Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN
VAY TRONG KTBCTC TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ
TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN
(AASC)
3.1 Những ưu điểm và kết quả đạt được của kiểm toán khoản
mục vay do AASC thực hiện.
Trong quá trình nghiên cứu công tác kiểm toán các khoản mục, chu trình nói
chung và kiểm toán đối với khoản mục vay nói riêng, nhận thấy công tác thực hiện kiểm
toán tại AASC thể hiện nhiều ưu điểm:
Đánh giá tình hình thực hiện chung cho mọi công tác nghiệp vụ kiểm toán tại AASC:
- Nhìn chung công tác tiến hành kiểm toán đối với mọi khách hàng đều được công
ty thiết lập một chương trình cụ thể, sát hợp với quy trình thực hiện, khoa học phù hợp
với đặc điểm tổ chức và nhân sự vốn có của công ty mà vẫn đảm bảo được các quy định
chung của ngành cũng như đảm bảo được các nguyên tắc quy định trong chuẩn mực nghề
nghiệp.
- Quá trình tìm hiểu và đánh giá khách hàng được công ty thực hiện một các chi tiết,
cụ thể, chặt chẽ nhằm hiểu được khách hàng_ đối tượng công ty thực hiện cung cấp dịch
vụ.
- Các nhân viên kiểm toán của công ty AASC có phong cách làm việc nghiêm túc,
chuyên tâm công việc và thái độ tốt với khách hàng.
Đánh giá riêng đối với công tác kiểm toán khoản mục vay:
- Thực hiện kiểm soát đối với khoản mục vay được tiến hành chặt chẽ: công ty
không những thiết lập bảng câu hỏi cho toàn bộ hệ thống KSNB của công ty mà còn thiết
lập riêng bảng câu hỏi đánh giá HTKSNB cho từng khoản mục. Hỗ trợ cho vịêc đánh giá
rủi ro kiểm soát đối với khoản mục được chính xác hợn.
- Chương trình kiểm toán khoản vay được công ty nghiên cứu và thực hiện hợp
lý áp dụng chung cho mọi đối tượng khách hàng, tuy nhiên công ty đã ứng dụng linh họat
Nguyễn Thị Nguyệt Thu_Kiểm toán 47a
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nguyệt Thu_Kiểm toán 47a
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đưa ra những nét chung nhất đối với toàn bộ báo cáo mà không đi sâu vào các khoản
vay . Tuy nhiên, những thủ tục này được chủ nhiệm kiểm toán thực hiện dựa trên kinh
nghiệm của mình và so sánh, phân tích định tính, không mang tính chất định lượng. Việc
phân tích này không đánh giá được hết mức độ rủi ro của các khoản vay đối với từng đối
tượng cho vay cũng như rủi ro đối với kế hoạch thanh toán các khoản vay, lãi vay đúng
hạn, hay khả năng thanh toán của công ty. Đôi khi, đối với những khách hàng nhỏ, phí
kiểm toán thấp, thủ tục kiểm toán đối với các khoản vay bị bỏ qua.
- Phân bổ mức trọng yếu cho khoản mục vay: Mức trọng yếu đối với từng khoản
mục trên báo cáo tài chính là khác nhau, với từng doanh nghiệp khác nhau, tính trọng yếu
của các khoản mục cũng được đánh giá khác nhau. Đối với doanh nghiệp sử dụng nguồn
vay từ bên ngoài nhiều hơn là vốn chủ thì các khoản vay ngắn hạn và dài hạn được quan
tâm hơn cả. Đối với từng khách hàng cụ thể có cơ cấu vay cũng như tỷ trọng các khoản
vay trong cơ cấu vốn hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, sau khi tính mức trọng yếu tổng
thể thì KTV chính phân bổ mức trọng yếu chi tiết theo hệ số 1,2,3 và được áp dụng cho
mọi khoản mục. Việc phân bổ tính trọng yếu cho các khoản mục theo hệ số trên không
đảm báo tính chính xác cho việc phân bổ này. Bởi các tài khoản của đơn vị chỉ được phân
cấp tính trọng yếu thành 3 cấp không đảm bảo tính chính xác, xát thực.
3.2.2 Hạn chế trong công tác thực hiện kế hoạch kiểm toán khoản mục vay:
- Hạn chế trong thực hiện thủ tục phân tích: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Số
520 có quy định rằng việc thực hiện thủ tục phân tích được thực hiện cả trong giai đoạn lập
kế hoạch kiểm toán, trong thử nghiệm cơ bản và trong giai đoạn soát xét tổng thể cuộc
kiểm toán. Nội dung thủ tục phân tích bao gồm: So sánh thông tin về các khoản vay tương
ứng trong kỳ này với các kỳ trước, so sánh giữa thực tế với kế hoạch vay của đơn vị , so
sánh giữa thực tế với ước tính của KTV (Ví dụ: chi phí lãi vay giữa số liệu ước tính của
KTV với số liệu do doanh nghiệp cung cấp, so sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị
trong cùng ngành có cùng quy mô hoạt động, hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng
ngành. Thủ tục phân tích được thực hiện nhằm mục đích giúp KTV xác định nội dung, lịch
3.2.3 Hạn chế trong công tác kết thúc kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán:
- Kết thúc kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán là công việc cuối cùng của cuộc kiểm
toán. Ở giai đoạn này, KTV thực hiện tổng hợp các công việc giai đoạn trước thực hiện,
trao đổi để thống nhất với BGĐ về các bút toán điều chỉnh hợp lý. Giải thích các vấn đề
Nguyễn Thị Nguyệt Thu_Kiểm toán 47a
44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vướng mắc cả từ phía khách hàng và phía kiểm toán. Đưa ra bảng nhận xét về các khoản
mục trên cở sở đánh giá nhận xét của quy trình soát xét 3 cấp. Đồng thời kiểm toán viên
cũng bày tỏ ý kiến đóng góp với khách hàng để hệ thống kế toán của khách hàng hoạt
động có hiệu quả hơn. Và công vịêc cuối cùng là phát hành BCKT. Tại AASC, các công
việc ở giai đoạn này các KTV hầu như chỉ tập trung vào các công việc thuộc phần hành
kiểm toán dể hoàn thiện quy trình kiểm toán, phát hành báo cáo kiểm toán mà không
quan tâm nhiều đến các dịch vụ hỗ trợ và chăm sóc khách hàng. Công ty cũng chưa quan
tâm đến chất lượng kiểm toán hay năng lực trình độ của nhân viên còn yếu ở điểm nào để
tạo ký năng cho các công việc kiểm toán lần sau.
- Dịch vụ chăm sóc khách hàng cũng chưa được ban lãnh đạo công ty chú ý. Khách
hàng đến với công ty không chỉ là môt năm kiểm toán mà có thể là káhc hàng thường
xuyên với công ty và là cầu nối công ty với các đối tác khác. Chính vì vậy việc tạo lập
dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ khách hàng là rất cần thiết để khách hàng nhậ n thấy được uy
tín của công ty cũng như chất lượng trong việc cung cấp dịch vụ.
3.3 Tính tất yếu phải hoàn thiện chương trình kiểm toán khoản
mục vay.
ở Việt Nam, Kiểm toán được quan tâm và tỏ ra có hiệu quả đối với các cấp quản lý
bắt đầu từ những năm 1991. Sự xuất hiện của Kiểm toán Việt Nam đã sớm được các cấp
nhà nước quan tâm đặc biệt. Chính phủ đã xây dựng các nghị định để tạo cơ sở pháp lý
cho sự hoạt động của ngành như nghị định 07/CP; sau đó ban hành nghị định
105/2004/NĐ-CP và nghị định 133/2005/NĐ-CP nhằm bổ sung một số nội dung. Bên
cạnh Luật kế toán cũng ban hành một số một số quy định liên quan đến kiểm toán, Bộ Tài
chính cũng đã ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam nhằm cụ thể hoá các nguyên
khác nhau. Đối với thực hiện khoản mục vay cũng vậy, cần phải từng bước hoàn thiện,
khắc phục các nhươc điểm trong thực tế mắc phải để hoàn thiệ hơn, góp phần hoàn thiện
chương trình kiểm toán BCTC, phục vụ cho nhu cầu quản lý. Góp phần hoàn thiện công
tác kiểm toán tại Việt Nam nói riêng, thúc đẩy ngành kiểm toán VN ngày càng có vị thế
so với khu vực và thế giới.
Chính vì vậy, kiểm toán khoản mục vay trên cơ sở thực tiễn thực sự có ý nghĩa
quan trọng đối với các công ty kiểm toán, ngành kiểm toán nói chung và chương trình
kiểm toán do công ty AASC thực hiện nói riêng.
Nguyễn Thị Nguyệt Thu_Kiểm toán 47a
66
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.4 Giải pháp hoàn thiện kiểm toán các khoản vay trong kiểm
toán BCTC do Công ty TNHH Tư vấn Tài chính Kế toán và
Kiểm toán AASC thực hiện.
3.4.1 Hoàn thiện chương trình trong giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế
chương trình kiểm toán.
3.4.1.1 Hoàn thiện thủ tục phân tích trong chuẩn bị và lập kế hoạch kiểm
toán:
Công ty cần đưa ra các chỉ tiêu phân tích tài chính có liên quan đến tất cả các
khoản mục, sau khi đánh giá khái quát sẽ đưa ra được mức độ rủi ro cho từng khoản mục,
Công ty cần tập trung vào những khoản mục được đánh giá là có độ rủi ro cao. Đối với
các khoản vay có thể đưa ra sử dụng chỉ tiêu sau:
1. Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay:
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế
Chi phí lãi vay
2. Lãi vay là khoản chi phí doanh nghiệp buộc phải vượt qua nếu không muốn phá
sản. Chỉ số liên quan trực tiếp đến khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp có thể gọi là chỉ
số hoàn trả lãi vay. Chỉ số này được tính bằng cách chia thu nhập trước thuế (trước thuế
và lãi vay) cho lãi vay chi trả. Chỉ số này chú trọng khả năng doanh nghiệp tạo ra đủ thu
nhập để trang trải lãi vay.
Hiện nay, tại Việt Nam hầu như các Công ty đều xác định mức quy mô tổng thể rồi
phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục là như nhau. Một số công ty kiểm toán việc
đánh giá và phân bổ tính trọng yếu có thể là lựa chọn tỷ lệ %, việc này có thể mang tính
chính xác cao hơn so với lựa chon hệ số 1,2,3 do tỷ lệ % có phạm vi dao động lớn hơn( từ
0% đến 100%). Tuy nhiên các tỷ lệ % này đa số chỉ được sử dụng ở một số giá trị cụ thể
như 20%,40%, 80%... chứ không tính đến các hệ số % lẻ. Điều này không thể đánh giá
được chính xác mức độ trọng yếu của các khoản mục vì với mỗi khoản mục, tuỳ thuộc
vào doanh nghiệp mà mức độ rủi ro là khác nhau. Công ty AASC cũng thực hiện đánh giá
mức độ trọng yếu của các khoản mục là như nhau. Việc phân bổ mức độ trọng yếu phụ
thuộc vào các yếu tố như: Mức độ trọng yếu tổng thể; bản chất, quy mô của các khoản
Nguyễn Thị Nguyệt Thu_Kiểm toán 47a
88
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục; mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đối với từng khoản mục, kinh nghiệm của
KTV ...trong đó yếu tố kinh nghịêm của KTV lại là yếu tố chính mà công ty lại không
đánh giá được yếu tố này.
Việc đánh giá chính xác mức độ trọng yếu của các khoản mục không thể tuyệt
đối, chính vì vậy việc đánh giá tính trọng yếu của khoản vay cũng chỉ mang tính tương
đối. Nhưng để đạt được mức tương đối càng cao, sau đây em xin đề nghi một giải pháp
thực hiện tính toán nhằm đánh giá và phân bổ tính trọng yếu cho các khoản mục nói
chung và khoản vay nói riêng mà em đã nghiên cứu trong phạm vi chuyên đề của mình:
Bước 1: Lựa chọn các chỉ tiêu cho đánh giá mức trọng yếu tổng thể:
Các chỉ tiêu thường được sử dụng là: thu nhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng
vốn dài hạn, nợ ngắn hạn...
Tuy nhiên các chỉ tiêu này không thể sử dụng chung cho toàn bộ khách hàng bởi đặc thù
loại hình kinh doanh, quy mô hoạt động...của mỗi khách hàng khác nhau.
Bước 2: Tiến hành ước lượng mức độ trọng yếu của các chỉ tiêu đã lựa chọn.
Bước công việc này cũng mang tính chất phán đoán của KTV, tuy nhiên các tỉ lệ
phân bổ thông thường cho các chỉ tiêu thường được sử dụng và được coi là cơ sở lý
thuyết chung mà các đơn vị kiểm toán thường áp dụng.
Bước 5: Lập bảng tổng hợp mức độ trọng yếu phân bổ ban đầu đối với các khoản mục
Bước 6: Dựa vào kinh nghiệm của KTV cũng như tính chất các khoản mục để điều chỉnh mức
độ trọng yếu của các khoản mục.
Bước 7: Lập bảng tổng hợp mức độ trọng yếu phân bổ cho các khoản mục sau điều chỉnh.
Căn cứ vào mức trọng yếu và cơ cấu các mức trọng yếu cho bảng phân bổ đã
được lập ở trên, căn cứ vào thời gian phải hoàn thành chương trình kiểm toán, KTV tiến hành
ước lượng thời gian cho từng khoản mục cũng như số lượng bằng chứng cần thu thập cho
khoản mục đó. Nhờ đánh giá được tính trọng yếu của các khoản vay nên KTV có kế hoạch cụ
thể hơn nhằm hoàn thiện các thủ tục kiểm các khoản vay nhanh chóng và chính xác hơn.
Cần giao công việc này cho các kiểm toán viên có kinh nghiệm bởi tính chất phức tạp
và tính phán đoán của việc phân bổ đòi hỏi rất cao.
Các kiểm toán viên có thể tham khảo thông tin hỗ trợ cho công việc này từ hồ sơ của
các cuộc kiểm toán trước, lưu ý tính đến các nhân tố thay đổi năm nay so với năm trước của
doanh nghiệp. Các thông tin từ các đơn vị cùng ngành có tính đến các nhân tố đặc trưng cho
từng đơn vị khách hàng.
3.4.2 Hoàn thiện chương trình trong giai đoạn thực hiện kiểm toán.
3.4.2.1 Thủ tục phân tích:
Mục tiêu thực hiện thủ tục phân tích trong giai đoạn này nhằm thu thập bằng chứng
kiểm toán đầy đủ và đáng tin cậy.
Bước 1: Phát triển mô hình. Xác định mối quan hệ giữa các chỉ tiêu vay với tổng
vay so với tổng nguồn vốn.
Với mỗi một mô hình cần xác định việc phát triển mô hình là để dự đoán số dư tài
khoản vay chi tiết hiện tại hay để dự đoán thay đổi so với năm trước các khoản vay với
từng chủ vay so năm trước.
Thông thường việc dự đoán thay đổi so với năm trước sẽ có hiệu lực khi số dư
năm trước đã được kiểm toán. KTV sẽ gặp khó khăn với những tài khoản vay bất thường,
vay do phát sinh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hay mua tài sản. Trong trường hợp năm
trước và các năm trước đó, các khoản vay hầu như không biến động hay không phát sinh
các khoản vay do doanh nghiệp đã có đủ vốn hoạt động không cần vay mựơn thêm các
Nguyễn Thị Nguyệt Thu_Kiểm toán 47a
khoản mục.
Bước 5, Xem xét những phát hiện kiểm toán
Nguyễn Thị Nguyệt Thu_Kiểm toán 47a
1111
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trao đổi giữa kế toán phụ trách nợ phải trả với KTV để khẳng định lại số dư tài
khoản.
3.4.2.2 Hoàn thiện công tác lấy xác nhận số dư các khoản vay
Bằng chứng kiểm toán đầy đủ và hợp lý là cơ sở để KTV đưa ra ý kiến của mình
về khoản mục được kiểm toán. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Số 500 “Kiểm toán
viên phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp cho mỗi loại ý kiến của
mình”. Tuỳ thuộc vào từng phần hành kiểm toán cũng như tính chất trọng yếu của khoản
mục cũng như số dư tài khoản KTV tiến hành gửi thư xác nhận. Theo chuẩn mực kiểm
toán Số 505 “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần xem xét sự cần thiết phải sử dụng
thông tin xác nhận từ bên ngoài để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm
hỗ trợ cho cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính. Để đưa ra quyết định này, KTV cần phải
xem xét mức độ trọng yếu, mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, và cân nhắc xem
những bằng chứng có được từ thủ tục kiểm toán thông tin xác nhận từ bên ngoài đã và sẽ
thực hiện cho các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính có làm giảm rủi ro kiểm toán
xuống mức thấp có thể chấp nhận được hay không”. Chính vì vậy, trước khi tiến hành gửi
thư xác nhận số dư tài khoản các khoản vay cần nhắc mức độ trọng yếu của các khoản
mục này. Thực tế đối với khoản mục này hầu hết KTV đều gửi thư xác nhận đối với
những nhà cho vay tín dụng có giá trị lớn hoặc bất thường theo nhận định của KTV.
Đối với các khoản vay thì bằng chứng kiểm toán chủ yếu là từ bảng cân đối kế
toán, sổ cái tài khoản 311, 341 ... biên bản đối chiếu giữa doanh nghiệp và sổ phụ ngân
hàng. Tuy nhiên bằng chứng đáng tin cậy nhất trong công tác kiểm toán vẫn là bằng
chứng do KTV tìm hiểu và kết luận dựa trên thư yêu cầu xác nhận công nợ do KTV lập
và xác nhận.
Hiện nay, tại hầu hết các công ty kiểm toán đều thu thập bằng chứng thông qua
Thư xác nhận số dư các tài khoản đối với các bên liên quan đều phải thông qua sự đồng ý