CHUYÊN ĐỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH
THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY BẮC GIANG
I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ.
Việt Nam là một nước phát triển đi lên từ một nước lạc hậu, đã có sự chuyển
đổi từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường . Từ một bước
ngoặt chuyển biến rõ rệt đó đã có sự biến động mạnh mẽ cho thấy nước ta đang
phát triển và ngày một đi lên chính là nhờ tự cung, tự cấp và có nguồn lao động dồi
dào là động lực phát triển, thúc đẩy cho kinh tế nước ta phát triển và ngày một đi
lên.
Trước nguồn lao động của nước ta đa dạng như vậy, vậy câu hỏi đặt ra trước
mắt là làm thế nào để có thể cân bằng mức sống cũng như nhu cầu cho mỗi người
dân lao động? Đó là điều cần thiết và đòi hỏi chúng ta cần phải có một câu trả lời.
Để có thể cân bằng mức sống cũng như nhu cầu cho mỗi người dân lao động đòi
hỏi các nhà doanh nghiệp trong nước, tư nhân và các chủ đầu tư trong quá trính sản
xuất kinh doanh nên chú trọng đến đời sống của người lao động khi làm trong
doanh nghiệp. Vì lao động là những người quan trọng làm nên những sản phẩm mà
các nhà đầu tư yêu cầu. Nói như vậy người lao động không những làm ra những
sản phẩm mà họ còn là những người quan trọng trong quá trình sản xuất và còn là
sự sống cho mỗi doanh nghiệp.
Để thực hiện những mục tiêu trên, các nhà doanh nghiệp phải thường xuyên
quan tâm đến nhu cầu sống của những người lao động. Để phù hợp với sự tiến hoá
mạnh mẽ đó, kế toán phải tồn tại và không ngừng biến đổi, để đáp ứng đòi hỏi
ngày càng cao của nền kinh tế thị trường, trong đó kế toán tiền lương và các khoản
trích theo lương cực kỳ quan trọng vì kế toán tiền lương không chỉ phản ánh việc
sử dụng tài chính, việc thực hiện kế hoạch thu chi tài chính và các khoản mục lao
động công nhân, ngày công...Tiền lương có vai trò tác dụng, đòn bẩy kinh tế tác
động trực tiếp tới người lao động. Chi phí nhân công chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
số chi phí của doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần phải tăng cường công tác
quản lý lao động, công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương cần
chính xác, kịp thời nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Vì vậy việc tổ
chức công tác kế toán “tiền lương và các khoản trích theo lương” là cả một vấn đề
Bên cạnh những ưu điểm về công tác kế toán nói chung, kế toán tiền lương
và các khoản trích theo lương ở công ty cổ phần may Bắc Giang nói riêng vẫn còn
một số vấn đề cần hoàn thiện và khắc phục.
2. Khó khăn
Cách tính lương đối với đội ngũ gián tiếp (hưởng lương thời gian) chưa
đáp ứng được nguyên tắc phương pháp theo lao động. Do vậy, chưa phát huy hết
khả năng sẵn có của người lao động.
Công ty không trích trước tiền lương nghỉ phép cho công nhân trực tiếp sản
xuất
Do trình độ tay nghề của công nhân chưa cao nên trong khâu sản sử dụng
NVL có phần lãng phí.
Khoản mục chi phí nhân công hạch toán chưa đầy đủ do công ty thực hiện
trích gộp các yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ thành một khoản chi phí chung.
III. THỰC TẾ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ KẾ TOÁN TIỀN
LƯƠNG, CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
MAY BẮC GIANG.
1. Công tác tổ chức quản lý lao động ở công ty cổ phần may Bắc Giang
Hiện nay tổng số lao động của công ty là 6000 công nhân, số lao động này
được chia thanh hai bộ phận:
Bộ phận lao động trực tiếp sản xuất gồm 5651 người chiếm 92,45% tổng só
lao động chính trong công ty.
Bộ phận lao động gián tiếp sản xuất gồm 349 người chiếm 7,55% tổng số
lao động trong công ty. Thời gian làm việc của bộ phận này là làm việc theo giờ
hành chính theo quy định của Nhà nước.
Số người có trình độ đại học là 130 người chiếm 3,27%, cao đẳng là 110
người chiếm 2,76%, trung học chuyên nghiệp là 80 người chiếm 3,52%, công nhân
kỹ thuật có trình độ từ bậc 2,17 đến 6,17 là 880 người còn lại là lao động phổ
thông.
BẢNG PHÂN LOẠI CÔNG NHÂN VIÊN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY BẮC GIANG
TT Đơn vị
phân biệt đối xử về tinh thần và quyền làm chủ của mọi người lao động. Việc chi
trả lương cao hơn mức lương quy định là tuỳ thuộc vào năng xuất lao động và kết
quả lao động của mỗi tháng, tháng nào đạt năng xuất cao hơn và kết quả lao động
cao hơn cao hơn thì sẽ được trả luơng cao hơn .
Thực tế công tác quản lý quỹ lương của công ty cổ phần may Bắc Giang
Hiện nay công ty cổ phần may Bắc Giang sử dụng hai hình thức trả lương:
- Trả lương theo thời gian : Được áp dụng với bộ phận gián tiếp sản xuất.
- Trả lương theo sản phẩm : Được áp dụng với bộ phận trực tiếp sản xuất ra sản
phẩm.
Trong tháng công ty trả lương làm hai lần.
Lần 01 : Tạm ứng cho CNV
Lần 02 : Cuối mỗi tháng sau khi tính lương và các khoản phải trả cho CNV,
công ty trả nốt phần còn lại.
2. Hạch toán lao động và tính lương, trợ cấp BHXH
a. Hạch toán lao động.
Đơn vị: PXC – 1
Bộ phận: Tổ SX số 1
PHIẾU NGHỈ HƯỞNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
Họ và tên : Dương Kim Anh – 30 tuổi
Tên cơ
quan y
tế
Ngày,
tháng,
năm
Lý do
Số ngày nghỉ Y bác
sĩ ký
tên
đóng
Phương pháp tính lương cho công nhân trực tiếp sản xuất: Đối với công
nhân trực tiếp sản xuất thì được hưởng theo lương sản phẩm.
LSP = Số lương sản phẩm hoàn thành x Đơn giá ở từng công đoạn
Cụ thể dựa vào bảng chấm công, bảng kê năng suất và đơn giá từng công
đoạn sản phẩm mà ta tính lương cho công nhân trực tiếp sản xuất ở tổ may 2 thuộc
PX may 1 như sau:
BẢNG KÊ NĂNG XUẤT
Tổng sản phẩm : 10.000
Tháng 04 năm 2005
TT Họ Tên Công đoạn ( sản phẩm )
CĐ01 CĐ02 CĐ03 CĐ04
01 Nguyễn Diệu Thuý 800 900 2500 2000
02 Lê Thị Thanh 650 950 2000 2000
03 Lê Huy 700 800 1800 2000
04 Vũ Tuấn 750 700 1900 1800
….. …… …. …. …. ….
Cộng 10.000 10.000 10.000 10.000
Đơn giá từng công đoạn:
CĐ1: 60 đồng/ 1sp
CĐ2 : 70 đồng/ 1sp
CĐ3 : 95 đồng/ 1sp
CĐ4: 102 đồng/ 1sp
Ta tính lương cho công nhân Nguyễn Diệu Thuý như sau:
Lương sp ( LSP )
LCĐ1 = 800 * 60 = 48.000đ
LCĐ2 = 900 * 70 = 63.000đ
LCĐ3 = 2.500 * 95 = 273.500đ
LCĐ4 = 2.000 * 102 = 204.000đ
LSP = 48.000 + 63.000 + 273.500 + 204.000 = 552.500đ
Ngoài ra ta tính lương học, nghỉ phép cho công nhân Nguyễn Diệu Thuý như
- Tác dụng: Là cơ sở để lập bảng thanh toán lương cho công nhân phân xưởng
may và thanh toán lương cho CNV.
- Phương pháp lập: Mỗi cán bộ CNV ghi một dòng.
Công ty cổ phần may Bắc Giang cán bộ gián tiếp được tính theo lương thời gian.
MTT x Hệ số lương
LTG = x Số ngày công làm việc thực tế
26