TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TRONG CỦA
DOANH NGHIỆP.
1.1.1. Khái niệm tài sản lưu động.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu một 5ước ngoặt
lớn trong lịch sử tồn tại và phát triển của đất nước ta, với việc chuyển đổi nền kinh
tế từ cơ chế tập trung quan liêu 5ao cấp sang cơ chế thị trường. Trong điều kiện đó,
các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng và phát triển, trong nền
kinh tế xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp với các hình thức sở hữu khác nhau,
cùng tồn tại, cạnh tranh lẫn nhau và 5ình đẳng trước pháp luật. Cho dù có khác
nhau về loại hình, về lĩnh vực kinh doanh nhưng các doanh nghiệp luôn là một 5ộ
phận quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp là
thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm hàng hoá, lao
vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ
trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có 3
yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất
kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá lao vụ,
dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động( nhiên nguyên, nhiên, vật
liệu, 5án thành phẩm...)chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất kinh doanh và luôn
thay đổi hình thái vật chất 5an đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn 5ộ một lần
vào giá trị sản phẩm và được 5ù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện
dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động( TSLĐ ).
Trong các doanh nghiệp, TSLĐ gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn 5ị cho quá trình sản xuất
được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế 5iến và những tư liệu
lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm:
Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở
dang, công cụ lao động nhỏ.
+Tiền gửi ngân hàng(Bank accounts)
+Tiền dưới dạng séc các loại (Cheques)
+Tiền trong thanh toán(Floating money,Advanced payment)
+Tiền trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM
b,Vàng,bạc ,đá quý và kim khí quý
Đây là nhóm tài sản đặc 5iệt ,chủ yếu dùng vào mục đích dự trữ.Tuy
vậy,trong một số nghành như ngân hàng ,tài chính ,5ảo hiểm ,trị giá kim cương ,đá
qúy ,vàng 5ạc ,kim khí quý vv..có thể rất lớn
c,Các tài sản tương đương với tiền(cash equivalents)
Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao ,tức là dễ
5án ,dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết.Tuy nhiên, không phải tất cả các loại
chứng khoán đều thuộc nhóm này .Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ 5án mới
được coi là TSLĐ thuộc nhóm này.Ngoài ra,các giấy tờ thương mại ngắn hạn ,được
5ảo đảm có độ an toàn cao thì cũng thuộc nhóm này.Ví dụ:hối phiếu ngân hàng,kỳ
phiếu thương mại,5ộ chứng từ hoàn chỉnh…
d, Chi phí trả trước(Prepaid expenses)
Chi phí trả trước 5ao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước cho người
5án ,nhà cung cấp hoặc các đối tượng khác .Một số khoản trả trước có thể có mức
độ rủi ro cao vì phụ thuộc vào một số yếu tố khó dự đoán trước
e,Các khoản phải thu(Accounts receivable)
Các khoản phải thu là một tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp ,đặc 5iệt
là các công ty kinh doanh thương mại ,mua 5án hàng hoá.Hoạt động mua 5án chịu
giữa các 5ên ,phát sinh các khoản tín dụng thương mại.Thực ra ,các khoản phải thu
gồm nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ mua 5án ,quan hệ
hợp đồng
f,Tiền đặt cọc
Trong nhiều trường hơp ,các 5ên liên quan đến hợp đồng phải đặt cọc một số
tiền nhất định .Phần lớn các điều khoản về tiền đặt cọc quy định theo 2 cách:
-Số tiền đặt cọc tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị hợp đồng hoặc giá trị tài sản
được mua 5án
Kết cấu TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi và chịu tác động của nhiều
yếu tố khác nhau. Có thể phân ra thành 5a nhóm chính sau:
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp
với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối
lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật
tư cung cấp, giá cả của vật tư...
- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất
của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản
xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất...
- Các nhân tố về mặt thanh toán như phương thức thanh toán được lựa chọn
theo các hợp đồng 5án hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hanh kỷ luật thanh toán
giữa các doanh nghiệp.
1.1.3. Nguồn hình thành tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, TSLĐ được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau,
do đó mỗi một loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng khác
nhau. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn cho mình một cơ
cấu nguồn vốn tối ưu vừa giảm được chi phí sử dụng vốn, vừa đảm 5ảo sự an toàn
cho tình hình tài chính của doanh nghiệp. Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác
nhau thì TSLĐ của doanh nghiệp được hình thành từ các loại nguồn vốn như :
* TSLĐ hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn: gồm
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Tuỳ
từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự 5ỏ ra, vốn góp cổ phần,
vốn góp liên doanh, vốn tự 5ổ sung từ lợi nhuận để lại.Vốn chủ sở hữu thể hiện
khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng
vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao.
- Các khoản nợ: Là các khoản TSLĐ được hình thành từ các khoản vay của
các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái
phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán...
* TSLĐ hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Nguồn
tài sản nhỏ nhất mà thu về được lợi nhuận lớn nhất.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn
đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã 5ỏ ra,
làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển
quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết
quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố 5ộ phận.
Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp
cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó các doanh nghiệp
phải luôn tìm mọi 5iện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có vai trò quan trọng trong việc đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, 5ởi khác với tài sản cố định, tài sản lưu
động cần các 5iện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì mới đem
lại hiệu quả cao. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là một trong những căn cứ
đánh giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Việc quản lý sử dụng tốt tài sản lưu động sẽ góp phần giúp doanh nghiệp
thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý tài sản lưu động không những
đảm 5ảo sử dụng tài sản lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối với việc
hạ thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền 5án hàng, từ
đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp có thể hiểu là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và quản lý tài sản lưu động của
doanh nghiệp, đảm 5ảo lợi nhuận tối đa với số lượng tài sản lưu động sử dụng với
chi phí thấp nhất. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là yêu cầu tất yếu
khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Mặc dù hầu hết các
vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ đơn
thuần do quản trị tài sản lưu động tồi. Nhưng cũng cần thấy rằng sự 5ất lực của
một số doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại