ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VŨ QUỲNH NHUNG
HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ NANYANG
SINGAPORE VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CHO
THƯ VIỆN TẠ QUANG BỬUĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Hà Nội-2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VŨ QUỲNH NHUNG
HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ NANYANG
SINGAPORE VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CHO
THƯ VIỆN TẠ QUANG BỬUĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
1.1.1. Nhu cầu, mong muốn và yêu cầu ......................................................... 14
1.1.2. Khái niệm về hàng hóa, trao đổi, giao dịch và thị trường ..................... 15
1.1.3. Khái niệm marketing và quản trị marketing ......................................... 16
1.2. Vai trị marketing đối với cơng tác thơng tin, thư viện .......................... 17
1.3. Các khái niệm trong hoạt động marketing thông tin, thư viện ............. 19
1.3.1. Người dùng tin .................................................................................... 20
1.3.2. Nhu cầu tin.......................................................................................... 21
1.3.3. Thị trường thông tin- thư viện ............................................................. 22
1
1.3.4. Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện .............................................. 22
1.3.5. Trao đổi thơng tin ............................................................................... 23
1.4. Q trình marketing trong hoạt động thông tin, thư viện..................... 23
1.4.1. Nghiên cứu marketing ......................................................................... 25
1.4.2. Thiết lập kế hoạch marketing .............................................................. 26
1.4.3. Thực hiện kế hoạch ............................................................................. 27
1.4.4. Kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch .................................................. 27
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA THƯ VIỆN ...................... 28
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ NANYANG – SINGAPORE ................ 28
2.1. Khái quát Thư viện Trường Đại học Công nghệ Nanyang .................... 28
2.1.1. Sơ lược về sự ra đời và phát triển của Trường ..................................... 28
2.1.2. Thư viện Trường trong tiến trình phát triển. ........................................ 29
2.1.3. Vốn tài liệu và cơ sở vật chất của Thư viện ......................................... 35
2.2. Công tác tổ chức hoạt động marketing của Thư viện ............................ 37
2.2.1. Phân đoạn thị trường ........................................................................... 38
2.2.2. Nghiên cứu marketing ......................................................................... 41
2.2.3. Lập kế hoạch marketing theo mơ hình SWOT ..................................... 54
2.2.4. Thực hiện kế hoạch marketing với việc quảng bá và tiếp cận cộng đồng57
2.2.5. Kiểm tra đánh giá hiệu quả công tác marketing ................................... 61
3.3. Một số giải pháp phát triển công tác marketing tại Thư viện Tạ Quang
Bửu trên cơ sở áp dụng mơ hình marketing của Thư viện Đại học Cơng nghệ
Nanyang .......................................................................................................... 81
3.3.1. Thành lập bộ phận marketing chuyên trách ........................................ 81
3.3.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu marketing............. 82
3.3.3. Lập kế hoạch marketing cho Thư viện ................................................ 83
3.3.4. Đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thơng tin- thư viện ................... 87
3.3.5. Đa dạng hóa các hoạt động tiếp cận cộng đồng và quảng cáo,
truyền thông .................................................................................................. 88
3.3.6. Đánh giá hiệu quả và điều chỉnh kế hoạch marketing .......................... 93
3.3.7. Đào tạo kỹ năng marketing cho cán bộ Thư viện ................................. 95
3.3.8. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và tài chính........................ 97
3.3.9. Mở rộng quan hệ hợp tác để phát triển marketing ................................ 97
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 100
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Danh mục các từ viết tắt Tiếng Việt
CDSL:
Cơ sở dữ liệu
ĐHBKHN:
Đại học Bách Khoa Hà Nội
LP:
Library as Place (Không gian Thư viện)
LPD:
Library Promotion Division (Bộ phận Quảng bá Thư viện)
LWNL
Lee Wee Nam Library (Thư viện Lee Wee Nam)
NTU:
Nanyang Technological University
(Trường Đại học Công nghệ Nanyang)
WGWL
Wang Gung Wu Library (Thư viện Wang Gung Wu)
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÊN BẢNG BIỂU
Tr
Bảng 2.8. Những vấn đề cần quan tâm nhất đối với giảng viên
51
Bảng 2.9. Số lượt truy cập tài nguyên điện tử của Thư viện NTU năm học 2008- 62
2009
Bảng 3.1.Thống kê tài liệu truyền thống theo loại hình tại Thư viện TQB
72
Bảng 3.2. Thống kê tài liệu điện tử theo loại hình tại Thư viện TQB
73
Bảng 3.3. Thống kê lượt truy cập các dịch vụ trên Website của Thư viện TQB
76
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu người dùng tin của Thư viện NTU năm học 2008-2009
38
Biểu đồ 2.2. Số lượt người dùng tin đến Thư viện NTU năm học 2008-2009
61
Biểu đồ 3.1. Thành phần các đối tượng người dùng tin tại Thư viện TQB
Ở Việt Nam, trước mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra là đến năm 2020
đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại, nguồn nhân lực chất
lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước là yếu tố then chốt của đổi mới và
hội nhập. Vì vậy, ngành giáo dục và đào tạo đặc biệt là giáo dục đại học đóng một
6
vai trò quan trọng trong việc đào tạo tri thức, bồi dưỡng nhân tài. Trong hệ thống
các trường đại học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN) là trường đại
học đầu ngành về lĩnh vực khoa học và công nghệ, hàng năm đào tạo bồi dưỡng
hàng nghìn kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ, nghiên cứu và đưa vào ứng dụng nhiều cơng trình
khoa học phục vụ cho sự phát triển xã hội và đời sống nhân dân. Trong thời đại
mới, với mục tiêu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vai trò của Trường
ĐHBKHN càng trở nên quan trọng. Trong quá trình nâng cao chất lượng đào tạo và
nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới khơng thể thiếu được vai trị của
thư viện Trường với nhiệm vụ cung cấp nguồn thông tin, tài liệu phục vụ trực tiếp
nhu cầu tin học tập và nghiên cứu của sinh viên, giảng viên và cán bộ nghiên cứu,
quản lý.
Ý thức được điều đó, Thư viện và Mạng thơng tin trường Đại học Bách khoa
Hà nội nay có tên là Thư viện Tạ Quang Bửu (TQB) đã được quan tâm và đầu tư
xứng đáng, trở thành một trong những thư viện đại học lớn nhất miền Bắc. Từ đó
đến nay, Thư viện TQB đã rất tích cực và chủ động trong việc phục vụ thông tin
cho người dùng tin và đóng góp một phần khơng nhỏ cho việc nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo và nghiên cứu của trường.
Tuy vậy, với nguồn lực thông tin dồi dào, cơ sở vật chất hiện đại, Thư viện
TQB vẫn chưa được khai thác triệt để đúng với tiềm năng của nó. Nguồn tin và các
sản phẩm dịch vụ của Thư viện chưa được sử dụng với tần xuất cao mặc dù số
lượng người dùng tin lớn, nhu cầu tin rất phong phú.
Từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu và đẩy mạnh hoạt động marketing
trong hoạt động của Thư viện TQB là một việc làm thiết yếu nhằm góp phần đẩy
Tại Việt Nam, vấn đề “Marketing trong hoạt động thông tin, thư viện” đã
được đề cập đến trong một số bài viết của các tác giả: Trần Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị
Lan Thanh, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Danh Thuận, Trần Thu Thuỷ, Nguyễn Hữu
Nghĩa... Các bài viết này đăng trên các tạp chí: tạp chí Thơng tin và Tư liệu, tạp chí
Văn hố nghệ thuật, tạp chí Thư viện Việt Nam. Nội dung gồm các vấn đề: Các xu
thế, các quan điểm, chiến lược, khả năng ứng dụng marketing trong hoạt động thông
tin, thư viện. Cụ thể là:
Bài báo của PGS, TS Nguyễn Thị Lan Thanh (2002) với tựa đề “Marketing
trong quản lý thư viện và trung tâm thông tin” đề cập đến vấn đề marketing trong
sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức và quản lý hoạt động của thư viện
Tác giả Trần Mạnh Tuấn (2004) trong bài báo “Sản phẩm thơng tin từ góc độ
marketing” đã phân tích và làm rõ khái niệm về sản phẩm, dòng sản phẩm, hạng sản
phẩm, vòng đời sản phẩm trong hoạt động marketing thông tin, thư viện. Nêu 6 vấn
đề cần giải quyết trong mối quan hệ giữa 4 thành tố: người dùng tin- nhu cầu tin8
Nguồn thông tin- Sản phẩm thông tin. Trong bài “Các quan điểm marketing và vấn
đề áp dụng trong hoạt động thông tin- thư viện” tác giả Trần Mạnh Tuấn đã phân
tích và giới thiệu một số quan điểm marketing trong lĩnh vực hoạt động thông tin,
thư viện và nghiên cứu vấn đề áp dụng các quan điểm này của các cơ quan thông
tin, thư viện trong bối cảnh hiện nay.
Thạc sỹ Phan Thị Thu Nga (2005) trong bài viết “Chiến lược marketing đối
với hoạt động thông tin, thư viện” đăng trên Bản tin Thư viện và Công nghệ thông
tin của Trung tâm Thông tin Tư liệu Đại học Đà Nẵng đã nghiên cứu về việc xây
dựng chiến lược marketing và các khuynh hướng áp dụng các chiến lược marketing
hiện đại trong tương lai.
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Nghĩa (2007) trong bài viết “Tiếp thị thư viện qua
mạng Internet” đăng trên Tạp chí Thư viện Việt Nam đã đưa ra các phương pháp
sử dụng Internet để tiếp thị và quảng bá cho thư viện. Tiếp theo đó, tác giả Nguyễn
Hữu Nghĩa có bài viết “Tiếp thị thư viện thời chấm com” đăng trên Tạp chí Thư
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu của đề tài
Đề xuất các giải pháp và cách thức triển khai có hiệu quả marketing nhằm
nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin cho Thư viện TQB.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về marketing và marketing trong hoạt
động thông tin, thư viện.
- Khảo sát thực trạng hoạt động marketing của Thư viện NTU ở Singapore.
- Khảo sát thực trạng hoạt động marketing của Thư viện TQB thuộc ĐHBKHN
ở Việt Nam.
- Đưa ra các giải pháp và cách thức triển khai hoạt động marketing có hiệu quả
phù hợp với điều kiện thực tiễn của Thư viện TQB thuộc ĐHBKHN.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết: hoạt động Marketing của Thư viện TQB còn yếu kém, chưa phát
huy được hết nguồn lực thông tin của Thư viện, chưa đáp ứng nhanh chóng và đầy
đủ nhu cầu thơng tin của người dùng tin. Nếu áp dụng các chiến lược Marketing
phù hợp sẽ nâng cao được hiệu quả phục vụ thông tin, góp phần đẩy mạnh chất
lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1.Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hoạt động marketing của Thư viện NTU ở Singapore.
Hoạt động Marketing của Thư viện TQB Trường ĐHBKHN.
10
5.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: Hoạt động Marketing của Thư viện NTU ở Singapore và
Thư viện TQB tại Trường ĐHBKHN.
Về thời gian: Từ năm 2006 đến nay ( Từ khi Thư viện của ĐHBKHN mang
tên Thư viện Tạ Quang Bửu)
Bách khoa Hà Nội và các giải pháp nâng cao hiệu quả marketing của Thư viện
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ MARKETING VÀ MARKETING
TRONG CÔNG TÁC THÔNG TIN THƯ VIỆN.
1.1. Những khái niệm cơ bản về marketing
Marketing là thuật ngữ có nguồn gốc từ Tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt
là “tiếp thị”. Trong thực tế hiện nay, thuật ngữ “tiếp thị” được dùng để chỉ hoạt
động quảng cáo và chào bán hàng, vì vậy nó không bao quát được hết nội hàm của
khái niệm marketing. Nhiều tài liệu cho rằng nên để nguyên thuật ngữ “marketing’’
để giữ nguyên được ý nghĩa của thuật ngữ. Trong luận văn này, tác giả cũng sử
dụng từ nguyên gốc là “marketing”.
Thuật ngữ này ra đời và được sử dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu thế
kỷ XX. Lúc đó nó chỉ có nghĩa là “bán hàng và quảng cáo” với chức năng duy nhất
của nó là “tiêu thụ sản phẩm” để đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tuy vậy, tiêu thụ không phải là yếu tố quan trọng nhất của marketing, nó chỉ
là một chức năng và đôi khi không phải là chức năng cốt yếu của marketing mà chỉ
là “phần nổi của núi băng marketing” [6, tr. 8]. Nếu các nhà doanh nghiệp khơng
chú trọng tìm hiểu thị trường để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì
sản phẩm của họ sẽ mất dần uy thế cạnh tranh trên thị trường.
Marketing truyền thống bán cho khách hàng cái doanh nghiệp có chứ khơng
phải thứ họ cần, nó tỏ ra khơng cịn thích hợp với nền kinh tế phát triển và tồn cầu
hóa như ngày nay. Ông Peter Drucker, một trong những nhà lý luận nổi tiếng về
quản lý đã nói về vấn đề này như sau: “Mục đích của marketing khơng cần thiết là
đẩy mạnh tiêu thụ. Mục đích của nó là nhận biết và hiểu khách hàng kỹ đến mức độ
hàng hóa hay dịch vụ sẽ đáp ứng đúng thị hiếu của khách và tự nó được tiêu thụ” [6,
Giá trị, chi
phí và sự
hài lịng
Thị trường
Trao đổi, giao
dịch và các
mối quan hệ
Marketing
và người làm
marketing
Làm rõ được những khái niệm này cũng có nghĩa là làm rõ các thành tố tham gia
vào quá trình marketing và mối liên hệ giữa chúng.
1.1.1. Nhu cầu, mong muốn và yêu cầu
Nhu cầu
Ý tưởng cội nguồn, cơ bản của marketing là ý tưởng về nhu cầu của con
người. “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận
được”. [6, tr. 9]
14
Nhu cầu của con người là vô cùng đa dạng và phức tạp. Bao gồm cả nhu cầu
sinh lý đơn thuần cho đến những nhu cầu về mặt tình cảm, xã hội. Những nhu cầu
này không phải đến từ bên ngồi mà là bản tính ngun thủy của con người.
Mong muốn
“Mong muốn là một nhu cầu có dạng đặc thù, tương ứng với trình độ văn
một phương thức có nhiều ưu điểm. Qua phương thức này, con người không xâm
phạm đến quyền lợi của người khác, không cần phải tự tay làm ra một thứ gì đó
ngay cả khi khơng biết làm mà chỉ cần tập trung sản xuất hàng hóa mình thơng thạo
rồi đem trao đổi.
Giao dịch
Nếu như trao đổi là một khái niệm cơ bản của khoa học marketing thì đơn vị
đo lường cơ bản trong lĩnh vực marketing là giao dịch. “Giao dịch là một cuộc trao
đổi mang tính chất thương mại những vật có giá trị giữa hai bên”
Thơng thường những điều kiện của giao dịch được pháp luật quy định nhằm
bảo vệ quyền lợi của cả hai bên.
Thị trường
Khái niệm giao dịch dẫn tới khái niệm thị trường, vì các giao dịch được thực
hiện trên thị trường.
Thị trường là tập hợp những người mua hàng hiện có và sẽ có. Trong một xã
hội phát triển, thị trường không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể nơi người
mua và người bán gặp nhau và thực hiện các giao dịch. Các cuộc giao dịch có thể
được thực hiện thơng qua internet, điện thoại, bưu điện…Thị trường có thể hình
thành cho một thứ hàng hóa, dịch vụ nào đó hay cho một đối tượng có giá trị.
1.1.3. Khái niệm marketing và quản trị marketing
Khái niệm thị trường đưa ra đến khái niệm kết thúc chu trình- marketing.
“Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và
tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào
hàng và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người kia” [6, tr. 11]. Hay nói cách
khác, marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu
và mong muốn thông qua trao đổi. Nền tảng của hoạt động marketing là những việc
như tạo ra hàng hóa, khảo sát, thiết lập quan hệ giao dịch, tổ chức phân phối, xác
định giá cả, triển khai dịch vụ.
Để thực hiện được những q trình trao đổi địi hỏi phải tốn rất nhiều cơng
sức và trình độ chun mơn. Quản trị marketing diễn ra khi ít nhất có một bên trong
cuộc trao đổi suy tính về những mục tiêu và phương tiện để đạt được những phản
nguồn tin và phục vụ nhu cầu tin. Nhiệm vụ của thư viện là thực hiện tốt quá trình
chuyển giao thơng tin đến người dùng tin, tạo điều kiện cho người dùng tin tái sản
xuất ra thông tin, từ đó phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây chính là lý do tồn tại
của các cơ quan thông tin, thư viện.
Tuy nhiên, thư viện ngày nay không còn xuất hiện đầu tiên trong suy nghĩ
của mọi người khi họ cần tìm một thơng tin nào đó. Trong xã hội thơng tin ngày
nay, thư viện khơng cịn là nơi lưu trữ và phổ biến thông tin duy nhất, họ đang phải
17
đối đầu trong một cuộc cạnh tranh gay gắt để giành lại khách hàng. Nếu khơng tiếp
tục duy trì được tần suất người dùng tin và phát triển nó, thư viện sẽ mất đi lý do để
tồn tại.
Một lý do khác để các thư viện phải quan tâm tới marketing là hình ảnh của
họ trong mắt người dùng tin- khách hàng. Các thư viện ngày nay cần phải tìm nhiều
cách thức hiệu quả hơn để người dùng tin hiểu rõ về mình và từ đó thu hút được
người dùng tin đến thư viện. Người dùng tin thường phải tự tìm đến thư viện khi họ
cần, nhưng đôi khi họ không biết nên đến thư viện nào cho thích hợp. người dùng
tin cũng không biết rằng nguồn tin trong thư viện hữu ích và có giá trị hơn những
nguồn tin khác như thế nào. Các thư viện cần chủ động tìm tới người dùng tin và
cho họ biết mình đang có những gì có thể giúp ích cho họ. Cải thiện được hình ảnh
thư viện là một nhiệm vụ khó khăn. Chính vì thế, các thư viện trong thế giới cạnh
tranh cần đến một công cụ đắc lực- marketing.
