LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là những nghiên cứu của cá nhân Tôi.
Các kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được
cơng bố trong bất cứ cơng trình nào khác.
Nội dung luận văn có sử dụng tài liệu tham khảo đều được trích dẫn
nguồn một cách đầy đủ và chính xác.
Tác giả
Lê Anh Đức
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý
công tại Học viện Hành chính Quốc gia, Tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Toàn thể giảng viên của Học viện Hành chính Quốc gia đã nhiệt tình
truyền đạt những tri thức mới, những kinh nghiệm thực tiễn phong phú giúp
Tôi không ngừng nâng cao khả năng nhận thức và vận dụng vào thực tiễn
công tác.
- Lãnh đạo và công chức Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai đã hỗ trợ Tơi trong
q trình thu thập, xử lý thơng tin, cung cấp các số liệu, tài liệu cần thiết để
hoàn thành luận văn.
- PGS.TS. Trương Quốc Chính đã dành thời gian q báu tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo giúp Tơi hồn thành Luận văn tốt nghiệp.
Trong q trình nghiên cứu, hồn thiện Luận văn, Tôi đã dành nhiều
thời gian và công sức. Tuy đã cố gắng, nỗ lực nhưng trong giai đoạn đầu của
nghiên cứu khoa học, có nhiều kiến thức lý luận và thực tiễn lần đầu Tôi được
tiếp cận, vì vậy Luận văn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Tơi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của q thầy, cơ và đồng nghiệp giúp Tơi ngày
càng hồn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
đoạn hiện nay.................................................................................................45
2.2.1. Tình hình thanh niên Lào Cai hiện nay.............................................45
2.2.2. Những vấn đề đặt ra với thanh niên Lào Cai hiện nay......................53
2.3....................................................................................................................55
2.3.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách,
chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên........................55
2.3.2. Tổ chức bộ máy làm công tác thanh niên tỉnh Lào Cai.....................58
2.3.3. Kết quả thực hiện đề án, dự án, chính sách đối với thanh niên........60
2.3.4. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
nhà nước về công tác thanh niên..................................................................64
2.3.5. Công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác thanh
niên trên địa bàn tỉnh Lào Cai...................................................................... 66
ng quản lý nhà nƣớc về công tác thanh niên ở Lào
Cai hiện nay...................................................................................................69
69
70
Tiểu kết chƣơng 2......................................................................................... 77
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ
78
công tác thanh niên...........................78
3.1.1. Quan điểm của Đả............................................................................... 78
3.1.2. Chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam....80
trong thời gian tới..........................................................................................84
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước
ở Lào Cai về vị trí vai trị của thanh niên trong giai đoạn hiện nay............84
3.2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công tác
Công chức, viên chức
2. CNTT:
Công nghệ thơng tin
3. DSKHHGĐ
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
4. HĐND:
Hội đồng nhân dân
5. KTXH:
Kinh tế - Xã hội
6. Nxb:
Nhà xuất bản
7. TN:
Thanh niên
8. QLNN:
Quản lý nhà nước
văn bản hướng dẫn thi hành, ngày 25/12/2013, UBND tỉnh Lào Cai đã ban
hành Quyết định số 65/2013/QĐ-UBND, ban hành quy định quản lý nhà nước
về công tác thanh niên trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Trong những năm qua, việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về
công tác thanh niên ở các huyện, thành phố trong tỉnh Lào Cai đã có được
những kết quả khả quan. Vai trị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
công tác thanh niên được thủ trưởng các cơ quan từ tỉnh đến huyện quan tâm,
2
có chuyển biến trong cơng tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các
nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động cụ thể hóa những nội
dung, đề ra những chỉ tiêu của công tác này để lồng ghép vào nội dung thực
hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Cơng tác thanh niên từng bước đi vào nề
nếp, quyền và nghĩa vụ của thanh niên được đảm bảo; thanh niên được tạo
điều kiện thuận lợi hơn trong tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
dục, thể thao.
Tuy nhiên những khó khăn, hạn chế trong quản lý nhà nước về công tác
thanh niên cũng khơng ít. Trước tiên đó là nhận thức của lãnh đạo xã, phường,
thậm chí là huyện, ngành trực thuộc tỉnh có lúc, có nơi chưa thật tồn diện. Cơng
tác chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung, mục tiêu, chương trình phát triển
thanh niên ở một số địa phương, đơn vị thiếu quyết liệt, chậm ban hành các
chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện, hoặc có ban hành nhưng không đôn
đốc thực hiện, kiểm tra, giám sát… Thậm chí có những địa phương, đơn vị cịn
xem cơng tác thanh niên là nhiệm vụ của tổ chức Đoàn, Hội.
Bộ máy QLNN về công tác thanh niên mới được thành lập, đội ngũ cán
bộ, công chức làm QLNN về công tác thanh niên được tuyển chọn từ nhiều
nguồn khác nhau, do mới tiếp cận công việc nên gặp nhiều khó khăn, hạn chế,
lúng túng trong việc tham mưu đề xuất hoặc không xác định được công việc
Quản lý nhà nước về cơng tác thanh niên có vị trí đặc biệt quan trọng, đã
có nhiều văn bản đề cập tới việc quản lý nhà nước về công tác thanh niên như:
Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị (khóa V) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác vận động thanh niên, Nghị quyết 25 của Bộ Chính trị khóa VI
về Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
(tháng 2/1991), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa VII) về cơng tác thanh niên trong thời kỳ mới (tháng 1/1993), Luật
thanh niên năm 2005, Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp
hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh
niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Quyết định số 2474/QĐTTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát
triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011- 2020,…
Ngoài ra cũng có nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu vấn đề quản lý
nhà nước đối với công tác thanh niên dưới nhiều góc độ khác nhau, được cơng
bố dưới dạng sách, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, luận văn tốt nghiệp và
các bài viết trên một số tạp chí. Có thể đề cập một số nghiên cứu sau:
4
- Vũ Trọng Kim, Quản lý nhà nước về công tác thanh niên trong thời kỳ
mới, NXB Chính trị Quốc gia, 1999, trong cuốn sách này tác giả đã đề cập tới sự
quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên ở những tầm vĩ mô, với những giải
pháp chủ yếu trong thực hiện các chính sách, các định hướng về hội nhập
[15]. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu của tác giả trên đã khá lâu nên sự biến
đổi, tình hình thanh niên trong giai đoạn hiện nay chưa được các tác giả trên đề
cập đến, đặc biệt là quy định mới từ khi Luật thanh niên ra đời vào năm 2005. Ví
dụ trong sách của tác giả Vũ Trọng Kim trang 14 xác định độ tuổi thanh niên từ
16 – 35, tuy nhiên theo điều 1 Luật thanh niên hiện hành là 16 – 30 tuổi
[29, tr.1];
Số 12 (2008). Phát huy chủ nghĩa yêu nước trong tầng lớp sinh viên Việt Nam
hiện nay, Thông báo khoa học, Đại học Vinh, số 31.
Về đối tượng trực tiếp khảo sát là thanh niên Lào Cai giai đoạn gần đây
đã có một số tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên, các hướng nghiên cứu chủ yếu tập
trung ở góc độ về truyền thống, giáo dục ý thức cho thanh niên ở Lào Cai.
Còn nghiên cứu quản lý nhà nước về cơng tác thanh niên trên địa bàn Lào Cai
thì chưa có tác giả nào đề cập đến. Luận văn này là một cố gắng triển khai
nghiên cứu theo hướng trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về cơng tác thanh
niên, góp phần tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho thanh niên tỉnh Lào Cai.
3.2. Nhiệm vụ
- lý luận
quản lý nhà nước về công tác thanh niên, lý luận về thanh
niên, chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước với thanh niên.
- Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về công tác thanh niên tỉnh Lào Cai.
6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong Luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề về tình
hình thanh niên Lào Cai và Quản lý nhà nước về công tác thanh niên tỉnh Lào
Cai trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
7. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 03 chương, 8 tiết. Chương 1 cơ sở lý luận của quản lý nhà nước
về công tác thanh niên; Chương 2 thực trạng quản lý nhà nước về công tác
thanh niên tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay; Chương 3 giải pháp tăng
cường quản lý nhà nước về công tác thanh niên ở Lào Cai hiện nay.
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN
1.1. Các khái niệm liên quan đến luận văn
1.1.1. Thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều
cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá
mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
- "Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành" [42, tr.8].
Khái niệm này bao gồm 2 ý: Thanh niên là người có độ tuổi cịn trẻ và đang
trưởng thành.
- "Thanh niên là một nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù, bao gồm những
người trong một độ tuổi nhất định, có quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai
cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trị to
lớn trong hiện tại và giữ vai trò quyết định sự phát triển trong tương lai của xã
hội” [16, tr.14] khái niệm này đánh giá thanh niên ở diện rộng hơn, đánh giá
cao vai trò của thanh niên.
- Theo Luật Thanh niên “Thanh niên Việt Nam là những người đủ 16
đến 30 tuổi” [20, tr.1].
- Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi,
chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hồn cảnh xã
Papua New Guinea
12-35
Băng-la-đét
15-30
Philipines
15-30
Bru-nây
15-25
Hàn Quốc
9-24
Trung Quốc
14-28
Sa-moa
15-35
Ấn Độ
Pa-ki-xtăng
15-29
Liên hiệp quốc
15-24
Nguồn Trung ương Đoàn thanh niên Việt Nam [35, tr.25].
Tại Việt Nam, nếu tuổi thanh niên được xác định là tuổi tiếp nối tuổi trẻ
em (16 tuổi) thì tuổi cận trên, vẫn cịn nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến đề
nghị để ở mức 24 tuổi (như quy định về tuổi thanh niên của Liên hiệp quốc),
cũng có ý kiến đề nghị để tuổi cận trên của thanh niên là 35 tuổi vì ở tuổi này
thanh niên mới thực sự trưởng thành, tự lập, tự quyết và có đóng góp nhiều
nhất cho xã hội. Tuy nhiên, xét theo góc độ quản lý, thực thi các chính sách,
10
luật pháp cũng như góc độ hơn nhân, gia đình thì tuổi cận trên của thanh niên
nên dừng lại ở mức đủ 30 tuổi.
Thứ hai: Đứng ở góc độ chính sách, luật pháp, nếu nâng độ tuổi thanh
niên lên tới 35 tuổi thì đối tượng điều chỉnh của chính sách, luật pháp sẽ tăng
đáng kể (khoảng 7,7% dân số hay hơn 6 triệu người). Nếu là chính sách đầu
tư, thì đây quả là một con số không nhỏ về nguồn lực. Vả lại, khoảng cách
tuổi giữa cận trên và cận dưới của thanh niên quá xa, dẫn đến việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ như nhau đối với hai độ tuổi khác xa nhau (16 và 35) trong
cùng một lúc là khó khăn và bất bình đẳng. Có khi ngay trong một gia đình,
bố mẹ và các con đều phải chịu sự điều chỉnh của một chính sách, pháp luật
với quyền và nghĩa vụ như nhau, trong khi các con có khi cần thiết được
với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trong cả hiện tại và tương lai. Với
khái niệm này, có thể chỉ ra một số đặc điểm của thanh niên như sau:
- Thanh niên không phải là một giai cấp mà là một nhóm nhân khẩu, xã
hội; có độ tuổi nhất định, từ 16 đến 30 tuổi; có những đặc điểm đặc trưng
khác với các lứa tuổi khác về tâm lý, sinh lý; có tâm tư, nguyện vọng, có nhu
cầu và hồi bão, khát vọng phù hợp với lứa tuổi và giới.
- Thanh niên có mặt trong tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội: thanh
niên nông dân, thanh niên công nhân, thanh niên viên chức, thanh niên học
sinh, sinh viên, thanh niên các lực lượng vũ trang; có mặt trong tất cả 54 dân
tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam.
- Thanh niên có mặt và giữ vai trị quan trọng trong các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, an ninh, quốc phịng của đất nước.
1.1.2. Cơng tác thanh niên và quản lý nhà nước về công tác thanh niên
1.1.2.1 Công tác thanh niên
Theo Từ điển Tiếng Việt thì cơng tác được hiểu là “cơng việc của Nhà
nước, của đồn thể hoặc thực hiện cơng việc của Nhà nước, của đồn thể”
12
[42, tr.458]. Như vậy dưới góc độ là danh từ cơng tác thanh niên có thể được
hiểu là cơng việc của Nhà nước, của đồn thể; dưới góc độ là tính từ, cơng tác
thanh niên được hiểu là thực hiện cơng việc của Nhà nước, đồn thể.
Theo Thuật ngữ cơng tác Đồn: “Cơng tác thanh niên là một bộ phận
quan trọng trong công tác quần chúng của Đảng, bao gồm toàn bộ những hoạt
động của Đảng, Nhà nước và các chủ thể xã hội khác” [16, tr.152].
Theo Nghị định số 120/2007/NĐ-CP, ngày 23/7/2007 của Chính phủ về
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên, "Công tác thanh niên"
là những hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng,
tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời
các chế định pháp luật, chính sách để điều chỉnh, phối hợp thống nhất việc
triển khai nhiệm vụ công tác thanh niên của các tổ chức, lực lượng trong xã
hội nhằm đạt được các mục đích của Đảng về công tác giáo dục, bồi dưỡng và
phát huy lực lượng thanh niên” [15, tr.87-88].
Các khái niệm này về căn bản đúng, tuy nhiên chưa phản ảnh được đầy
đủ tính đặc thù của hệ thống chính trị ở Việt Nam, đó là: Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ. Trong vế “nhân dân làm chủ” bao hàm cả sự
tham gia quản lý nhà nước và xã hội của nhân dân một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp thông qua các tổ chức đại diện. Căn cứ vào những cách hiểu đó và từ
khái niệm quản lý nhà nước như trình bày ở phần trên, thì quản lý nhà nước
về công tác thanh niên ở đây được hiểu là hoạt động của Nhà nước trên các
lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp đối với công tác thanh niên. Quản lý
nhà nước về công tác thanh niên là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang
tính quyền lực Nhà nước đối với một số đối tượng đặc biệt là thanh niên; là
quá trình tác động của hệ thống các cơ quan Nhà nước đối với công tác thanh
niên bằng chính sách, luật pháp, cơ chế vận hành và tổ chức bộ máy, bằng
14
kiểm tra, giám sát, đồng thời cũng bằng các chính sách, luật pháp, Nhà nước
huy động mọi tổ chức, mọi nguồn lực xã hội tham gia thực hiện các nhiệm vụ
công tác thanh niên.
Trong quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về cơng tác thanh niên giữ
vai trị rất quan trọng; là hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền nhằm đề ra các chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội và hành vi của công dân liên quan đến thanh niên và công tác thanh
niên; là hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên trong bộ máy
Nhà nước; là hoạt động điều hành của Nhà nước nhằm tổ chức và phối hợp
các cơ quan trong công tác thanh niên. Quản lý nhà nước về công tác thanh
niên bao gồm cả các hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước
phương có: HĐND và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các
sở, ban, ngành thuộc UBND cấp tỉnh; HĐND và UBND các quận, huyện,
thành phố, thị xã thuộc tỉnh; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp
huyện; HĐND và UBND các xã, phường, thị trấn. Ủy ban nhân dân các cấp
thực hiện quản lý nhà nước đối với thanh niên trong địa phương mình; cụ thể
hóa các chính sách thanh niên phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa
phương để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thơng qua trước khi trình cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Đồn Thanh niên
và chỉ đạo các ngành chức năng trực thuộc phối hợp với Đoàn Thanh niên
cùng cấp trong việc triển khai các chương trình cơng tác thanh niên.
- Chủ thể là các cơ quan tư pháp các cấp (Tòa án, Viện Kiểm sát) thực
hiện nhiệm vụ xử lý các vi phạm pháp luật liên quan đến thanh niên và công
tác thanh niên theo ngành dọc.
Quản lý nhà nước về công tác thanh niên có sự tham gia của các chủ thể
xã hội như: Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức chính trị xã hội khác. Thơng qua luật pháp, chính sách, cơ chế, tổ chức bộ máy và
16
nguồn lực, Nhà nước quản lý, điều phối các chủ thể xã hội tiến hành công tác
thanh niên.
Quản lý nhà nước về công tác thanh niên là một dạng quản lý đối với một
lực lượng xã hội cụ thể, mà những vấn đề của nó liên quan trực tiếp đến tất cả
các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cho nên, đây là một loại quản lý tổng
hợp, đa diện và rất phức tạp, địi hỏi phải có sự phối hợp hài hòa, thống nhất rất
cao giữa các ngành (lập pháp, hành pháp, tư pháp), giữa các bộ phận trong cùng
một ngành (ví dụ: giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong
cơ quan hành pháp), giữa các cấp (từ trung ương đến cơ sở), giữa các chủ thể
tiến hành công tác thanh niên dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Quốc hội ban hành các văn bản luật liên quan đến thanh niên và công
tác thanh niên; quyết định ngân sách hằng năm cho công tác thanh niên, đồng
thời giám sát việc thực hiện chính sách, luật pháp liên quan đến thanh niên ở
các cấp.
- Chính phủ ban hành, chỉ đạo thực hiện và giám sát việc thực hiện các
chính sách liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên. Cụ thể: xác định
chương trình mục tiêu cơng tác thanh niên là một bộ phận trong kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội hằng năm, 5 năm hoặc các chiến lược phát triển theo
vùng miền; chỉ đạo các bộ, ngành và các cấp chính quyền xây dựng và triển
khai chương trình thanh niên thuộc lĩnh vực hay địa bàn quản lý của mình;
đồng thời kiểm tra việc thực hiện chính sách thanh niên ở các ngành, các cấp.
Chính phủ cũng chủ trì tiến hành các nghiên cứu cơ bản định kỳ về thanh niên
làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ vào chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao có trách nhiệm xây dựng và tổ chức
thực hiện các chính sách thanh niên liên quan đến ngành, lĩnh vực mình.
- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước đối với thanh
niên trong địa phương mình; cụ thể hóa các chính sách thanh niên phù hợp
18
với đặc điểm, tình hình của địa phương để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp
thơng qua trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Đoàn Thanh niên
và chỉ đạo các ngành chức năng trực thuộc phối hợp với Đoàn Thanh niên
cùng cấp trong việc triển khai các chương trình cơng tác thanh niên.
- Các cơ quan tư pháp thực hiện nhiệm vụ xử lý các vi phạm pháp luật
liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên.
* Quản lý nhà nước về công tác thanh niên có một số đặc điểm cơ
bản sau: