)”. TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai chủ biên. NXB.
Chính trị quốc gia, 2007. Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng
lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp xã và khảo sát, đánh giá thực
3
trạng năng lực của cán bộ chủ chốt cấp xã đồng bằng sơng Hồng, nhóm nghiên
cứu đã đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ
3.1. Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực trạng công tác đào tạo, bồi
dưỡng CBCC cấp xã của tỉnh Hà Tĩnh để từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới
công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ cơ sở lí luận về đào tạo, bồi dưỡng
CBCC cấp xã.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã ở tỉnh Hà
Tĩnh, chỉ ra những kết quả, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC cấp
xã đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu chính
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác ĐTBD đội ngũ CBCC cấp xã
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn khảo sát đánh giá thực trạng công tác ĐTBD CBCC cấp xã
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2014 và đề xuất các giải pháp đổi mới
ĐTBD CBCC cấp xã giai đoạn 2015 - 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn tiếp cận vấn đề trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và
các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về ĐTBD CBCC.
- Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như: hệ thống, phân
tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn.
5
6. Đóng góp của đề tài:
Nghiên cứu cơng tác ĐTBD CBCC cấp xã tại tỉnh Hà Tĩnh nhằm đề xuất
lương từ ngân sách nhà nước” (Khoản 1 Điều 4)
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phịng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Cơng an nhân dân
mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Khoản 2 Điều 4).
“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội; cơng chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ
một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. (Khoản 3 Điều 4).
7
Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về
chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị
trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã:
- Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau:
+ Bí thư, phó bí thư đảng uỷ;
+ Chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch uỷ
ban nhân dân;
+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đồn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội
Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nơng,
lâm, ngư, diêm nghiệp và có Tổ chức Hội nơng dân Việt Nam ); Chủ tịch Hội
của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình
hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho
đúng” [27, tr.269].
Khẳng định vị trí, vai trị của người cán bộ, địi hỏi người cán bộ phải có
những đức tính tốt, Hồ Chí Minh cũng khơng cực đoan cho rằng cán bộ chỉ có
tính tốt hay tồn tính tốt, mà cán bộ trước hết cũng là con người, có thể có cả
tính xấu. Nhưng người cán bộ phải biết nhận biết, sửa chữa, loại bỏ tính xấu,
phát triển tính tốt của mình; đồng thời Hồ Chí Minh cũng khơng cho rằng cán bộ
là nhân tố quyết định tất cả, mà “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân” [27, tr.197], còn vai trò quyết định của cán bộ là ở chỗ nhận thức được để
đi trước, làm gương, lãnh đạo.
Vai trò hết sức quan trọng của cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng còn
thể hiện ở chỗ: nếu thiếu họ thì khơng có cách mạng, mục tiêu đề ra khơng thể
hồn thành, cán bộ có vai trị quyết định đối với công việc “Muôn việc thành
công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [47, tr.240]. Cán bộ, cơng chức có
vị trí, vai trị quan trọng đối với cơ quan, tổ chức. Cán bộ, công chức là thành
viên, phần tử cấu thành tổ chức bộ máy.
Cán bộ, cơng chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi
hoạt động của tổ chức. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào
9
cán bộ. Cán bộ, công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, cán bộ,
công chức kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy.
Nếu dây chuyền không tốt, khơng chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy tồn bộ máy
cũng tê liệt” [27, tr.54]. Đối với công việc “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [27, tr.269,
240].
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh công
các cấp chính quyền. Họ có vai trị trực tiếp đảm bảo kỷ cương phép nước tại cơ
sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp
của nhân dân, đảm bảo trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.
Họ là những người đóng vai trị tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các
hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ
chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả.
- Ngồi ra Cơng chức cấp xã cịn có vai trị:
+ Là lực lượng xung kích quyết định trong việc tổ chức thực hiện xây
dựng Nông thôn mới ở cơ sở. Công chức cấp xã là người trực tiếp quán triệt các
Chỉ thị, Nghị quyết về xây dựng NTM để cụ thể hóa thành Đề án, quy hoạch xây
dựng tại địa phương; trực tiếp tham mưu, triển khai thực hiện việc huy động sức
mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân trong việc phát triển kinh tế xã hội, cải
thiện đời sống, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đồn kết, tích cực
tham gia phong trào xây dựng NTM.
+ Là lực lượng nịng cốt, trực tiếp tham mưu giúp chính quyền cơ sở thực
hiện việc quản lý hành chính nhà nước ở địa phương. Họ là những người trực
tiếp cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người
dân; trực tiếp tham mưu, đề xuất các biện pháp xử lý, giải quyết những vấn đề
phát sinh ở cơ sở thuộc lĩnh vực được phân cơng nên rất thuận lợi trong đóng
góp ý kiến đề xuất với các cơ quan nhà nước cấp trên để xây dựng và hoàn thiện
hệ thống văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN.
Chính họ là những người trực tiếp thưc hiện và quyết định chất lượng cung cấp
dịch vụ công của Nhà nước đối với nhân dân.
11
Tóm lại, cán bộ, cơng chức chính quyền cấp xã là người có vị trí, vai trị
quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng
nông thơn, thường cùng với gia đình có tư liệu sản xuất như ruộng đất, phương tiện
máy móc... Họ có thể tham gia làm kinh tế phụ gia đình, kinh tế tập thể, do đó ngồi
thu nhập từ lương, phụ cấp do Nhà nước chi trả, họ có thể có thêm các khoản thu
nhập khác.
- Đội ngũ cán bộ cấp xã được bầu cử nên thường xuyên biến động, không ổn
định. Thường sau mỗi nhiệm kỳ có khoảng 1/3 số cán bộ cơ sở thay đổi vị trí cơng
tác hoặc khơng trúng cử phải nghỉ việc. Thậm chí có khơng ít trường hợp, sau khi
cán bộ, công chức nhà nước và những người thuộc lực lượng vũ trang về nghĩ hưu
lại được bầu làm cán bộ cấp xã. Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, tính đến
ngày 30/6/2013 có gần 5% cán bộ chuyên trách cấp xã có độ tuổi trên 60. Những
người này tuy có nhiều kinh nghiệm trong công tác nhưng do tuổi cao, sức yếu và
đã được hưởng lương hưu nên trách nhiệm cơng tác có phần hạn chế, đơi khi cịn
bảo thủ, trì trệ.
- So với tổng số cán bộ, công chức trong khu vực hành chính, đội ngũ cán
bộ, cơng chức cấp xã có số lượng rất đơng đảo. Tính đến ngày 30/12/2013, số cán
bộ, công chức cấp xã của cả nước là 256.608 người, không kể khoảng gần 1 triệu
những người hoạt động khơng chun trách cấp xã. Trong khi đó tổng số cán bộ,
cơng chức hành chính nhà nước từ cấp huyện đến cấp TW là 256.295 người, khối
Đảng, đoàn thể là 75.525 người.
- Một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã chưa được đào tạo bài bản, trình độ
học vấn cũng như chun mơn nghiệp vụ cịn nhiều hạn chế, đặc biệt ở miền núi,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Theo số liệu năm 2013, có 2,93% có trình độ
học vấn tiểu học, 21,48% tốt nghiệp trung học cơ sở; về trình độ chun mơn
nghiệp vụ có tới 20,74 % chưa qua đào tạo, 4,5% có trình độ sơ cấp; 30% chưa qua
đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị.
Một số cán bộ, cơng chức cấp xã sau khi trúng cử, hoặc đuợc tuyển dụng
mới được cử đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Điều này khác với đội
13
khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm
giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng. Một định nghĩa chung cho
ĐTBD CBCC có thể được hiểu như là q trình làm biến đổi hành vi con người
một cách có hệ thống thông qua việc học tập để họ thực hiện công việc được
giao tốt hơn, hiệu quả hơn.
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 05/3/2010 của Chính phủ “đào tạo
là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định
của từng cấp học, bậc học; bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao
kiến thức, kỹ năng làm việc”. Với quan niệm đó, ĐTBD nhằm tới các mục tiêu
chính sau:
- Trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện cơng
việc thực tế theo từng vị trí cơng việc, việc làm của CBCC đáp ứng yêu cầu nâng
cao năng lực làm việc hiện tại của cá nhân và tổ chức;
- Trang bị kiến thức, kỹ năng, cách thức làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu
tương lai của vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch của CBCC theo yêu cầu của tổ
chức;
- Trang bị, cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ và cách thức làm việc cần
thiết để giúp CBCC làm quen, thích ứng với vị trí cơng việc, việc làm mới do
luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái, đề bạt.
Như vậy, ĐTBD CBCC nói chung và CBCC cấp xã nói riêng chính là
việc tổ chức những cơ hội cho CBCC học tập, nhằm trang bị kiến thức chuyên
môn nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, cơng vụ. Qua ĐTBD,
giúp CBCC chủ động thích nghi nhanh chóng với yêu cầu đổi mới tổ chức và
hoạt động của hệ thống chính trị trong bối cảnh mới của đất nước góp phần xây
dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại nhằm phục vụ nhân dân ngày một tốt
hơn. Mặt khác qua ĐTBD, CBCC sẽ có cơ hội thăng tiến, phát triển, điều này đã
giúp tổ chức củng cố đội ngũ cán bộ, cơng chức chun nghiệp có đủ năng lực
thực hiện tốt mục tiêu mà tổ chức đề ra.
hơn, là tự mình nêu gương sáng nhất về phẩm chất đạo đức của một “Con
Người” và một cán bộ “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.
16
Người cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của Đảng đối với công tác đào
tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ. Đảng cần phải biết coi trọng, giữ gìn cán bộ
cũ, và tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mới, trọng dụng nhân tài, trọng dụng
cán bộ.
1.2.1.1. Về phẩm chất đạo đức, tư cách cán bộ
Theo Hồ Chí Minh, trước hết cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Cán bộ
phải suốt đời phấn đấu hi sinh cho lý tưởng của Đảng, phải đặt quyền lợi của
Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Cán bộ phải trung thành với Đảng,
với Tổ quốc, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Việc gì có
lợi cho dân dù nhỏ cũng gắng sức làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ cũng hết
sức tránh. Người cán bộ phải có một đời tư trong sáng, phải là tấm gương sáng
trong cuộc sống.
Trong cuốn “Đường cách mệnh”, Người chỉ rõ “tư cách một người cách
mệnh” là tự mình phải: “Cần kiệm. Hịa mà khơng tư. Cả quyết sửa chữa lỗi
mình. Cẩn thận mà khơng nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Hay nghiên cứu xem
xét. Vị công vô tư. Khơng hiếu danh, khơng kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ
chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lịng ham muốn về vật chất. Bí mật”.
Đối với người phải: với từng người thì khoan thứ. Với đồn thể thì
nghiêm. Có lịng bày vẽ cho người. Trực mà khơng táo bạo. Hay xem xét người.
Làm việc phải: xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đốn. Dũng cảm. Phục
tùng đồn thể.
1.2.1.2. Về năng lực chun mơn
Cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân. Muốn thế phải
pháp học tập, những yêu cầu cụ thể đối với người học, người dạy…
Người nhấn mạnh: học để hành, nghĩa là để làm việc chứ khơng phải là để
có bằng cấp, để cho oai và để có chức này chức nọ. Việc giảng dạy, học tập, đào
tạo, huấn luyện phải gắn liền với nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực
18