Nằm trong mạng lưới các cơ quan thông tin- thư viện, các thư viện, trung
tâm thông tin thư viện, trung tâm học liệu của các trường đại học là nơi có nhiệm vụ
đáp ứng nhu cầu thông tin của cán bộ, giảng viên, sinh viên trong trường, góp phần
hồn thành mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà trường. Các thư viện đại học cũng
rất cần phải tiến hành xây dựng chương trình marketing thơng tin, thư viện vì những
ngun nhân sau:
- Hiệu quả sử dụng và khai thác nguồn lực thông tin tại các thư viện đại học
nhau về marketing trong thơng tin, thư viện.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ thư viện học ALA: “Marketing thông tin,
thư viện là tất cả các hoạt động có mục đích cổ vũ cho sự trao đổi và đáp ứng giữa
nhà cung cấp dịch vụ thư viện và truyền thông với những người đang sử dụng hoặc
sẽ sử dụng những dịch vụ này”. [1, tr. 127]. Định nghĩa trên đã nhấn mạnh các khía
cạnh của marketing thông tin, thư viện trong việc quảng bá, cung cấp, đáp ứng nhu
cầu của người dùng tin. Theo Từ điển thuật ngữ xuất bản, in, phát hành sách, thư
viện, bản quyền: “Marketing nghĩa là việc quản lý, phối hợp hoạt động của tất cả
các bộ phận, chu trình kỹ thuật của thư viện nhằm thỏa mãn tối đa mọi nhu cầu tin
của người dùng tin; nhằm giải quyết linh hoạt, kịp thời những vấn đề xuất phát từ
người dùng tin; đánh giá kết quả hoạt động của các chu trình kỹ thuật thư viện và
kịp thời thay đổi mục tiêu nếu thấy cần thiết; nhằm đạt hiệu quả cao hơn như: vòng
quay tài liệu tăng và số lượng người đọc tăng; tạo ra nhận thức xã hội: thư viện rất
hữu ích và cần thiết cho cuộc sống của mỗi thành viên trong xã hội’’ [3, tr. 237].
Định nghĩa này khá chi tiết, thể hiện được vai trò, nhiệm vụ của marketing trong
thông tin, thư viện.
19
Theo Suzanne Walters, “Marketing là những hoạt động tạo ra các sản phẩm
thư viện cho người dùng tin. Nó khơng chỉ là quảng cáo hay quan hệ cơng chúng.
Nó bao gồm nghiên cứu thị trường, phân tích tiềm năng, các chương trình hiện có
và các dịch vụ, thiết lập mục tiêu và đối tượng, sử dụng khả năng thuyết phục trong
giao tiếp. Nói cách khác, marketing là những gì bạn làm hàng ngày để khách hàng
đánh giá cao những gì bạn đã làm cho họ và bạn làm điều đó như thế nào” [40]
Những định nghĩa trên có cách tiếp cận khác nhau để giải thích khái niệm
marketing, những cuối cùng đều hướng đến một mục tiêu cuối cùng của marketing
là làm thỏa mãn tối đa nhu cầu của người dùng tin. Đây cũng chính là sứ mệnh của
các trung tâm thông tin, thư viện. Nếu các cơ quan thông tin, thư viện được coi là
một tổ chức kinh doanh, thì nguồn ngun liệu đầu vào là thơng tin, sản phẩm đầu
thông tin mới cho xã hội.
Mọi khách hàng sử dụng thơng tin đều có nhu cầu tin, mỗi nhóm người dùng
tin khác nhau có nhu cầu tin khác nhau phụ thuộc vào học vấn, năng lực, đặc điểm,
sở thích, lứa tuổi, chun mơn…Xác định nhu cầu tin của từng nhóm người dùng
tin chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của marketing thông tin, thư viện.
1.3.2. Nhu cầu tin
Nhu cầu tin là một loại nhu cầu, mong muốn khách quan của con người, có
thể là một cá nhân, một nhóm hoặc một tập thể nào đó đối với việc tiếp nhận và sử
dụng thơng tin, nhằm thực hiện một hoạt động khác. Hoặc, nhu cầu tin là cách thể
hiện sự cần thiết nhận thông tin của bất kỳ cá nhân, tập thể hoặc một hệ thống về
một vấn đề nào đó phù hợp với hành vi, công việc mà họ đang làm.
Như vậy, nhu cầu tin của con người hình thành do chủ quan và chịu tác động
bời hoàn cảnh khách quan. Về mặt chủ quan, nhu cầu tin xuất phát từ hoạt động
sống, vai trò, nhiệm vụ và đặc điểm hành vi của mỗi con người. Mỗi người có một
đặc điểm xã hội khác nhau phụ thuộc vào giới tính, nghiệp, tâm sinh lý, nhân cách,
trình độ văn hóa, hồn cảnh kinh tế, tình cảm, hành vi của mỗi cá nhân. Vì vậy, nhu
cầu tin rất đa dạng, phong phú và thay đổi theo thời gian.
Về khách quan, nhu cầu tin là loại nhu cầu tinh thần của con người trong xã
hội, được hình thành và phát triển trong xã hội nên mang tính xã hội một cách sâu
sắc. Các yếu tố môi trường xã hội gây ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu tin là: Các
vấn đề chính trị xã hội; Mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân; Mức độ phát
triển của Khoa học kỹ thuật; Giá cả của sản phẩm thơng tin. Trong một xã hội ổn
định về chính trị, mức độ phân cơng lao động sâu sắc thì nhu cầu trao đổi thơng tin
càng lớn. Nền văn hóa càng phát triển, giao lưu và tiếp biến văn hóa càng mạnh mẽ
thì nhu cầu tin ngày càng tăng. Cũng như vậy, nếu kinh tế, khoa học kỹ thuật phát
triển thì nhu cầu tin cũng sẽ ngày càng phát triển.Tuy vậy, nếu giá cả của thông tin
21
và các sản phẩm thông tin qua cao so với mức sống và thu nhập thì nhu cầu tin sẽ có
Dịch vụ thơng tin, thư viện là hoạt động của các cơ quan thông tin, thư viện
nhằm mục đích phục vụ nhu cầu thơng tin cho người dùng tin. Dịch vụ thông tin,
22
thư viện thường gắn bó chặt chẽ với các sản phẩm, là phương tiện để phân phối sản
phẩm hoặc giúp người dùng tin tìm đến với sản phẩm thơng tin. Có thể định nghĩa
dịch vụ thơng tin thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông
tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thơng tin thư viện nói
chung. Các dịch vụ thư viện bao gồm: tìm tin theo mục lục truyền thống hoặc hiện
đại, dịch vụ tư vấn thông tin, dịch vụ hướng dẫn bạn đọc sử dụng thư viện, dịch vụ
cho mượn, copy tài liệu, dịch vụ tuyên truyền và phổ biến thông tin, dịch vụ cung
cấp thông tin chọn lọc...Các dịch vụ thông tin thư viện được tiến hành dựa trên
nguồn lực đã có của các thư viện, đặc biệt là các sản phẩm thông tin thư viện.
Khác với các dịch vụ khác, dịch vụ thông tin, thư viện mang ý nghĩa xã hội
sâu sắc, đem lại giá trị gia tăng cao cho người sử dụng, góp phần phát triển khoa
học công nghệ và kinh tế- xã hội.
1.3.5. Trao đổi thông tin
Trong lĩnh vực thông tin, thư viện, trao đổi diễn ra khi có hai bên, một bên có
sản phẩm và dịch vụ mà bên kia cần, còn bên kia có nhu cầu sử dụng và khả năng
thanh tốn cho những sản phẩm dịch vụ đó. Trong trao đổi thương mại, người bán
nhận được tiền hoặc thứ gì đó tương đương, nhưng trong trao đổi thơng tin thì
khơng phải lúc nào cũng như vậy, có thể thấy trong trao đổi thơng tin có hai phương
thức cơ bản
- Trao đổi thương mại: người dùng tin nhận sản phẩm dịch vụ mà họ yêu cầu
và phải chi trả lệ phí cho cơ quan thông tin, thư viện theo giá cả mà hai bên đã thỏa
thuận.
- Trao đổi phi thương mại: người dùng tin đến sử dụng sản phẩm dịch vụ mà
họ u cầu hoặc mong muốn có được nhưng khơng phải trả tiền.
Như vậy, việc trao đổi thông tin không nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc