KINH NGHIỆM THÀNH LẬP SỞ GIAO DỊCH Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA VIỆT NAM
3.1. KINH NGHIỆM THÀNH LẬP SỞ GIAO DỊCH Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
Sở giao dịch hàng hóa đã được thành lập ở nhiều nơi trên thế giới và không còn là
một loại hình giao dịch mới lạ nữa. Nhưng không phải việc thành lập ở nước nào cũng như
nhau, tùy vào điều kiện cụ thể mà quốc gia có thể chọn cho mình một phương pháp áp
dụng cho phù hợp. Dưới đây là kinh nghiệm phát triển các sở giao dịch hàng hóa mà nhất
là hàng nông sản của 3 quốc gia đang phát triển và đều là những quốc gia có thu nhập trung
bình: Ấn Độ, Malaysia, và Trung Quốc.
3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
3.1.1.1. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế Trung Quốc
Xét về cả dân số cũng như diện tích thì Trung Quốc không chỉ đứng đầu trong nhóm
nước nghiên cứu mà còn đứng đầu trên toàn thế giới. Nhưng xét về phương diện kinh tế thì
mức thu nhập của nước này vẫn còn kém so với các quốc gia còn lại như Malaysia hay
Brazil với khoảng hơn $2000. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc là nước có tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân nhanh nhất thế giới, và đang trở thành một trong những cường quốc
về kinh tế trên thế giới, trong giai đoạn 1996-2006 con số này lên tới 12,7% vượt xa so với
con số bình quân của thế giới. Để đạt được sự phát triển đó, Trung Quốc đang đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước kéo theo việc chuyển dịch nhanh về cơ
cấu kinh tế. Trong viễn cảnh ấy, khu vực sản xuất- và ở trong một số điều kiện nhất định
gồm cả mỏ, khai khoáng và dịch vụ là chất xúc tác cho sự phát triển kinh tế; còn nông
nghiệp thường bị các chính sách của chính phủ buộc phải duy trì lượng lương thực giá rẻ
cho số dân đô thị hoá thông qua một cơ cấu các kiểm soát chặt chẽ và chiến lược sản xuất
thay thế nhập khẩu để phát triển kinh tế trong nước. Do đó, tỷ lệ đóng góp trong GDP tuy
thấp nhưng trên thực tế nông nghiệp vẫn giữ một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế
ở quốc gia này lẽ nông nghiệp thu hút tới hơn 40% trong tổng số lao động trong nước. Đây
là một con số tương đối lớn trong lực lượng lao động và cho thấy sự rời rạc của các hộ
nông dân, do vậy việc thúc đẩy phát triển trong ngành nông nghiệp vẫn là một trong những
ưu tiên hàng đầu, nhất là khi sự tăng trưởng trong ngành này còn kém xa so với mức tăng
trưởng chung của nền kinh tế.
Chính vì vai trò quan trọng như vậy, nên Trung Quốc đang không ngừng nỗ lực tiến
Đặc điểm sở giao dịch hàng hóa Trung Quốc
Nhân tố thúc đẩy sự hình thành sở giao dịch hàng hóa: nhân tố đầu tiên thúc đẩy sự
hình thành ở Trung Quốc chính là từ phía chỉnh phủ. Việc Trung Quốc cho phép các công
ty tư nhân tự do phát triển mà không có sự kiểm soát của nhà nước đối với sự phát triển
của sở giao dịch hàng hóa đã tạo ra cơ hội tập trung vào việc giao dịch ở sở giao dịch
tương lại hàng hóa trên ba sở giao dịch mà trước đây chỉ giao dịch một số lượng có hạn các
hợp đồng. Chính điều này đã tạo ra một nền tảng cho một giai đoạn chuẩn bị trước khi đạt
tốc độ phát triển nhanh chóng hoạt động kinh tế.
Số lượng sở giao dịch hàng hóa: số lượng sở giao dịch hàng hóa của Trung Quốc có
sự biến đổi trong suốt giai đoạn phát triển của nó. Đầu thế kỷ 20, Trung Quốc có hàng tá sở
giao dịch, song chúng hầu hết đều biến mất trong những năm 1930s. Và sau một thời gian
chờ đợi khá lâu, sở giao dịch hàng hóa lại được thành lập lại lần đầu tiên vào năm 1990, từ
đó cho đến năm 1993 có tới hơn 40 sở giao dịch hàng hóa xuất hiện do Trung Quốc lúc đó
đang tiến hành đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền
kinh tế thị trường. Tuy nhiên, số lượng sở giao dịch hàng hóa lại giảm mạnh do sự kiểm
soát của CSRC sau một loại biến cố diễn ra vào những năm này. Đợt giảm đầu tiên số
lượng sở giao dịch giảm xuống chỉ còn 15 và đợt thứ hai là vào năm 1999, con số này chỉ
còn lại 3 sở giao dịch hàng hóa đó là: sở giao dịch hàng hóa Dalian (Dalian Commodity
Exchange_DCE), sở giao dịch hàng hóa Quảng Châu (Zhenzhou Commodity
Exchange_ZCE) và sở giao dịch tương lai Thượng Hải (Shanghai Futures Exchange
_SHFE) – sở giao dịch tương lai này là kết quả của cuộc sáp nhập giữa 3 sở giao dịch ở
Thượng Hải là sở giao dịch kim loại, hàng hóa và dầu. Và số lượng sở giao dịch hàng hóa
ở Trung Quốc cho đến nay vẫn duy trì là ba sở giao dịch này.
Cơ cấu hàng hóa: Danh mục hàng hóa ở Trung Quốc chỉ giới hạn ở một số mặt
hàng nhất định. Cả ba sở giao dịch hàng hóa Trung Quốc đều hết sức thành công đối với
việc kinh doanh các mặt hàng trong danh mục của mình:
Sở giao dịch hàng hóa Dalian DCE: DCE là sở giao dịch lớn nhất Trung Quốc và
đứng thứ 17 thế giới. Đây là sở giao dịch có những hợp đồng tương lai về ngô và đậu nành
lớn nhất trên thế giới. Giá tương lai về đầu nành ở DCE dã trở thành một mức giá tham
khảo quan trọng cho việc sản xuất và phân phối đậu nành ở Trung Quốc cũng như làm giá
Hệ thống giao dịch và trung tâm thanh toán: Cả ba sở giao dịch đều đã được trang
bị các hệ thống giao dịch điện tử, đặc biệt DCE vẫn còn sàn giao dịch nhưng tất cả các giao
dịch đều là giao dịch điện tử. Trung tâm thanh toán bù trừ của cả ba sở giao dịch hàng hóa
này đều là một bộ phận của sở giao dịch hàng hóa (in-house clearinghouse)
3.1.1.3. Nhận xét
Các sở giao dịch hàng hóa của Trung Quốc khi đã được cởi trói khỏi những quy
định của chính phủ trở thành một công cụ hữu hiệu cho việc tăng khối lượng giao dịch cho
những hàng hóa chủ yếu. Thêm vào đó với việc hình thành các sở giao dịch trong giai đoạn
này đã giúp Trung Quốc cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng liên quan đến quá trình trao đổi
bao gồm việc nâng cấp hệ thống nhà kho, nâng cao các tiêu chuẩn chất lượng và góp phần
phổ biến kiến thức về thị trường. Chỉ trong một thời gian ngắn mà các sở giao dịch như
DCE đã tung ra nhiều hợp đồng tương lai hàng hóa, các hợp đồng này đã tạo nên mọt khối
lượng giao dịch vô cùng lớn ở những loại hàng hóa thiết yếu cho an ninh lương thực của
quốc gia. Điều này đã tạo điều kiện cho những người mua duy trùy được mức giá khá ổn
định thông qua việc tự bảo hiểm trên các thị trường, còn người nông dân lại có thu nhập
cao hơn thông qua một cơ chế thị trường tương lai minh bạch và rõ ràng. Mỗi hợp đồng
này đều thể hiện vai trò của các sở giao dịch hàng hóa trong việc thích nghi với sự năng
động trên các thị trường chủ chốt. Việc sở giao dịch DCE tung ra và phát triển nhanh
chóng các hợp đồng ngô đã đóng một vai trong quan trọng trong bước đầu tiên trong tiến
trình tự do hóa thị trường ngô của Trung Quốc khi mà quốc gia này bắt đầu tuân theo
những thỏa thuận đã cam kết khi gia nhập WTO.
Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ta thấy có thể
rút ra những bài học hết sức đáng chú ý khi thành lập một sở giao dịch hàng hóa ở Việt
Nam:
Về vai trò quản lý của nhà nước: Sự cân đối giữa những lợi ích và cái giá phải trả
của các quy định cũng như sự can thiệp của nhà nước là hết sức cần thiết trong việc hình
thành và phát triển các sở giao dịch hàng hóa của mỗi quốc gia với các điều kiện khác
nhau. Trong trường hợp của Trung Quốc những năm 1990s, sự quản lý của nhà nước quá
yếu hoặc các quy định quá lỏng lẻo sẽ tạo ra những thị trường hỗn loạn và không có trật tự,
mà làm mất lòng tin của những người giao dịch trên thị trường đó. Sự thiếu quản lý sẽ tạo
hợp đồng quyền chọn trên sở giao dịch hàng hóa và việc đưa ra các sản phẩm tài chính để
hình thành nên thị trường phái sinh ở Trung Quốc đang là một trong những kế hoạch phát
triển sắp tới của nước này.
Về vấn đề những người sản xuất nhỏ: tuy thị trường Trung Quốc chủ yếu bao gồm
những người sản xuất nhỏ, nhưng nhà nước khuyến khích sự tham gia của những người
tham gia các dây chuyền sản xuất lớn như những người sản xuất lớn, thương nhân, … tham
gia vào việc tự bảo hiểm rủi ro giá cả trên thị trường rồi từ đó chuyển lợi ích cho người sản
xuất nhỏ mà thôi. Người nông dân ở Trung Quốc được hưởng lợi ích gián tiếp từ các các số
liệu từ thị trường tương lai về hàng hóa. Để làm được điều đó, thì sở giao dịch DCE cùng
với sự hỗ trợ của chính phủ đã tổ chức một chiến dịch giáo dục nhằm giúp người nông dân
hiểu về vai trò và hoạt động của sở giao dịch hàng hóa từ đó khuyển khích họ sở dụng
thông tin sở giao dịch hàng hóa để xác định việc sản xuất của mình trong mua tới, cũng
như giúp học có thể thỏa thuận những mức giá tốt hơn với các trung gian mua bán. Đây
cũng là một phương pháp rất tốt để Việt Nam có thể tham khảo trong những bước chuẩn bị
đầu tiên để hình thành sở giao dịch hàng hóa.
3.1.2. Kinh nghiệm của Ấn Độ
3.1.2.1. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế Ấn Độ
Ấn Độ hiện là một trong những quốc gia đang phát triển có tốc độ tăng trưởng cao,
trong giai đoạn hiện từ 1996-2006 tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân của nước này là 6.7%
những năm gần đây tốc độ này tăng lên 9%. Tuy nhiên, khác với các nước đang phát triển
khác, tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp vào GDP của Ấn Độ ngày càng tăng và giữ một vai
trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế. Hiện nay, lao động nông nghiệp ở Ấn Độ
chiếm tới hơn 50% dân số, nên số hộ nông dân đã hình thành nên một khu vực cử tri khá
rộng lớn mà các nhà lãnh đạo đất nước không thể không chú ý tới việc phát triển khu vực
này. Chính vì vậy, việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển trong ngành nông nghiệp ở nước
này là một trong những ưu tiên hàng đầu ở nước này.
Cũng giống như ở Trung Quốc, Ấn Độ hiện cũng đang đẩy nhanh các công cuộc đổi
mới để phát triển nông nghiệp của nước mình. Những đổi mới trong ngành nông nghiệp
của Ấn Độ cũng xuất phát từ các nhân tố kinh tế cũng như chính trị nhằm phát triển sản
xuất và nâng cao năng suất, nhưng một điểm khác trong đổi mới nông nghiệp của Ấn Độ là