NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 73

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN
VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU
1.1.1. Khái niệm, vị trí và vai trò nguyên vật liệu
1.1.1.1. Khái niệm nguyên vật liệu
Một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là đối tượng lao
động. Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật
hoá như : Sắt thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, vải sợi trong doanh nghiệp
dệt, da trong doanh nghiệp đóng giầy, vải trong doanh nghiệp may mặc …
Khác với tư liệu lao động, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào quá trình sản
xuất dưới tác động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái
vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm.
Những đặc điểm trên đây là xuất phát điểm quan trọng cho công tác tổ chức
hạch toán nguyên vật liệu từ khâu tính giá, hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết
.
1.1.1.2.Vị trí và vai trò của nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh
Quá trình sản xuất diễn ra là sự kết hợp của các yếu tố: Sức lao động, tư liệu
lao động, đối tượng lao động. Nguyên vật liệu là một trong 3 yếu tố cơ bản không
thể thiếu được của quá trình sản xuất, nó là thành phần chủ yếu để cấu thành nên
thành phẩm, dịch vụ, và nó là đầu vào của quá trình sản xuất.
Xét trên các phương diện khác nhau ta thấy rõ đặc điểm, vị trí quan trọng
của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh:
- Nguyên vật liệu là đối tượng lao động biểu hiện dưới dạng vật hoá, là một trong
3 yếu tố cơ bản không thể thiếu được của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất tạo
thành sản phẩm mới. Kế hoạch sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào việc cung cấp
nguyên vật liệu có đầy đủ, kịp thời, đúng chất lượng hay không. Nếu nguyên vật
liệu có chất lượng tốt, đúng qui định sẽ tạo điều kiện cho sản xuất được tiến hành
thuận lợi, chất lượng sản phẩm tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường .
- Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất nhất định, khi tham gia
vào sản xuất thì nguyên vật liệu chịu sự tác động của lao động, chúng sẽ bị tiêu hao
hoàn toàn, giá trị của nó được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm và nó không còn

nguyên vật liệu. Như thế mới quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, chủng loại,
giá cả và chi phí mua để sao cho nguyên vật liệu khi mua về phải đủ về số lượng,
tốt về chất lượng. Kế hoạch mua nguyên vật liệu phải được thực hiện theo đúng
tiến độ thời gian phù hợp với kế hoạnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
• Để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và sử dụng vốn tiết kiệm thì
doanh nghiệp phải dự trữ nguyên vật liệu ở một mức độ hợp lý. Do vậy, các doanh
nghiệp phải xây dựng định mức tồn kho tối đa và tối thiểu cho từng danh điểm
nguyên vật liệu, tránh việc dự trữ quá nhiều hoặc quá ít một loại nguyên vật liệu
nào đó. Định mức tồn kho của nguyên vật liệu còn là cơ sở để xây dựng kế hoạnh
thu mua nguyên vật liệu và kế hoạch tài chính của doanh nghiệp.
• Để đảm bảo tốt nguyên vật liệu dự trữ giảm thiểu hư hao mất mát, các doanh
nghiệp cần phải xây dựng hệ thống kho tàng, bến bãi đủ tiêu chuẩn kĩ thuật, bố trí
nhân viên thủ kho có đủ phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn để quản lý
nguyên vật liệu tồn kho và thực hiện các nhiệm vụ nhập xuất kho, tránh việc bố trí
kiêm nhiệm chức năng thủ kho với tiếp liệu và kế toán vật tư.
• Trong khâu sử dụng cần phải sử dụng tiết kiệm hợp lý dựa trên các cơ sở định
mức tiêu hao, định mức kinh tế kĩ thuật và dự toán chi phí, từ đó phát huy cao nhất
hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong khâu này
cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu
trong sản xuất kinh doanh.
Tóm lại quản lý nguyên vật liệu là cần thiết và là yếu tố tất nhiên của doanh
nghiệp, nó đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế vẫn có
những doanh nghiệp còn để thất thoát một lượng nguyên vật liệu khá lớn do không
quản lý tốt ở các khâu, không xây dựng được các định mức hoặc có xây dựng
nhưng không thưc hiện đúng. Vì vậy cần phải luôn luôn cải tiến công tác quản lý
nguyên vật liệu cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
1.1.1.4. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
Để cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác thông tin cho công tác quản lý
nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp, kế toán nguyên vật liệu phải thực hiện
được các nhiệm vụ chủ yếu sau:

xăng, dầu…nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại vật liệu phụ tuy
nhiên nó được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu dùng nhiên liệu
chiếm một tỷ trọng lớn và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,
nhiên liệu cũng có yêu cầu và kỹ thuật quản lý hoàn toàn khác với các vật liệu phụ
thông thường.
- Phụ tùng thay thế: Là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa bảo
dưỡng tài sản cố định như máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải…
- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản là các loại thiết bị, vật liệu phục vụ cho
hoạt động xây lắp, xây dựng cơ bản.
- Phế liệu: là các loại nguyên vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh
lý tài sản có thể sử dụng hay bán ra ngoài như: gỗ mục, thép vụn, vải vụn…
- Vật liệu khác: là các loại vật liệu không được xếp vào các loại kể trên như: bao
bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng …
*Ngoài các cách phân loại trên, doanh nghiệp còn có thể sử dụng cách phân
loại theo yêu cầu quản lý ( theo công dụng )
- Nguyên vật liệu trực tiếp: tạo lên thực thể chính
- Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất khác
- Theo nguồn nhập: mua ngoài, tự sản xuất, thuê ngoài, gia công, nhận góp vốn,
biếu tặng, viện trợ, tài trợ, phế liệu thu hồi.
1.2.2. Đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là việc dùng thước đo tiền tệ để xác định giá trị ghi
sổ của nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định đảm bảo yêu cầu chân
thực, thống nhất.
Đánh giá nguyên vật liệu có ý nghĩa quan trọng tính đúng, tính đủ chi phí
trong quá trình đánh giá nguyên vật liệu sẽ giúp cho doanh nghiệp tính toán chính
xác những khoản chi phí đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm, điều này thúc đẩy doanh
nghiệp sử dụng nguyên vật liệu ngày càng có hiệu quả hơn.
Về nguyên tắc: Nguyên vật liệu là tài sản dự trữ sản xuất, thuộc tài sản lưu
động phải được đánh giá theo giá thực tế của nguyên vật liệu mua sắm gia công
hoặc chế biến. Song do đặc điểm của nguyên vật liệu là có nhiều loại, nhiều thứ,

kho n gi mả ả
T NVL ghi trên kh u (n u có) thu mua giá h ng ế ẩ ế à
mua

Trong đó: chi phí thu mua có thể tính trực tiếp cho từng loại, từng thứ, từng
chuyến hàng và cũng có thể phải tính toán phân bổ cho từng đối tượng, từng loại,
từng thứ, từng chuyến hàng thu mua nhập kho trong tháng. Chi phí thu mua như:
chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí nhân viên thu mua, chi phí của bộ phận thu
mua độc lập, chi phí thuê kho, thuê bãi, tiền phạt lưu kho lưu hàng, lưu bãi, số hao
hụt tự nhiên trong định mức (nếu có)…
• Với NVL tự sản xuất:

Trong đó: chi phí gia công chế biến gồm tiền lương, chi phí dịch vụ mua ngoài
(điện,nước, điện thoại…), chi phí vận chuyển, bốc dỡ…
• Với NVL thuê ngoài gia công chế biến:
Trong đó : chi phí liên quan gồm có: tiền thuê gia công chế biến, chi phí vận
chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong định mức…
Giá v n th c t = giá th c t NVL + chi phí gia ố ự ế ự ế
công
NVL nh p kho xu t cho gia ch bi nậ ấ ế ế
công ch bi nế ế
Giá v n th c t = giá th c t NVL + chi phí liên ố ự ế ự ế
quan
NVL nh p kho xu t thuê ngo i giaậ ấ à
*Với NVL nhận góp vốn từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia liên
doanh:
Giá vốn thực tế = Giá do hội đồng + Chi phí tiếp
NVL nhập kho liên doanh đánh giá nhận (nếu có)
* Với phế liệu thu hồi :
Giá vốn thực tế NVL nhập kho = giá ước tính

♦ Tính theo giá thực tế nhập trước- xuất trước ( FIFO ):
Theo phương pháp này ta phải xác định được đơn giá thực tế NVL nhập kho
của từng lần nhập và giả thiết số hàng nào nhập trước thì xuất trước. Sau đó căn
cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: Tính
theo đơn giá thực tế nhập trước đối với lượng xuất kho thuộc lần nhập trước, số
còn lại ( Tổng số xuất kho-số đã xuất thuộc lần nhập trước ) được tính theo đơn
giá thực tế lần nhập tiếp theo. Như vậy giá thực tế của NVL tồn cuối kỳ chính là
giá thực tế của NVL tồn kho thuộc các lần mua sau cùng.
+
Gi¸ trÞ thùc tÕ NVL
nhËp tron kú
Giá n vđơ ị
bình quân cả
=
Z
Gi¸ trÞ thùc tÕ NVL
nhËp tron kú
Giá tr th c tị ự ế
NVL nh pậ
Giá tr th c tị ự ế
NVL t n u kồ đầ ỳ
+
S l ng th c ố ượ ự
t NVL nh p ế ậ
S l ng th cố ượ ự
t NVL t n uế ồ đầ
Giá n v đơ ị
bình quân
=
Giá tr th c t NVL t n ị ự ế ồ

của hàng xuất kho.

Để tính được giá vốn thực tế của hàng xuất kho cần phải phân bổ chi phí
mua cho số hàng đã xuất kho theo công thức:

Tr giá mua th c = tr giá mua + tr giá mua - tr ị ự ị ị ị
giá mua
Trên cơ sở trị giá mua thực tế của hàng xuất kho và chi phí mua của hàng xuất
kho đã tính được, kế toán tổng hợp lại để xác định trị giá vốn thực tế của hàng xuất
kho.
1.2.2.2. Đánh giá NVL theo giá hạch toán:
Đối với các Doanh nghiệp mua vật tư hàng hoá thường xuyên có sự biến
động về giá cả, khối lượng và chủng loại vật tư hàng hoá nhập – xuất kho nhiều thì
có thể sử dụng giá hạch toán để tính trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho. Giá hạch
toán là loại giá ổn định do Doanh nghiệp tự xây dựng, giá này không có tác dụng
giao dịch với bên ngoài. Việc nhập – xuất kho hàng ngày được thực hiện theo giá
hạch toán, cuối kỳ kế toán phải tính đổi sang giá thực tế để có số liệu ghi vào các
tài khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán
sang giá thực tế được tiến hành như sau:
- Trước hết xác định hệ số giá giữa giá thực tế và giá hạch toán của NVL ( ký
hiệu là H ):

- Sau đó tính giá thực tế xuất kho căn cứ vào giá hạch toán xuất kho và hệ số giá:
Các phương pháp này có ảnh hưởng đến chi phí NVL và giá thành sản
phẩm. Nếu trong một thị trường ổn định giá không đổi việc lựa chọn phương pháp
tính giá là không quan trọng, ngược lại nếu trong một thị trường không ổn định khi
giá lên hay xuống thất thường thì mỗi phương pháp có thể cho một kết quả khác
nhau. Trong thực tế, nếu giá mua nhập NVL tăng lên qua các kỳ thì phương pháp
NT-XT cho sản phẩm thấp nhất, ngựơc lại phương pháp NS-XT cho giá thành sản
phẩm là cao nhất, giá thành sản phẩm của phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ

- Hoá đơn cước phí vận chuyển ( Mẫu 03 – BH )
- Hoá đơn GTVT
- Phiếu mua hàng ( Mẫu 13 – PH )
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng theo mẫu thống nhất theo quy định của
nhà nước, các DN có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán theo hướng dẫn khác
như:
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức ( Mẫu số 04 – VT )
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư ( Mẫu số 05 – VT )
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ ( Mẫu số 07 – VT )
1.3.2. Sổ chi tiết nguyên vật liệu
Tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán chi tiết áp dụng trong DN mà sử dụng
các sổ ( Thẻ ) kế toán chi tiết sau:
- Sổ ( thẻ ) kho
- Sổ ( thẻ ) kế toán chi tiết NVL
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Sổ số dư
Ngoài các sổ kế toán chi tiết nêu trên, còn có thể mở thêm các bảng kê nhập
– xuất, bảng kê luỹ kế tổng hợp nhập xuất và lập bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn
kho NVL phục phụ kịp thời cho việc ghi sổ kế toán chi tiết được đơn giản, nhanh
chóng, kịp thời.
1.3.3. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu:
Trong thực tế công tác kế toán hiện nay ở nước ta nói chung và các DN nói
riêng đang áp dụng 3 phương pháp hạch toán chi tiết NVL
- Phương pháp thẻ song song
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp sổ số dư
Mỗi phương pháp có ưu điểm, nhược điểm và phạm vi áp dụng riêng, ở một
số như Mỹ việc hạch toán chi tiết rất đơn giản như một dạng hạch toán phụ, kế
toán Mỹ chỉ dùng một số kho mở chi tiết cho từng NVL. Sổ kho theo dõi liên tục
nhập- xuất- tồn về số lượng, đơn giá, thành tiền và dùng để đối chiếu với sổ cái tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status