Dân số, nghèo khổ và sự suy thoái môi trường - Pdf 70



101
BÀI 9: DÂN SỐ, NGHÈO KHỔ VÀ SỰ SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG
I. Kiến thức
1. Dân số và sự phân bố dân cư trên thế giới và Việt Nam.
a. Thế giới
300
500
1000
2000
3000
4000
5000
6000
6302
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
§Çu CN 1650 1830 1930 1960 1975 1987 1999 2003
TriƯu ng−êi

Hình 9: Diễn biến dân số thế giới qua các giai đoạn lòch sử

• Qui mô dân số thế giới qua một số thời kỳ
Từ biểu đồ trên, ta thấy qui mô dân số thế giới ngày càng lớn, tốc độ gia tăng cao.

86,116,559 người (nguồn: U.S. Census Bureau, International Data Base). Tỷ lệ tăng
dân số của Việt Nam vẫn đang ở mức cao (1,3%), diễn biến dân số của Việt Nam
trong những năm gần đây được thể hiện ở hình bên dưới.

Hình 11: Biến đổi dân số Việt Nam theo các năm 1961 – 2003.
Nguồn: Dữ liệu của FAO, năm 2005
.
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
8000
9000
1950 1970 1990 2000 2050
Toµn ThÕ giíi
C¸c n−íc C«ng NghiƯp
C¸c n−íc ®ang Ph¸t
triĨn103
Mật độ dân số Việt Nam đã tăng từ 195 người/ km
2
năm 1989 lên 213 người/ km
2
năm

Cả nước có 7 tỉnh có tỷ lệ sinh cao thì khu vực miền núi có 5 Tỉnh là: Lai Châu, Sơn La,
Hoàng Liên Sơn (cũ), Gia Lai - Kom Tum (cũ) và Đắk Lắk.
Nguyên nhân chính của sự gia tăng dân số của các khu vực miền núi là mức sinh đẻ cao của
những người dân tộc thiểu số và sự di dân từ đồng bằng lên miền núi.
Sự gia tăng dân số ở khu vực miền núi nói riêng và của Việt Nam nói chung ảnh hưởng rất
lớn đến môi trường và công tác bảo vệ môi trường. Môi trường nước ta tiếp tục bò ô nhiễm
và xuống cấp, có nơi rất nghiêm trọng. Đất đai bò xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn
nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thò, khu dân cư bò ô nhiễm nặng; tài nguyên
thiên nhiên trong nhiều trường hợp bò khai thác quá mức, không có quy hoạch; đa dạng sinh
học bò đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi
không được bảo đảm....
Tham khảo: Một số thông tin về dân số Việt Nam (FAO – 2005).
Dân số: 85,262,356 (ước tính năm 2005)
Cơ cấu độ tuổi:
0-14 tuổi: 29,4% (nam 12.524.098; nữ 11.807.763)
15-64 tuổi: 65% (nam 26,475,156; nữ 27.239.543)
Trên 65 tuổi: 5,6% (nam 1,928,568; nữ 2.714.390)
(2004 ước tính)
Tỷ lệ tăng dân số: 1,3% (2004 ước tính)
Tỷ lệ sinh: 19,58 sinh/1,000 dân (2004 ước tính)
Tỷ lệ tử: 6,14 tử/1,000 dân (2004 ước tính)
Tỷ lệ di trú thực: -0,45 di dân/1.000 dân (2004 ước tính)
Tỷ lệ giới:
Khi sinh: 1,08 nam/nữ
Dưới 15 tuổi: 1,06 nam/nữ
15-64 tuổi: 0,97 nam/nữ
Trên 65 tuổi: 0,71 nam/nữ
Tổng dân số: 0,98 nam/nữ (2004 ước tính)
Tỷ lệ tử vong trẻ em:
Tổng: 29,88 chết/1.000 sống

trường khu vực đô thò có nguy cơ bò suy thoái nghiêm trọng. Nguồn cung cấp nước sạch, nhà
ở, cây xanh không đáp ứng kòp cho sự phát triển dân cư. Ô nhiễm môi trường không khí,
nước tăng lên. Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thò ngày càng khó khăn.
Dân số tăng nhanh làm cho số lượng người ở từng khu vực và trên trái đất tăng lên. Khi số
lượng người sinh sống tăng sẽ làm tăng những nhu cầu thiết yếu phục vụ cho cuộc sống
hàng ngày như lương thực, nhà ở, chất đốt… Do số lượng người tăng lên nhưng lượng đất đai
không tăng, từ đó con người phải phá rừng để canh tác nông nghiệp, làm nhà ở. Mất rừng
sẽ dẫn đến thiên tai xảy ra nhiều hơn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người, phá hoại
nhà cửa, cây cối, mùa màng. Đồng thời các nguồn tài nguyên không tái tạo như: than, dầu,
sắt… ngày một cạn kiệt dần. Các tài nguyên tái tạo: đất, nước, rừng… cũng bò khai thác đến
mức không thể tái tạo kòp và bò suy thoái nghiêm trọng. Môi trường cũng bò ô nhiễm nặng
nề do hoạt động của con người khiến cuộc sống càng khó khăn hơn. Tất cả các yếu tố trên
làm cho cuộc sống của con người trở nên khủng hoảng do không đủ lương thực, nghèo đói và 106

bệnh tật xảy ra triền miên. Vấn đề là ở chỗ những người dân nghèo lại thường sinh rất
nhiều con làm cho dân số càng tăng nhanh. Điều này làm cho cái vòng luẩn quẩn này
không thể thoát ra được.
Quan hệ giữa nghèo khổ và môi trường được thể hiện qua các mặt sau đây:
) Nghèo khổ làm cho các cộng đồng nghèo bò phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên mỏng
manh của đòa phương, trở nên dễ bò tổn thương do những biến động của thiên nhiên và
xã hội.
) Nghèo làm thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, cho cơ sở hạ tầng, cho văn hoá giáo dục và
các chương trình bảo vệ môi trường.
) Nghèo khổ làm tăng tốc độ khai thác tài nguyên theo hướng khai thác quá mức, khai
thác huỷ diệt.
) Nghèo khổ sẽ góp phần làm bùng nổ dân số.
) Nghèo khổ sẽ làm giảm sức lao động, tăng các dòch bệnh.

hàng năm, thì chết do đói ăn là 10 - 20 triệu, số còn lại bò chết vì thiếu dinh dưỡng và bệnh
tật.
Ở Việt Nam, qua số liệu điều tra của Viện dinh dưỡng trong 3 năm 1987, 1988, 1989 ở 23
tỉnh, thành phố trên 1278 hộ cho thấy, bữa ăn của nhân dân ta còn thiếu về số lượng, mới
đạt 1950 Kcal/1người/1ngày, so với yêu cầu là 2.300 Kcal còn thiếu 15%. Số gia đình dưới
mức 1500 Kcal được liệt vào loại đói chiếm 17%, từ 1500 - 1800 Kcal vào loại thiếu lên đến
23%, cộng cả hai loại thiếu trên đến 40%, số người gầy ở nữ chiếm 38%, ở nam giới chiếm
62% và khoảng 40% trẻ em suy dinh dưỡng. Tỷ lệ thiếu vitamin A - một chỉ số tổng hợp vì
sự đói nghèo ở nước ta cao gấp 8 lần mức quy đònh của Tổ chức Y tế thế giới.
Vì sao mỗi gia đình chỉ nên có 2 con?
Trong xã hội cũ từng tồn tại quan niệm "Trời sinh voi, trời sinh cỏ", "Thêm con, thêm của". Quan niệm
đó đã khiến gia đình đẻ rất nhiều con, làm cho dân số trái đất tăng mạnh, hiện nay đã đạt tới 6 tỉ
người. Người sinh nhưng đất không sinh thêm. Không những thế đất màu mỡ để trồng cây nông nghiệp
còn giảm đi nhanh chóng. Xã hội phát triển, con người không chỉ cần có cái ăn, mà còn cần có đủ chỗ
để ở, nhu cầu về chỗ vui chơi giải trí, đường đi, trường học, bệnh viện cũng tăng lên, do đó cần đến
đất cho xây dựng. Xã hội tiến lên con người cần có nhiều hàng hoá với chất lượng cao hơn. Tiêu thụ
trên đầu người tăng mạnh, trong khi đó nhiều loại tài nguyên khoáng sản không sinh mới được, nên
cạn kiệt dần. Dân số tăng, sản xuất phát triển làm tăng lượng chất thải ra môi trường, làm suy thoái
và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Trong mỗi gia đình, khả năng lao động là có hạn. Nếu mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con và không đẻ
quá sớm hoặc quá muộn, thì dưới mỗi mái nhà thường có thể có tối đa ba thế hệ: ông bà, bố mẹ và
hai con. Sản phẩm lao động được chia sẻ cho 6 người. Cuộc sống sẽ đầy đủ, sung túc, có phần dư dật
để xây nhà, mua tivi, tủ lạnh..., đi du lòch, nghỉ mát... Thời gian bố mẹ dành cho việc học hành, vui
chơi của con cái cũng nhiều lên. Những người con như thế có đầy đủ điều kiện để khoẻ mạnh, học tốt,
lớn lên thành người tài giỏi. Chỉ cần gia đình có thêm một em bé là kinh tế sẽ khó khăn hơn. Thời gian
và những sự âu yếm, ân cần của bố mẹ dành cho các con lớn giảm đi. Sự vất vả thiếu thốn làm cho
người lớn chóng già yếu hơn, trẻ em chòu nhiều thiệt thòi hơn, môi trường xung quanh ít được quan tâm
hơn. Nếu gia đình lại có tới 5 - 7 người con, thì mỗi đứa con không chỉ được hưởng thụ ít hơn, mà còn
phải lao động nhiều hơn may ra mới đủ ăn đủ mặc, học hành.
Trong xã hội cũng như vậy. Người tăng nhưng đất không tăng, khả năng sản xuất của trái đất là có

bền vững.
2. Trong lónh vực xã hội: Bảo vệ môi trường phải gắn với công tác dân số, xoá đói giảm
nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Chương trình hành động 21 của Hội nghò Rio
de Janero đã chỉ rõ: mối quan tâm về dân số phải là bộ phận của chiến lược phát triển bền
vững và các nước phải thiết lập được các mục tiêu và chương trình dân số.
3. Trong lónh vực môi trường: Chống tình trạng thoái hoá đất, bảo vệ môi trường nước; khai
thác và sử dụng hợp lý khoáng sản, bảo vệ môi trường biển, v.v... Ban hành các chế tài
buộc những doanh nghiệp quy mô lớn và vừa phải thiết lập các hệ thống tự quan trắc, giám
sát về môi trường. Ngoài ra, cần xem xét để đưa vào giá thành các chi phí cần thiết cho tài
nguyên và môi trường. Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm và người sử dụng tài nguyên
thiên nhiên phải thanh toán chi phí cơ hội cho người sử dụng tương lai.
Đối với mỗi người dân có thể làm gì để hạn chế được các vấn đề tiêu cực nêu trên và tiến tới
một cuộc sống ấm no hạnh phúc? Chúng ta phải thực hiện các giải pháp sau:
9 Thực hiện các biện pháp tránh thai và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỷ lệ tăng
dân số. Mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status