Đánh giá thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng qua ý kiến người bệnh tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh vĩnh phúc năm 2020 - Pdf 75

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ ĐƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CỦA ĐIỀU DƯỠNG QUA Ý KIẾN NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2020.

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - NĂM 2020


i

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ ĐƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CỦA ĐIỀU DƯỠNG QUA Ý KIẾN NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2020.

Chuyên ngành: Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: TS-BS Trần Văn Long

NAM ĐỊNH - 2020


ii
LỜI CAM ĐOAN.
Tên tôi là Nguyễn Thị Đương
Học viên lớp Điều dưỡng chuyên khoa 1 K7 - chuyên ngành Nội người
lớn – Trường Đại Học Điều dưỡng Nam Định
Tôi xin cam đoan đầy là chuyên đề của riêng tôi, do chính tơi thực hiên
dưới sự hướng dẫn của TS-BS Trần Văn Long.
Các số liệu trong chuyên đề này hoàn toàn trung thực, khách quan và
chưa được công bố trong bất cứ một cơng trình nào khác.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về những điều cam đoan trên.

Học viên

Nguyễn Thị Đương


ii


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. i
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................ iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................... v
DANH MỤC BẢNG ................................................................................. vi

iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BV

Bệnh viện

ĐD

Điều dưỡng

GDSK

Giáo dục sức khỏe

NB

Người bệnh

PHCN

Phục hồi chức năng


iv
DANH MỤC CÁC BẢNG



GDSK của điều dưỡng ..........................................

27

Nội dung NB muốn được GDSK nhiều hơn ..........

28


v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH

Trang
Hình 2.1

Quy định kế hoạch về GDSK tại viện ...................

15

Hình 2.2

Tài liệu tư vấn GDSK ...........................................

16

Hình 2.3

Tập huấn GDSK tại bệnh viện ..............................


26

Biểu đồ 2.3

Tỷ lệ hài lòng của NB về GDSK của điều dưỡng..

27

Biểu đồ 2.4

Tỷ lệ nội dung NB muốn được GDSK nhiều hơn .

28


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, khi xã hội càng phát triển, điều kiện vật
chất và trình độ dân trí ngày càng cao, sức khỏe của con người ngày càng
được quan tâm và giữ gìn. Người dân khi đến cơ sở y tế khám và điều trị đã
rất phối hợp với nhân viên y tế, cung cấp trung thực thơng tin liên quan đến
tình trạng sức khỏe của mình. Thay vì chờ đợi họ chủ động muốn được cung
cấp thơng tin về tình trạng bệnh lý, q trình điều trị, chăm sóc, cách phịng
bệnh [7]. Để đáp ứng được nhu cầu của NB, điều dưỡng cần phải có kiến
thức, kỹ năng, thái độ giao tiếp tốt để thực hiện nhiệm vụ GDSK cho người
bệnh.
Hoạt động GDSK có vai trị quan trọng giúp NB thay đổi hành vi tích
cực, phịng bệnh hay có những kiến thức về bệnh tật để tuân thủ theo các
nguyên tắc điều trị và có thể tự chăm sóc tốt hơn. GDSK khơng chỉ làm tăng
sự hài lịng của NB mà cịn đảm bảo an tồn cho NB trong chăm sóc y khoa

nhân và đề xuất giải pháp giúp điều dưỡng thực hiện tốt nhiệm vụ GDSK cho
người bệnh, đáp ứng được nhu cầu, tiến tới sự hài lòng của người bệnh.Chính
vì thế tơi thực hiện chun đề “ Thực trang công tác giáo dục sức khỏe của
điều dưỡng qua ý kiến người bệnh tại bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh
Vĩnh Phúc năm 2020” với 02 mục tiêu:
1.Đánh giá thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng qua ý
kiến người bệnh tại Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020
2.Phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả
công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại bệnh viện phục hồi chức năng
tỉnh vĩnh phúc năm 2020.


3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1Khái quát về truyền thông giáo dục sức khỏe
1.1.1.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (1998) khái niệm liên quan
đến GDSK được mô tả như sau:
- Nâng cao sức khoẻ (Health promotion): Là quá trình khuyến khích con
người tăng cường kiểm sốt và cải thiện sức khoẻ của họ
- Giáo dục sức khoẻ (Health education): Bao gồm các cơ hội được xây
dựng có ý thức để học tập liên quan đến một số hình thức giao tiếp được thiết
kế để cải thiện khả năng đọc, viết, nâng cao kiến thức và phát triển các kỹ
năng sống có lợi cho sức khỏe cá nhân và cộng đồng [23].
Theo tài liệu giảng dạy Giáo dục và nâng cao sức khỏe của Viện Đào
tạo Y học Dự Phịng và Y tế cơng cộng, Trường Đại học Y Hà Nội dã đưa ra
khái niệm:
Truyền thông GDSK là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch

thông qua việc đánh giá và tự đánh giá để không ngừng tự hoàn thiện các
hành vi. Dựa trên những cơ sở tâm lý này, người cán bộ y tế phải lựa chọn
phương pháp, phương tiện Truyền thông GDSK phù hợp cho từng đối tượng
để truyền thông GDSK đạt hiệu quả tối ưu nhất [10].
1.1.1.3 Kỹ năng giáo dục sức khỏe
Để GDSK cho NB và người nhà người bệnh có hiệu quả yêu cầu người
làm công tác GDSK cần phải nắm dược các kiến thức cơ bản sau [11]:
- Kiến thức về y học
- Kiến thức về tâm lý học
- Kiến thức về khoa học hành vi
- Kiến thức về giáo dục học nói chung và kiến thức về giáo dục y học nói
riêng.
- Các hiểu biết về nền văn hố địa phương, dân tộc


5
- Những hiểu biết thơng thường về thời sự, chính trị, xã hội.
Ngoài ra muốn đạt hiệu quả cao trong hoạt động GDSK cho NB và
người nhà NB, điều dưỡng viên phải biết chọn đúng thời gian, địa điểm thuận
tiện, biết lôi kéo họ tham gia vào các hoạt động chung của khoa phòng bệnh
viện và phải biết sử dụng các phương tiện truyền thơng đại chúng có sẵn.
Người điều dưỡng cần thử nghiệm cẩn thận các phương pháp và phương tiện
GDSK trước khi sử dụng rộng rãi.
Các kỹ năng thường sử dụng trong GDSK
- Nói, hỏi, nghe, quan sát, hiểu, thuyết phục
- Chọn thời gian giáo dục sức khỏe
- Chọn đúng người và nơi giáo dục sức khỏe
- Kỹ năng đóng vai để giáo dục sức khỏe
1.1.1.4 Phương pháp và phương tiện giáo dục sức khỏe
Phương pháp GDSK là cách thức người làm giáo dục sức khỏe thực

12/VBHN-VPQH, chương II, Mục 1 Quyền của người bệnh.
- Điều 7. 1. Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều
trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh. [7]
- Điều 10. 1. Được cung cấp thơng tin, giải thích, tư vấn đầy đủ về tình trạng
bệnh, kết quả rủi ro có thể xảy ra để lựa chọn phương pháp chẩn đoán và điều
trị. [7]
- Điều10.3. Được lựa chọn người đại diện để thực hiện và bảo vệ quyền,
nghĩa vụ của mình trong khám bệnh, chữa bệnh [7].
GDSK cho người bệnh, gia đình người bệnh là thực hiện Quyền của
người bệnh theo quy định của pháp luật và cũng là một trong các nhiệm vụ
quan trọng của công tác điều dưỡng.
Theo Hội Y học thế giới (2005), NB có quyền được GDSK:
- Mọi người đều có quyền được GDSK để có thể hỗ trợ họ đưa ra những
quyết định về chăm sóc cho bản thân và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.


7
- Giáo dục sức khỏe bao gồm các thông tin về lối sống, về phương pháp
phòng ngừa và phát hiện sớm bệnh. Cần nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân
của người bệnh đối với sức khỏe của bản thân họ.
- Nhân viên y tế có trách nhiệm tham gia tích cực vào các nỗ lực giáo dục sức
khỏe cho người bệnh [18].
1.1.2 Văn bản pháp lý quy định về công tác GDSK
1.1.2.1. Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011
hướng dẫn cơng tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện:
- Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe:
- Chăm sóc về tinh thần
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân
- Chăm sóc dinh dưỡng
- Chăm sóc phục hồi chức năng

bệnh viện) và lộ trình cần ưu tiên xây dựng, cập nhật tài liệu truyền thơng,
GDSK.
- Phịng điều dưỡng làm đầu mối hoặc tham gia xây dựng các nội dung, tài
liệu truyền thông, GDSK cho người bệnh theo lộ trình đã lập, có tham khảo
các tài liệu khác (trong nước và nước ngoài).
- Người bệnh được tư vấn, GDSK phù hợp với bệnh khi vào viện, trong
quá trình điều trị và lúc ra viện.
- Người bệnh có được các kiến thức, thực hành thiết yếu để tự theo dõi,
chăm sóc, điều trị và phịng các biến chứng cho bản thân.
- Người bệnh được điều đưỡng, hộ sinh nhận định nhu cầu tư vấn GDSK
và ghi vào “Phiếu chăm sóc điều dưỡng”.
- Tiến hành đánh giá (hoặc nghiên cứu) hiệu quả hoạt động truyền thông,
GDSK cho người bệnh; có báo cáo đánh giá, trong đó có chỉ ra những nhược
điểm cần khắc phục và đề xuất giải pháp cải tiến chất lượng.
- Thực hiện các giải pháp cải tiến chất lượng công tác tư vấn, truyền thông,
GDSK cho người bệnh dựa trên kết quả đánh giá [2].


9
1.1.2.3. Theo quy định của bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Vĩnh
Phúc
Tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Vĩnh Phúc có quy định về giáo dục
sức khỏe cho người bệnh thơng qua 2 hình thức trực tiếp và gián tiếp
Hình thức tun truyền trực tiếp:
- Thơng qua các buổi họp hội đồng người bệnh tại các khoa có bệnh nhân nội
trú, Phòng Điều Dưỡng kết hợp với điều dưỡng trong khoa thực hiện tư vấn
GDSK cho bệnh nhân và thân nhân của bệnh nhân.
- Tại khoa Khám Bệnh: thực hiện tư vấn GDSK trực tiếp cho bệnh nhân và
thân nhân người bệnh đến khám, điều trị ngoại trú về bệnh tật và cách phòng
chống dịch bệnh.

tại 26 đơn vị trong bệnh viện cho thấy điều dưỡng ưu tiên hoạt động GDSK
cho bệnh nhân trong hoạt động chăm sóc hàng ngày tương đối cao điểm trung
bình 3,86 trên thang 1-5 (SD = 0,75). Và điều dưỡng nhận thức được vai trò
của GDSK, điểm trung bình là 4,6 (SD = 0,51). Rào cản lớn nhất đối với giáo
dục bệnh nhân là tình trạng làm việc quá tải (điểm trung bình = 3.04, SD =
1.13), và lý do đó điều dưỡng đã khơng tham gia vào việc giáo dục bệnh
nhân. Bên cạnh đó điều dưỡng viên thiếu kiến thức (ĐTB=1,59), giao tiếp
khó khăn (ĐTB=1,57), thiếu các chính sách (ĐTB=1.96) cũng là các rào cản
trong hoạt động GDSK cho bệnh nhân [22].
Nghiên cứu của Anne – Louis Bergh và cộng sự (2011) với 701 điều
dưỡng tại các cơ sở y tế chăm sóc ban đầu, cơ sở y tế địa phương và các bệnh
viện ở phía Tây Nam của Thụy Điển cho thấy các điều dưỡng ở các cơ sở y tế
chăm sóc ban đầu giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân tốt hơn và được hỗ trợ từ
quản lý nhiều hơn, không bị làm phiền trong lúc GDSK. Rất ít nơi làm việc
mà điều dưỡng (9%) có trách nhiệm phát triển giáo dục sức khỏe [16]. .
Đã có 176 điều dưỡng tham gia nghiên cu ca Avsáar G, Kasáikỗi M
(2011) ỏnh giỏ hot ng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng lâm sàng cho
người bệnh ở Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ có hai điều dưỡng (1.1%) ghi vào hồ sơ hoạt
động giáo dục sức khỏe cho người bệnh và hầu hết người bệnh (72.7%) cho


11
rằng phương pháp và kỹ thuật chưa thích hợp trong giáo dục sức khỏe. Điều
dưỡng (85,8%) không ủng hộ sự tham gia tích cực của gia đình người bệnh
trong giáo dục sức khỏe, và 82,4% điều dưỡng cho rằng quá trình giáo dục
sức khỏe khơng liên quan đến gia đình người bệnh. Tuy nhiên nghiên cứu này
cũng cho thấy các điều dưỡng đã chú ý đến việc điều chỉnh mức độ giáo dục
sức khỏe cung cấp cho từng độ tuổi (82,4%) và từng bệnh nhân (75,0%) [16].
Nghiên cứu của Nader Aghakhani và cộng sự (2012) tại Iran cho thấy
điều kiện giáo dục trong các bệnh viện chưa tốt và hầu hết điều dưỡng cho

trên 207 người bệnh tại 10 khoa lâm sàng bệnh viện Phổi trung ương năm
2015 đã đánh giá chung hoạt động hướng dẫn, tư vấn, giáo dục sức khỏe chỉ
đạt (50,2%). Trong đó tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn, tư vấn, GDSk trước
phẫu thuật đạt kết quả cao nhất là (100%) và thấp nhất là hướng dẫn luyện tập
phục hồi chức năng là (59,9%). Chất lượng điều dưỡng còn hạn chế và thiếu
tài liệu hướng dẫn GDSK ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn, hướng dẫn,
GDSK [5].
Tại bệnh viện Hữu Nghị, Dương Thị Bình Minh (2012) đã nghiên cứu
với 216 phiếu khảo sát người bệnh nội trú tại thời điểm xuất viện. Kết quả cho
thấy công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK có tỷ lệ đạt yêu cầu thấp hơn hẳn so
với các tiêu chí được xếp loại để đánh giá công tác ĐD chỉ là 66,2%. Nhiều
người bệnh đánh giá điều dưỡng không thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt
việc: hướng dẫn người bệnh chế độ ăn uống (13%), hướng dẫn, hỗ trợ người
bệnh tập luyện phục hồi chức năng (18,5%) và hướng dẫn NB cách tự phòng
bệnh trong khi ra viện (22%) [4] .
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Bích Ngà (2011), đánh giá về
thực trạng cơng tác chăm sóc của điều dưỡng tại bệnh viện Y học cổ truyền
Trung ương với 266 người bệnh. Tỷ lệ người bệnh được giáo dục sức khỏe
chỉ đạt 49,6% [6].


13
Nghiên cứu của Trần Ngọc Trung (2012) tại bệnh viện Đa khoa tỉnh
Lâm Đồng, với 400 người bệnh, kết quả tỷ lệ người bệnh được tư vấn, hưỡng
dẫn, GDSK chỉ đạt 24,7% [8].
Tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Đinh Ngọc Thành
(2014) đã nghiên cứu với 123 người bệnh điều trị nội trú các khoa Nội. Mức
độ hài lòng của người bệnh với giao tiếp của điều dưỡng là 3,53±0,49. Mức
độ hài lòng với sự tư vấn của điều dưỡng dành cho người bệnh là 3,39±0,07,
với sự hướng dẫn chăm sóc, phịng bệnh là 3,7±0,64, với sự giải thích về các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status