TÀI LIỆU ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
TỪ TRUNG CẤP LÊN CAO ĐẲNG NGÀNH QUÂN SỰ.
I:LỊCH SỬ VĂN HỌC:
Câu 1: Trình bày tóm tắt những đặc điểm cơ bản của văn học Việt
Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975
a. Văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với
vận mệnh chung của đất nước:
+ Khuynh hướng tư tưởng chủ đạo là tư tưởng cách mạng, văn học là vũ khí
phục vụ sự nghiệp cách mạng.
+ Tập trung vào đề tài Tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
+ Nhân vật trung tâm là người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang.
b.Nền văn học hướng về đại chúng:
+ Đại chúng vừa là đối tượng phản ánh chủ yếu vừa là nguồn cung cấp, bổ
sung lực lượng cho sáng tác văn học.
+ Hình tượng chính của văn học giai đoạn này là hình tượng người chiến sĩ,
người lao động, hình tượng quần chúng với tư tưởng và tư thế mới của người
làm chủ cuộc sống.
+ Các hình thức biểu hiện gần gũi, quen thuộc với đại chúng, ngôn ngữ trong
sáng.
c. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
+ Khuynh hướng sử thi:
~ Văn học phản ánh những sự kiện, những vấn đề có ý nghĩa lớn lao, tập trung
thể hiện chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng.
~ Nhân vật chính thường là những con người tiêu biểu cho lí tưởng chung của
dân tộc, kết tinh phẩm chất cao quý của cộng đồng, gắn bó số phận mình với số
phận của đất nước.
~ Lời văn mang giọng điệu trang trọng, hào hùng, thiên về ngợi ca, ngưỡng mộ.
+ Cảm hứng lãng mạn: chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương
diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ
nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
- Mọi vấn đề chính tri, mọi sự kiện của đời sống cách mạng đều trở thành nguồn
cảm hứng nghệ thuật, tạo sự thống nhất giữa tuyên truyền cách mạng và cảm
hứng trữ tình.
- Nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn.
b. Thơ Tố Hữu gắn liền với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- Tập trung thể hiện ở những vấn đề lớn lao, trọng đại của cách mạng, dân tộc.
- Nhân vật trữ tình tập trung những phẩm chất của giai cấp, của dân tộc mang
tầm vóc thời đại, lịch sử.
- Thơ ln hướng tới tương lai, khơi dậy niềm tin tưởng lạc quan vào sự nghiệp
tất thắng của dân tộc.
c.Thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, tha thiết- giọng của tình
thương mến.
- Nhiều vấn đề chính trị, cách mạng đã được thể hiện như những vẫn đề của tình
cảm mn đời.Lối xưng hô thân mật.
- Chất giọng Huế ngọt ngào.
- Quan niệm của Tố Hữu về thơ: thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói
đồng chí.
d.Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc:
Câu 5: Hãy nêu hồn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử của bản Tuyên ngôn
độc lập (Hồ Chí Minh).
Hồn cảnh ra đời
- Ngày 19/08/1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân. Ngày 26/08/1945, Hồ
Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội và tại căn nhà số 48
phố Hàng Ngang, Người đã soạn “Tuyên ngôn Độc lập”.
- Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Người đã đọc bản “Tun ngơn
Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- “Tun ngơn Độc lập” ra đời trong một tình thế vô cùng cấp bách : nền độc lập
vừa mời giành được bị đe dọa bởi các thế lực phản động, bọn đế quốc thực dân
đang chuẩn bị chiếm lại nước ta: tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dân đảng
lên thành tình yêu nhân loại “Thương người như thể thương thân”, nó mang giá
trị nhân đạo.
Như vậy tình thương là hạnh phúc của con người rất đúng. Bản thân tơi
lựa chọn cho mình phương châm sống này, sống có đạo đức, có nhân cách và
hành động vì tình thương.
Bên cạnh những con người sẵn sàng hi sinh mình, sống vì tình thương,
trách nhiệm cịn có những con người sống thờ ơ, vơ cảm, thiếu tình thương yêu,
không biết quan tâm, chia sẻ, đồng cảm, giúp đỡ người khác, sống mang tính
chất cá nhân.
Tình thương là một lẽ sống cao đẹp của con người, đúng như nhận định
“giá trị cao đẹp nhất của con người là tình thương”, nó vượt lên trên tất cả, nó
có một sức mạnh vơ hình để kết nối giữa người với người, giữa các dân tộc với
nhau. Để tình thương thật sự trở thành hạnh phúc của con người, mỗi chúng ta
phải biết vươn lên tìm thấy niềm vui của mình trong hạnh phúc của người khác.
Đề 2: : Hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của bản
thân ý kiến sau: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan
trọng và cần thiết như ca ngợi lịng vị tha, tình đồn kết”
Cố nhạc sĩ Trịnh Cơng Sơ có ca từ nổi tiếng “Sống trên đời sống cần có
một tấm lịng, để làm chi em có biết khơng?”. Trong cuộc sống xung quanh ta
ln có nhiều người tốt nhưng cũng có những kẻ khơng tốt. để xây dựng một
cuộc sống tươi đẹp, chúng ta cần đấu tranh chống lại những thói xấu chứ khơng
đơn thuần ca ngợi bản tính tốt đẹp của con người. Cho nên mới có ý kiến : “Phê
phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết
như ca ngợi lịng vị tha, tình đồn kết”.
Và những biểu hiện của thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người như:
Trong một gia đình với nhau ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, không quan
tâm đến tình cảm vui buồn của nhau, khơng quan tâm đến vật chất lẫn tinh thần
của người thân.
mong xã hội văn minh phát triển và “ Người với người sống để yêu thương
nhau”.
Đề 3: : Hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) trình bày ý kiến của mình về
hiện tượng “nghiện” Intern trong nhiều bạn trẻ hiện nay.
Trong suốt dòng lịch sử của con người, đã có những con người phải vất
vả chống lại thói nghiện ngập, nào là nghiện rượu, nghiện ma túy, cũng như
những thói quen khơng thể bỏ được, chẳng hạn như bài bạc. Giờ đây các nhà
tâm lí học ở nhiều quốc gia lại lưu ý đến một tình trạng khẩn cấp phải đối phó
với một chứng tật ham mê, đó là nghiện Internet.
Nghiện là gì? Nó là một yếu tố kích thích vào làm gây hưng phấn thần
kinh, lâu dần thành một thói quen khơng thể kiểm sốt nổi và nó trở thành tác
hại cho sức khỏe và cả tính mạng.
Và nghiện Internet là say mê với thế giới ảo qua máy vi tính. Những kiểu
bệnh chính của nghiện Internet là tình dục qua máy tính, chơi game online, đánh
bạc trực tuyến, thậm chí là nghiện vào trang đấu giá trực tuyến e Bay…
Đối với giới trẻ hiện nay, nghiện Internet chủ yếu là nghiện chơi game
online.
Những biểu hiện của nghiện Tnternet, các bạn quên cả thời gian, sao lãng
chuyện ăn uống mà đặc biệt là mất ngủ. Trạng thái tâm lí lúc nào cũng căng
thẳng, túc giận, khi thì bồn chồn vì khơng thể lên mạng. Đơi khi biểu hiện của
các bạn ít nói, khơng giao tiếp, dẫn đến trầm cảm hay nổi nóng và tách biệt
mình ra khỏi xã hội này.
Hiện nay, ở tại Trung Quốc có 13,7% trẻ, tức là hơn mười triệu trẻ em
đang nghiện Internet. Số liệu từ các trung tâm cai nghiện Internet cũng cho biết
hiện nay có khoảng 5-10% dân số nước Mĩ bị chứng bệnh này. Như vậy trên
khắp các nước ở đâu cũng có chứng bệnh nghiện Titernet mà nguyên nhân từ
đâu?
Nguyên nhân các bệnh nghiện thường rất giống nhau. Do bản thân của
chúng ta thiếu tự chủ, bị các trị chơi trực tuyến lơi cuốn, thời gian đầu chỉ thử
và brom đang phs thủng tầng ơ-zơn khiến tia có hại từ mặt trời có thể gây nhiều
bệnh như ung thư da.
Đất bị ô nhiễm do chất thải công nghiệp, nhiều vùng bị sa mạc hóa do
hiệu ứng nhà kính và nạm phá rừng,diện tích sản xuất cây lương thực sẽ bị thu
hẹp. Săn bắt thú hoang và nạn phá rừng cũng bị thu hẹp địa bàn sinh sống của
muôn thú và thảm thực vật, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái, lũ lụt và hạn hán
sẽ xảy ra bất thường. Bên cạnh đó nguồn nước của chúng ta cũng khơng cịn
trong sạch.
Nguồn nước bị ơ nhiễm do chất thải của các nhà máy, của cách sinh hoạt
bừa bãi khiến cho các sinh vật bị tận diệt; nước ngầm khai thác quá mức đến
mức báo động. Một số vùng dân cư ở châu Phi bị thiếu nước trầm trọng. Nguồn
nước sinh hoạt không đủ và kém chất lượng là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh
tật. Theo ytecongcong.com, từ trong các nước kém phát triển, một phần ba
trường hợp tử vong và bệnh tật là kết quả trực tiếp của các ngun nhân từ mơi
trường.
Tóm lại, ơ nhiễm và suy thối mơi trường đang đe dọa tính mạng của dân
chúng tồn cầu và đang làm giảm tuổi thọ của hành tinh xanh. Bỡi vậy chúng ta
phải có biện pháp khắc phục và hành động bảo vệ. Ơ nhiễm mơi trường đây là
một vấn đề hệ trọng trở thành chủ trương- chương trình hành động của cá quốc
gia và tồn thế giới, tuy vậy nó vẫn phải được thực hiện bỡi từng thành viên,
từng bộ phận trong cộng đồng. Và kêu gọi mỗi cá nhân phải có ý thức khơng xả
rác bừa bãi. Không sử dụng các sản phẩm được khai thác từ thiên nhiên nếu
chưa được phép. Và bản thân tôi ý thức góp phần làm xanh, sạch đẹp mơi
trường ngay ở nhà của mình, nơi cơ quan làm việc hay trong thơn xóm, hay
những nơi cơng cộng…
Vậy ơ nhiễm mơi trường là một trong những vấn đề hết sức cấp bách hiện
nay, chúng ta những thế hệ trẻ- chủ nhân tương lai của đất nước khgoong thể
làm ngơ trước những hiện tượng này. Bằng mọi cách hãy hành động bảo vệ môi
trường, bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chúng ta.
năng lực tiềm tàng, không ngừng vươn lên trên khart năng bản thân, đạt được
những thành tựu kì diệu, trong học tập, nghiên cứu, kinh doanh, lao động…Nhờ
có lý tưởng mà trong q trình thực hiện khiến con người ta có lối sống đẹp và
nhân cách đẹp, loại được nhiều thói quen xấu. Nhờ có lý tưởng mà bản thân tơi
có được một cuộc sống giàu ý nghĩa, đóng góp nhiều cho xã hội, gia đình và
bản thân, thấy đời đáng quý hơn, đẹp hơn. Khi xây dựng lý tưởng chúng ta
không nên xác định là lý tưởng quá xa vời hay ảo tưởng. Và bản thân tơi xác
định câu nói lý tưởng là lối sống tích cực lấy đó làm kim chỉ nam để thực hiện
mọi cơng việc, có như vậy cuộc sống mới có ý nghĩa. Bên cạnh những tấm
gương sống có lý tưởng thì có những người sống khơng có lý tưởng khơng có
mục đích đáng lên án phê phán.
Đúng như Bê-lin-ski nói “Tuổi trẻ khơng có lý tưởng như tuổi trẻ khơng
có mặt trời”, nghĩa là lý tưởng sống tất yếu phải có trong mỗi người trẻ, khơng
có lý tưởng sống sẽ khơng có cuộc sống thật sự. Vấn đề lý tưởng hết sức quan
trọng đối với tuổi trẻ, nó là hành trang cho chúng ta vào đời.
III: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề 1: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc
thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu sinh (1930-1989), là cây bút tiên phong của văn học
Việt Nam sau đổi mới. Ông “thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh
và tài năng nhất của văn học ta hiện nay” (Ngun Ngọc), sau 1975 ngịi bút của
ơng chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lý nhân
sinh. Ông nổi tiếng cả tiểu thuyết và truyện ngắn nhưng bạn đọc đón nhận nhiều
nhất là truyện ngắn với những tác phẩm như Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê,
người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành…Mà đặc biệt là truyện ngắn Chiếc
thuyền ngoài xa, truyện ngắn được viết vào tháng 8 năm 1983, in trong tập
truyện cùng tên, là một tác phẩm tiêu biểu của ông sau 1975. Tác phẩm ra đời
trong bối cảnh đất nước thống nhất, tác phẩm có xu hướng hướng nội, khai thác
Và chị cũng là người đàn bà có ngoại hình bất hạnh, ấn tượng đầu tiên chị
bước ra từ chiếc thuyền đánh cá là những nét khắc khổ trong số phận hiện lên
trên khuôn mặt, người đàn bà hàng chài xấu xí tàn tạ “trạc ngồi 40 tuổi, thân
hình cao lớn, đường nét thơ kệch, mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm
thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Vì cuộc đời nhọc
nhằn, lam lũ, vất vả đau khổ làm cho diện mạo của chị đã xấu giờ trở nên thơ
kệch. Nhưng bù lại chị có một tính cách, phẩm chất tuyệt vời. Chị là một người
đàn bà cam chịu, nhẫn nhục, trước những trận đòn của chồng “Lão rút trong
người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng, lão
trút cơn giận như lửa cháy, quật tới tấp lên lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa
thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến vào nhau ken két, cứ mỗi nhát quất xuống
lão lại nguyễn rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn “Mày chết đi cho ông nhờ,
chúng mày chết hết đi”. Cứ như thế “Ba ngày là một trận nhẹ, năm ngày là một
trận nặng”, khi bị đánh chị cũng không chạy trốn, không chống trả, không một
tiếng kêu la mà coi đó là một lẽ đương nhiên. Người đàn bà cam chịu nhẫn nhục
thầm lặng, chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đừa con, chị khơng muốn
chúng nó nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ, chị xin chồng lên bờ mà đánh khi các
con lớn, chị xót xa đau đớn khi chứng kiến cảnh thằng Phác đánh cha: “Như
một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ xuyên qua tâm hồn người đàn
bà và làm rỏ xuống những giọt nước mắt..”
Bằng một vài chi tiết chọn lọc, nhà văn đã gợi ra bao điều đau xót về bi
kịch cuộc đời của một người phụ nữ cực khổ, lam lũ, bất hạnh. Số phận là thế
nhưng chị sống rất sâu sắc, giàu lòng tự trọng, từng trải, thấu hiểu lẽ đời. Chị
được mời đến tòa án huyện để giải quyết việc gia đình, lúc đầu chị rụt rè, sợ sệt,
lúng túng, khi đến một không gian lạ, chị thật tội nghiệp rồi chị van xin “Xin
các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu” “Q tịa bắt tội con cũng được, phạt tù
con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Trước những lời của Đẩu thân mật,
chia sẻ, cảm thông, người phụ nữ đã tâm sự “Ông trời sinh ra người đàn bà là để
đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn” và trong cuộc sống mưu sinh chị cần
một người đàn ông khỏe mạnh để làm chỗ dựa chèo chống khi phong ba bão táp
bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh. Qua nhận vật người đàn bà hàng chài
NMC khẳng định sự lam lũ, vất vả, nhọc nhắn không làm mất đi nhân phẩm
của người phụ nữ miền biển nói riêng, người phụ nữ Việt Nam nói chung, tấm
lịng u thương, bao dung, nhân hậu, vị tha và nhìn vào những ngơi nhà nào
hạnh phúc thì ở đó có người phụ nữ biết hi sinh và hiện thân đó có lần Tố Hữu
cũng đã nói.
Nhẫn nại ni con, suốt đời im lặng
Biết hi sinh nên chẳng nhiều lời
Bằng nghệ thuật tạo tình huống truyện, biện pháp đối lập giữa hồn cảnh
và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn, đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp,
ttam lí đầy mâu thuẫn của con người. Qua nhân vật người đàn bà hàng chài nhà
văn đã có cái nhìn mới mẻ về con người. Ông đã khai thác số phận cá nhân và
thân phận con người đời thường để phát hiện những nét đẹp trong con người
bình thường ấy và nâng lên quan niệm trong sáng tác văn học để đi tìm những
hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người. Bằng tài năng của một cây bút
giàu bản lĩnh, tác giả ssax đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống. Nạn
bạo hành trong gia đình, sự ghèo đói, sự thất học, sự tha hóa về nhân cách…
những ngang trái nghịch lý của cuộc sống, qua nhân vật người đàn bà hàng chài
như một hồi chuông lay tỉnh chúng ta, hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn và cũng
qua đó ta cũng nhận ra khơng thể dễ dãi đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự
vật, hiện tượng của cuộc sống, khơng thể có cái nhìn một chiều phiến diện với
con người và cuộc sống. Tác phẩm của NMC có đóng góp mới mẻ vè nội dung
tư tưởng, về đề tài và làm nên một phong cách nghệ thuật rất riêng.
Đề 2: Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng Đất Nước qua đoạn thơ sau của Nguyễn
Khoa Điềm:
“ Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
nhà lịch sử nghiên cứu, khám phá đất nước qua từng giai đoạn hình thành, thời
gian phát triển để đưa ra một cách nhìn khách quan về Đất Nước thì các nhà
thơ, nhà văn học ln tìm hiểu, khám phá Đất Nước từ mạch ngầm văn hóa, từ
những truyền thống tốt đẹp, NKĐ cũng góp vào đó một bản trường ca mà qua
đoạn trích này người đọc cũng hiểu được Đất Nước qua những nét tiêu biểu
trong dòng chảy của thời gian
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nuước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Tác giả đã tách “ Đất”, “Nước” thành một chủ ngữ rồi kết hợp với từ anh, em để
trở thành một đại từ nhân xưng. Nhà thơ đã tách ra và kết hợp lại trở thành danh
từ được ghép lại Đất Nước. Đất Nước là nơi có con đường đến trường, nơi có
bến sơng, nơi có lứa đơi u nhau hị hẹn tương tư qua hình ảnh của “chiếc khăn
trong nỗi nhớ thầm” mà nhà thơ đã mượn trong ca dao “Khăn thương nhớ ai?
Khăn rơi xuống đât”đã làm cho bao trái tim trẻ thương nhớ bâng khuâng, gợi ra
không gian khung cảnh cụ thể, thân quen gần gũi nhưng khơng kém phần đẹp
đẽ, thơ mộng. Đó là không gian sinh tồn qua bao thế hệ. Đất nước ln gắn bó
với anh và em trong suốt cuộc đời, khi lớn lên nhiều mảnh đất trở thành kỉ
niệm. Do đó đất nước gắn liền với chiều sâu của mỗi tâm hồn. Đât nước sẽ mở
rộng ra và lớn lên mãi, theo mỗi cuộc đời lúc ban đầu là ngôi nhà, con đường,
bến sông và xa hơn nữa là không gian rộng lớn với núi sông, rừng biển:
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hồng bay về hịn núi bạc”
Hai câu thơ mượn lời câu ca Bình Trị Thiên đã mở ra một không gian
đẹp, thơ mộng, bát ngát, tráng lệ, huy hoàng vừa thân quen cụ thể vừa lãng mạn
bay bổng như trong huyền thoại. Viết về phong cảnh non sơng gấm vóc giàu có
ấy nhà thơ đã bộ lộ một tình yêu thương đất nước say đắm và luôn hướng về cội
q hương đất nước sâu sắc của nhà thơ và gởi gắm vào đó ý thức trách nhiệm
của mỗi người về đất nước. Đoạn thơ cũng gợi cho tơi tình u q hương đất
nước, tự hào về đất nước mà yêu nhất là ngay trên q hương của mình. Tác
phẩm của NKĐ có đóng góp xuất sắc về nội dung tư tưởng, về đề tài và làm nên
một phong cách nghệ thuật rất riêng của ông.
Đề 3: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
“ Dốc lên khúc khủy dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
(Ngữ Văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008)
Viết về người lính có rất nhiều nhà văn, nhà thơ thành cơng như Chính
Hữu, Nguyễn Minh châu, Nguyễn Quang Sáng…mà tiêu biểu nhất là Quang
Dũng. Quang Dũng Là một nghệ sĩ đa tài, vẽ tranh, soạn nhạc. Ở bất cứ lĩnh vực
nghệ thuật nào ngòi bút của Quang Dũng cũng thể hiện được sự tài hoa và lãng
mạn, đặc biệt đến với thơ ca, hồn thơ của ơng phóng khống, hồn hậu, hào hoa
và lãng mạn, với không gian của thơ ca, mỗi sáng tạo của ông đều làm cho
người đọc say mê. Và Tây Tiến là một bài thơ tiêu biểu cho thơ ca thời kì kháng
chiến chống Pháp, bài thơ được viết năm 1948, tại PHù Lưu Chanh, lúc đó
Quang Dũng rời xa đơn vị cũ- Tây Tiến được một năm, nhớ về đồng đội cũ, nhớ
về mảnh đất miền tây một thời gắn bó nên ơng làm bài thơ này. Bài thơ lúc đầu
có tên nhớ Tây Tiến về sau đổi lại thành Tây Tiến, bài thơ được in trong tập
thướclên lên cao, ngàn thước xuống” rồi thả xuống độ sâu hun hút của con
đường gợi cảm giác vô cùng hiểm nguy. Nhờ sử dụng thanh trắc phối hợp với từ
láy tượng hình và âm hưởng thơ , tác giả đã miêu tả thế núi trập trùng cheo leo,
ghềnh thác hiểm trở, những dãy núi như dựng đứng xếp chồng lên nhau, tựa
lưng vào nhau. Đồng thời với thủ pháp nghệ thuật thậm xưng của bút pháp lãng
mạn đã đẩy lên đến tận cùng cái hiểm trở của thiên nhiên. Hình ảnh súng ngửi
trời diễn tả độ cao tột cùng của đỉnh đèo, vừa diễn tả nét tinh ngịch, hồn nhiên
của lính và niềm vui của người được ngắm cảnh đẹp phía dưới. Âm hưởng thơ
khơng chỉ miêu tả được khơng gian thế núi, đường đèo mà còn điễn tả hơi thở
nặng nhọc của người chiến sĩ.
Sang câu thơ thứ tư, “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” tác gỉả dùng toàn thanh
bằng như tiếng thở phào nhẹ nhõm của chiến sĩ khi dừng lại ở lưng chừng đèo,
phóng tầm mắt ra xa để chiêm ngưỡng cảnh bát ngát dười núi. Câu thơ gợi cảm
giác êm nhẹ, mở ra một không gian mênh mang, xa xa những ngôi nhà như ngủ
mơ màng trong màn mưa. Cảnh thơ có một vẻ đẹp êm ả, thơ mộng, thanh bình
khác với cảnh thơ trên.
Đây là bốn câu thơ tả cảnh đặc sắc, giàu chất hội họa của Quang Dũng.
Bằng ngôn ngữ giàu giá trị tạo hình và có âm hưởng, tác giả đã dựng lên bức
tranh thiên nhiên núi đèo thật hùng vĩ, lạ lẫm và kì thú nhưng cũng thật hoang
vu, hiểm trở, dữ dội, khắc nghiệt. Con đường hành quân vì thế vừa hấp dẫn thi
vị vừa nguy hiểm gian nan. Cái tài hoa của ngòi bút là tác giả chú tâm tả cảnh
nhưng vẫn gợi được trạng thái tinh thần và sức khỏe của chiến sĩ gợi cho chúng
ta liên tưởng đến hình tượng người lính trong thơ của Tố Hữu
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh doocas cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo
Những câu thơ trên đã mở ra chiều cao, chiều sâu và chiều rộng của không gian
linh hồn của cảnh. Khó khăn là thế nhưng nét lạc quan, vui vẻ của người lính
vẫn chẳng thể mất dọc suốt hành trình.
Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Lần thứ hai trong bài thơ nhà thơ gọi tên đơ vị Tây Tiến của mình là “ Nhới ơi
Tây Tiến”, phải chăng nhớ q những gian khổ, những kỉ niệm gắn bó với các
đồng đội của mình nên Quang Dũng mới thốt lên như vậy, “ Nhớ ơi” từ cảm
tnans mang một tình cảm dạt dào và hình ảnh “cơm lên khói”, phải chăng sau
chặng đường hành quân mệt mỏi, các chiến sĩ có dịp dừng chân ở lại một bản
làng rất đỗi thương u- Mai Châu, nơi có các cơ thiếu nữ xinh xắn mang cơm
nếp đến cho người lình Tây Tiến, một khung cảnh đậm đà tình quân dân sau một
thời gian dài hành quân vất vả. Các anh được đồng bào đón tiếp bằng “cơm lên
khói” cùng mùi hương “thơm nếp xôi” thật ấm áp, nỗi nhớ cứ thế dịu dàng,
chờn vờn trong tâm tria của người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã sử sụng từ
“mùa em” thật gần gũi thân thương gợi nhớ mùi hương vị đặc trưng của nếp xôi
Mai Châu mà ta liên tưởng đến trong bài thơ “Tiếng hát con tàu của Chế Lan
Viên” “Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”.
Với bút pháp lãng mạn kết hợp với bút pháp hiện thực đã làm cho hình
tượng người chiến sĩ thời chống Pháp vừa có nét chung tiêu biểu vừa có nét
riêng độc đáo, ngơn ngữ thơ phong phú, sắc sảo giàu sức tạo hình biểu cảm đã
góp phần làm nên thành cơng nghệ thuật của bài thơ. Đoạn thơ cũng như cả bài
nhắc đến kỉ nieenmj con đường hành quân, gian lao mà không kém phần thi vị,
do đó cuộc sống chiến đấu vơ cùng gian khổ, đoạn thơ cũng tô đậm lý tưởng
chiến đấu, ngợi ca những chiến sĩ trẻ trung anh hùng, yêu nước hào hoa lãng
mạn. Họ tiêu biếu cho chân dung của anh bộ đội cụ Hồ, họ chính là hình ảnh
của đất nước một thời kì quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
người đi và được chia đều: “câu lục” nói về hồn cảnh bốn mùa trong năm, cịn
“câu bát” nói về con người cần mẫm làm việc. Câu thơ cuối còn có giá trị như
lời kết, thâu tóm tư tưởng tồn đoạn: tình cảm thủy chung ân nghĩa của người
chiến sĩ với nhân dân.
Lời tâm sự của người đi thiết tha, sâu lắng:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Nỗi nhớ hướng đén đối tượng cụ thể là hoa và người. Người đặt cạnh hoa thì
người cũng như hoa: Người ta là hoa của đất. Sau nỗi nhớ là tình yêu quê
hương Việt Bắc.
Đại từ nhân xưng “mình – ta” ở đây tiếp tục phát huy giá trị biểu cảm – thể hiện
tình yêu thương gắn bó sâu nặng giữa người đi và kẻ ở. Chất giọng ngọt ngòa đã
thể hiện điệu cảm xúc, điệu tâm hồn của tác giả mà nhà thơ Sóng Hồng cũng đã
mượn hình ảnh thức lục bát và ngơn từ nhân xưng đó để diễn tả tình cảm lưu
luyến lúc chia tay với người vợ đồng chí:
Mình về mình ở mình đi
Đi thì ta nhớ ở thì ta thương
Chia li mỗi bước đoạn trường
Con sông nước chảy, con đường cát bay.
Điệp ngữ Ta về đứng ở đầu câu, bộc lộ nỗi niềm xao xuyến, tâm trạng lưu luyến,
vấn vương trong buối chia tay, khơi dòng tâm tư hướng về quá khứ. Từ trong
nỗi nhớ, bức tranh Việt Bắc hiện ra có vẻ đẹp gắn bó giữa cảnh với người.
Cảnh thiên nhiên được gợi lại bốn mùa trong năm, thành bộ tự tứ bình, được ghi
lại bởi nghệ thuật chấm phá tài hoa của hồn thơ cổ điển. Vẻ đẹp riêng của mùa
đông được thể hiện
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Trên cái nền màu xanh bát ngát của cây rừng, thiên nhiên tự chấm phá sắc màu
đỏ tươi của hoa chuối. Sự tương phản màu sắc gợi khgung cảnh có vẻ đẹp tươi
thắm, rực rỡ. Dưới ánh nắng lấp lóa, màu hoa đỏ ấy như phun lửa sưởi ấm mùa
(Theo chân Bác)
Trong cảnh xuân ấy có con người đang mải miết làm việc “Nhớ người đan nón
chuốt từng sợi giang” , con người lao động cần mẫn, chăm chỉ, khéo léo, tất cả
tạo ra vẻ đẹp hài hòa, sống động cho bức tranh.
Khi Việt Bắc sang hè thì thiên nhiên mang sắc vàng tuyệt đẹp của rừng phách:
Ve kêu rừng phách đổ vàng.
Cây phách thân mộc, mọc rấ nhiều ở chiến khu Việt Bắc, rụng lá vào mùa đông,
khi ve kêu vào hè những chiếc lá bánh tẻ chuyển sang màu vàng lốm dốm xanh.
Dưới nắng hè chúng tạo cho rừng Việt Bắc những mảng màu vàng tươi sáng.
(cây phách ra màu hoa tím chứ khơng phải màu vàng). Bức tranh mùa hạ mở
đầu với khúc nhạc rừng hoang. Tiếng ve kêu râm ran như giục giã thời gian vào
hạ và tác động trên không gian: vẫy gọi sắc vàng cảu nawgs, của lá. Âm thanh
chan hòa với màu sắc tạo ra vẻ đẹp tuyệt dịu của rừng phách lúc hạ sang. Động
từ đổ đã gợi tả ánh nắng chiều xuyên qua vịm lá rừng đổ xuống hàng ngàn tia
sáng hình nan quạt lấp lóa, nổi bật hình ảnh cơ gái đang hái măng khiến cho bức
tranh có đường nét, hình khối sống động. Động từ đổ không chỉ gợi tả sắc lá
đang chuyển màu và ánh nắng tn tràn mà cịn gợi tả sắc nắng vàng đậm dần,
góp phần diễn tả bóng triều đang trơi. Từ đổ cũng là một từ khá đắt trong câu
thơ Xuân Diệu: Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá.
Ngôn ngữ thơ mang vẻ đẹp hàm súc cổ điển, chỉ sáu tiếng mà gợi được khơng
gian có đường nét, âm thanh, ánh sáng chan hòa, sắc màu chuyển đổi và sự vận
động luân chuyện của thời gian. Nhờ đó mà phong cảnh mùa hạ hiện ra có vẻ
đẹp hữu tình, cả khu rừng trong sáng, lung linh. Sự xuất hiện của cơ gái “ Nhớ
cơ em gái hái măng một mình”, cơ gái hái măng một mình lao động mà khơng
cơ đơn, hái măng trong cảnh khiến bức tranh đã nên thơ thêm phần sống động,
trữ tình. Và Cuối cùng cảnh thu hiện ra với vẻ đẹp đêm trăng:
Rừng thu trăng rọi hịa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
thiết nghĩa tình.
Từ những bức chân dung ấy nhà thơ khaios quát phẩm chất của người miền núi
Việt Bắc: hiền lành, siêng năng chăm chỉ, thầm lặng cống hiến và hi sinh cho
cách mạng, tấm lòng nghĩa tình thủ chung sâu sắt. Biết bao tình camr5 và sự
biết ơn dành cho họ.
Đoạn thơ khép lại với Tiếng hát ân tình thủy chung. Đoa là tiếng hát của người
ở lại, cũng là khúc hát của người ra đi. Khúc hát là sự đồng vọng thiết tha của
hai tấm lòng đã từng chia bùi sẻ ngọt lúc đắng cay gian khổ. Khúc hát thể hiện
tình quân dân sâu đậm.
Nghệ thuật nổi bật đoạn thoe là điệp từ nhớ, diễn tả rõ tình cảm sâu đậm, tấm
lịng gắn bó của người cán bộ với quê hương Việt Bắc. Giọng điệu lục bát ngọt
ngào góp phần diễn tả tình cảm thắm thiết của người đi.
Tình yêu và nỗi nhớ Việt Bắc sâu nặng đã giúp nhà thơ dựng lên cảnh thiên
nhiên Việt Bắc kì thú và ấm áp tình người như thế. Và đã từng sinh ra tử có
nhau nên tác giả hiểu rấ rõ đức tính và tình cảm cao quý của người Việt Bắc.
Bộ tranh tứ bình qua cái nhìn đầy ưu ái đối với quê hương của tác giả sẽ được
đặt trang trọng trong bảo tảng văn chương cách mạng. Đoạn thơ mở ra thế giới
của cái đẹp: bức tranh thiên nghiên đẹp, con người đẹp hiện ra từ nõi nhớ đẹp và
tấm lòng đẹp của nhà thơ. Đó là sức cuốn hút, sức chinh phục của đoạn thơ
cũng như cả bài thơ Việt Bắc.
Đề: 4 Phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước (Trích Trường ca mặt
đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm:
“ Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…”
mẹ thường hay kể.
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
như: “ngày xửa, ngày xưa, bắt đầu, có từ ngày đó, bây giờ”. Cho ta thấy cảm
hứng chủ đạo của đoạn thơ trên thể hiện mối quan tâm của tác giả về thời gian
lịch sử, quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của đất nước. Đất nước tồn tại
qua hình ảnh cụ thể thân thiết trong đời sồng hằng ngày như truyện cổ, miếng
trầu, cây tre, hạt gạo, cái kèo-cái cột, gừng cay- muối mặn, kể cả hình ảnh con
cúi ở đoạn sau, tác giả nhận tháy cái hữu hình hay vơ hình, cái hằng ngày này
cũng là cái vĩnh hằng có khả năng mở ra lịch sử xa xưa.
Cụm từ ngày xửa ngày xưa không chỉ nhắc đến thời gian xa lắc mà cách
vay mượn từ ngữ của truyện dân gian là muốn nhắc đến hình ảnh đất nước đã có
trong những câu chuyện huyền thoại, cổ tích của mẹ. Đất nước được khai sinh
từ quá khứ xa mờ, thưở hồng hoang:
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường
hay kể.
Hình ảnh miếng trầu bà ăn nhắc đến truyện cổ tích Trầu cau thời vua
Hùng dựng nước. Cịn hình ảnh cây tre mà nhân dân dùng làm vũ khí đánh giặc
là nhắc đến truyền thuyết Thánh Gióng đuổi giặc Ân, cũng là thời vua Hùng
dựng nước. Cây tre còn đi suốt chiều dài lịch sử chống giặc ngoại xâm. Ấy là
ngọn tầm vông của nghĩa sĩ Cần Giuộc, rồi đến cây chông tre thời đánh Pháp,
đánh Mỹ. Cây tre thành biểu tưởng cho lịch sử giữu nước oai hùng. Cây tre đã
trở thành người bạn thân thiết đối với mỗi cuộc đời, đối với cộng đồng dân cư
người Việt. bên cạnh cây tre là hạt gạo trong bữa cơm hàng ngày. Và khi hạt
gạo gắn với hình ảnh nắng mưa ngồi đồng gợi đến lịch sử lao động xây dựng,
phát triển đất nước của những người nơng dân bình dị mà oai hùng.
Khi cảm nhận lịch sử, hiểu lịch sử đất nước, Nguyễn Khoa Điềm không
đưa ra những sự kiện lịch sử chính hay lần lượt các triều đại phong kiến, khong
dùng kiến thức sử sách mà qua những hình ảnh bình dị, cụ thể thấy rằng: lịch sử
ln hiện diện trong đời sống hàng ngày của mỗi gia đình, gắn bó thân thiết với
mỗi người dân. Và qua những câu chuyện dân gian mà mẹ kể cho con, nhân dân
đã lưu giữ lịch sử theo cách riêng của mình, lịch sử đã trường tồn trong dịng
chảy tâm thức, trong trí nhớ của nhân dân qua bao thế hệ. Chứng tỏ nhân dân là
như một thông điệp về đức tính chăm chỉ, cần mẫn, sáng tạo của dân ta trong
lao động sản xuất:
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng.
Hình ảnh gừng cay muối mặn như là biểu tượng cho lối sống nghĩa tình,
phẩm chất thủy chung son sắt:
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay nuối mặn
Dạy anh biết “yêu em từ thưở trong nôi”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội