thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh năm 2020 - Pdf 75

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ QUỲNH PHƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH NĂM 2020

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I

NAM ĐỊNH - 2020


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ QUỲNH PHƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH NĂM 2020

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP CHUYÊN KHOA CẤP I
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

Giảng viên hướng dẫn: TS.BS. Ngơ Huy Hồng

NAM ĐỊNH - 2020


Vinh, ngày 09 tháng 8 năm 2020
Người cam đoan

Nguyễn Thị Quỳnh Phương


iii


MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................................... iv
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................. 1
Chương 1 ………………………………………………………………………………4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................................................... 4
1.1. Cơ sở lý luận ......................................................................................................... 4
1.2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................... 11
Chương 2……………………………………………………………………………...14
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT ...................................................................... 14
2.1. Một số thông tin khái quát về bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh ....................... 14
2.2. Thực trạng công tác GDSK tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh .................... 15
Chương 3. ……………………………………………………………………………..25
BÀN LUẬN .............................................................................................................. 25
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu…………………………………………...25
3.2. Thực trạng công tác GDSK của ĐD tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh ....... 25
3.3. Phân tích những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện công việc

HĐNB

Hội đồng người bệnh

NB

Người bệnh

ĐD

Điều dưỡng


iv
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng

18

Bảng 2.2 Đánh giá chung kiến thức tư vấn- GDSK của điều dưỡng

18

Bảng 2.3 Tỷ lệ người bệnh được điều dưỡng tư vấn trong thời gian nằm
viện
Bảng 2.4 Thời điểm điều dưỡng thực hiện GDSK cho người bệnh
Bảng 2.5 Chất lượng chất lượng công tác GDSK của điều dưỡng qua
đánh giá của người bệnh

hành vi, sẽ ảnh hưởng bất lợi đến kết quả điều trị khơng, dự phịng và kiểm sốt tình
trạng bệnh, dẫn đến giảm chất lượng cuộc sống, tăng tỷ lệ tái nhập viện, chi phí điều trị
tăng, bệnh có thể nặng lên và có thể dẫn đến tử vong [6].
Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh là bệnh viện hạng 2 tuyến huyện với mô hình
500 giường bệnh kế hoạch, trung bình người bệnh ngoại trú mỗi ngày khoảng 18002000 người, người bệnh nội trú 650 người. Trong những năm gần đây bệnh viện đã phát
triển toàn diện về mọi mặt như: Là 1 trong những bệnh viện hàng đầu trong việc ứng
dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các hoạt động khám chữa bệnh, bên cạnh đó
các hoạt động chun mơn ln được Ban giám đốc chú trọng, trong đó vấn đề giáo dục
sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng là một trong những vấn đề đang được Bệnh


2
viện quan tâm chú trọng. Hệ thống điều dưỡng của Bệnh viện và chất lượng chăm sóc
người bệnh tại bệnh viện ngày càng tốt hơn. Để có được những tiến bộ kể trên, bên cạnh
việc tăng cường công tác chuyên môn kỹ thuật, hoạt động tư vấn giáo dục sức khoẻ của
điều dưỡng cho người bệnh đang được triển khai thực hiện có hiệu quả, đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của người bệnh. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một đánh giá mang
tính khách quan và khoa học về công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Bệnh
viện Đa khoa thành phố Vinh, đây là lý do để học viên thực hiện chuyên đề “Thực trạng
công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa
khoa Thành phố Vinh năm 2020” với 2 mục tiêu sau:


3
MỤC TIÊU

1. Mô tả thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh
nội trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2020.
2. Phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác giáo dục
sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh.

nhất là ở tuyến y tế cơ sở.
Vì thế:
GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức
năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từTrung ương
đến cơ sở. Nó là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của một cơ sở y tế [5].
1.1.1.3 Các phương pháp GDSK
Phương pháp GDSK trực tiếp [3],[11].


5
Phương pháp GDSK trực tiếp là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp xúc với
đối tượng GDSK. Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả cao
nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng. Người GDSK có thể nhanh chóng nhận được
các thơng tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh cao và có hiệu quả tốt
trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành vi.
Cách thức
+) Tư vấn trong GDSK:
Là một hình thức thường được sử dụng trong GDSK, đặc biệt đối với cá nhân và
gia đình.Trong tư vấn, người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng, động viên đối
tượng suy nghĩ về vấn đề và chọn các hành động riêng để giải quyết vấn đề. Tư vấn còn
hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang mang, lo sợ về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng
khi họ chưa hiểu rõ chúng.
+) Nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức:
Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp mọi người trực tiếp được nghe những
thông tin mới nhất về các vấn đề sức khỏe liên quan tới cá nhân, gia đình và cộng đồng
nhằm giúp các đối tượng suy nghĩ và hướng tới việc thay đổi hành vi. Tuy nhiên phương
pháp này cần kết hợp các phương pháp và sự hỗ trợ khác.
Khi tổ chức một buổi nói chuyện cần làm các việc sau:
- Xác định rõ chủ đề nói chuyện và chỉ nên khu trú vào một chủ đề nhất định.
- Xác định đối tượng tham dự, ngày giờ, địa điểm và thông báo trước để họ chuẩn

bị các bệnh xã hội có định kiến như bệnh lây qua đường tình dục.
+) Đối thoại trực tiếp giữa người làm GDSK với từng cá nhân trong lúc tiến hành
các dịch vụ y tế.
Phương pháp GDSK gián tiếp[3],[11]
GDSK gián tiếp là phương pháp giáo dục mà người giáo dục không trực tiếp tiếp
xúc với các đối tượng giáo dục, các nội dung giáo dục cần được chuyển tải qua các
phương tiện thông tin đại chúng.
Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức
thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dân
một cách có hệ thống. Đó là phương pháp hiện nay vẫn được sử dụng khá rộng rãi trên
thế giới cũng như ở nước ta.
Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận hành sử
dụng các phương tiện thông tin đại chúng.
Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp GDSK gián
tiếp là:
- Đài phát thanh, vơ tuyến truyền hình, video.


7
- Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi.
- Pano, áp phích.
- Sách chuyên đề, sách hỏi đáp về sức khỏe bệnh tật.
1.1.1.4. Phương tiện GDSK [3],[11]
Phương tiện GDSK là công cụ mà người GDSK sử dụng để thực hiện một phương
pháp GDSK và qua đó truyền đạt nội dung GDSK cho đối tượng phân loại các phương
tiện GDSK bao gồm:
Phương tiện bằng lời nói: Lời nói là công cụ sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả
trong GDSK nhất là lời nói trực tiếp với đối tượng. Sử dụng lời nói có thể truyền tải các
nội dung GDSK một cách linh hoạt phù hợp với đối tượng. Lời nói rất tiện lợi và mang
lại hiệu quả cao, có thể sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ, với mọi người, với 1 gia đình, 1

cao cấp [5]. Tuy vậy hiện nay phần lớn tại các bệnh viện chỉ có đến đội ngũ điều dưỡng
đại học.
Trong từng nhiệm vụ cụ thể, Bộ Y tế cũng căn cứ vào trình độ phân loại nhiệm
vụ theo chuyên môn như điều dưỡng sơ cấp khi thực hiện kỹ thuật chun mơn có thể
tham gia trực tiếp hoặc trợ giúp trong chăm sóc.
1.1.2.3. Vai trị chức năng của người điều dưỡng.
Điều dưỡng chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về thể chất
và tinh thần [5]. Để đảm bảo và nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh,
giúp người bệnh sớm bình phục sức khỏe thì đối tượng nào cũng phải hồn thành tốt vai
trị nghề nghiệp của mình đồng thời cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa thầy thuốc và
điều dưỡng . Hội điều dưỡng Mỹ, hội điều dưỡng của các nước Singapore, Thái Lan,
Philipin đã nêu rõ vai trò chức năng của người điều dưỡng chủ yếu là [22]:
1.

Người chăm sóc

2.

Người truyền đạt thơng tin

3.

Người giáo viên

4.

Người tư vấn

5.


thần “cịn nước cịn tát”, khơng bao giờ xa rời vị trí để người bệnh một mình đối phó
với bệnh tật.
Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh: trong khi nằm viện, tinh thần của người bệnh
chịu ảnh hưởng của bản thân bệnh tật, sự cách ly người thân, môi trường bệnh viện và
nhiều yếu tố khác. Vì vậy, tình trạng về tinh thần và thể chất của người bệnh thực tế
khác với tình trạng của người khỏe. Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải
gây được lòng tin của người bệnh vào hiệu quả điều trị.
Tôn trọng nhân cách người bệnh: bản chất của y đức học được thể hiện trong câu
“phải đối xử với người bệnh như anh muốn người ta đối xử với anh”. Khi tiếp xúc với
người bệnh, người điều dưỡng phải tạo ra một mơi trường trong đó mọi giá trị, mọi
phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân đều được tôn trọng. Khi tiếp
xúc với người bệnh, người điều dưỡng không được cáu gắt, quát mắng người bệnh [7].
1.1.2.5. Giáo dục sức khỏe cho người bệnh


10
- GDSK nhằm giúp người bệnh hiểu rõ về bản chất của bệnh, các yếu tố nguy cơ
cho sự tiến triển của căn bệnh, vai trò của người bệnh trong việc đạt đến kết quả điều trị
tối ưu.
- GDSK giúp cải thiện tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị: dùng thuốc đều đặn,
luyện tập vận động đều đặn, duy trì tình trạng dinh dưỡng ổn định.
- Loại hình GDSK: phân phát các tài liệu in ấn, tổ chức các buổi trình bày có
minh họa bằng hình ảnh và tài liệu phát tay, thảo luận trong nhóm nhỏ giúp hiểu rõ nội
dung thông tin, trao đổi kinh nghiệm.
- Các nội dung giáo dục sức khỏe: Sinh bệnh học bệnh, kỹ năng sử dụng thuốc,
hướng dẫn về dinh dưỡng, nhận biết và xử trí các dấu hiệu cảnh báo dấu hiệu nặng, cách
vệ sinh.
- Kỹ thuật sử dụng thuốc
 Có vai trò rất quan trọng giúp tuân thủ điều trị.
 Ưu khuyết điểm của từng dạng thuốc

viện công gồm Tikur Anbessa, Saint Paul và Zewditu Memorial tại tỉnh Addis Ababa,
Ethiopia nhằm đánh giá cơng tác chăm sóc của điều dưỡng thơng qua mức độ hài lịng
của 631 NB, kết quả cho thấy: Trong khi, tỷ lệ NB hài lòng với khả năng chun mơn
của người điều dưỡng đạt 70% thì tỷ lệ NB hài lịng với lượng thơng tin nhận được từ
điều dưỡngvề tình trạng bệnh tật, cách thức điều trị bệnh của họ chỉ đạt 40%.
Nghiên cứu nhận thức về chất lượng chăm sóc tại phịng cấp cứu và xác định các
khu vực cải tiến chất lượng của Muntlin, Gunningberg và Carlsson (2006) tại Thụy Điển
cho thấy hơn 20% người bệnh cho rằng đã không nhận được các thông tin hữu ích từ
điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [26]
Một nghiên cứu của Jenney và cộng sự (2011) về kiến thức của điều dưỡng chỉ
ra rằng có 21% điều dưỡng thiếu kiến thức về quy trình GDSK cho người bệnh trước
khi ra viện.
Nghiên cứu của tác giả Zakrisson và cộng sự (2010) đã chỉ ra rằng tuổi liên quan
rõ ràng với kiến thức. Điều dưỡng lớn tuổi thì kinh nghiệm làm việc nhiều, họ có kinh
nghiệm tốt hơn trong việc nắm bắt tình trạng bệnh và mức độ tiếp thu của người bệnh
so với điều dưỡng trẻ tuổi [27]
Nghiên cứu của Lipponen (2006) lại cho rằng trình độ của điều dưỡng là yếu tố
quan trọng liên quan đến kiến thức kỹ năng giáo dục sức khỏe, trình độ giáo dục cao
hơn có liên quan rõ ràng với kiến thức tốt hơn (80% điều dưỡng có trình độ học vấn đại
học có kiến thức tốt, trong khi con số này ở những điều dưỡng có trình độ học vấn trung
cấp chỉ khoảng 30%) với P= 0.002 [24]


12
Một nghiên cứu khác của Kelly Scott (2010) cũng chỉ ra rằng, số lượng điều
dưỡng có liên quan trực tiếp đến chất lượng chăm sóc, ở bệnh viện nào có nhiều điều
dưỡng có trình độ cao và số lượng đơng thì chất lượng chăm sóc cao hơn hẳn các bệnh
viện khác. Chất lượng chăm sóc điều dưỡng bao gồm việc phòng ngừa té ngã người
bệnh, phòng chống loét do tỳ đè, viêm phổi do thở máy, nhiễm trùng máu do đặt catheter
và đặt ống thông đường tiết niệu [23]

các vấn đề khác như giao tiếp, giải thích cho người bệnh trước khi làm các thủ thuật mới
chỉ đạt ở 80,8%; cơng tác chăm sóc ống dẫn lưu sau mổ cũng như chăm sóc vết mổ đạt
từ 85,8% - 86,7%. Tuy vậy, cơng tác hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc và phịng bệnh
chỉ đạt 77,5%, cơng tác hướng dẫn người bệnh cách luyện tập phục hồi chức năng sau mổ
mới chỉ đạt 78,3%.
Khảo sát thực trạng giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng viên tại Bệnh viện đa khoa
tỉnh Hà Giang từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2009 của Phạm Khánh Vân năm 2009 [20]
cho thấy còn những tồn tại như 10,58 % điều dưỡng viên không hướng dẫn chế độ ăn cho
NB hoặc 6,88 % không giải thích và hướng dẫn NB cách sử dụng thuốc v.v...
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Loan [12] năm 2019 tại Sơn La cho thấy
vẫn còn 22,4% người bệnh khơng được điều dưỡng tư vấn về phịng ngừa kiểm sốt
nhiễm khuẩn, 23,2% người bệnh khơng được tư vấn về hoạt động thể lực…


14
Chương 2.
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
2.1. Một số thông tin khái quát về bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh là bệnh viện hạng II, trực thuộc sở y tế Nghệ
an, Nằm giữa trung tâm thành phố Vinh Chỉ tiêu giường bệnh được giao năm 2020 là
500 giường bệnh kế hoạch, 544 giường bệnh thực kê; Bệnh viện có 26 khoa/phịng,
trong đó có 16 khoa lâm sàng; 3 khoa cận lâm sàng; 7 phịng chức năng, Nhân lực hiện
tại có 731 người, trong đó bác sỹ 182; dược sỹ 40; điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật
viên là 321; còn lại là đối tượng khác.
Trong những năm qua Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh đã có những bước
phát triển đáng kể, chất lượng cán bộ, công nhân viên chức được nâng cao, cơ sở hạ
tầng và trang thiết bị được đầu tư đúng mức vì thế chất lượng khám chữa bệnh ngày
càng tăng lên và đã tạo được lòng tin trong nhân dân, ngày càng có nhiều người bệnh
đến khám và điều trị, Mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 2000 đến 2200 người bệnh
ngoại trú và 650-700 người bệnh nội trú

-

Đối với điều dưỡng:
Tiến hành 5 cuộc phỏng vấn sâu đối với 5 điều dưỡng trưởng được chọn chủ

đích ở các khoa có số lượng người bệnh đơng: Khoa Ngoại tổng hợp; Khoa Nội tổng
hợp; Khoa Nội tim mạch; Khoa Phụ Sản; Khoa YHCT.
Chọn tất cả điều dưỡng của 11 khoa lâm sàng hiện đang làm việc tại thời điểm
nghiên cứu là 251 điều dưỡng để phỏng vấn tại các văn phịng khoa của các khoa lâm
sàng đó. ĐTV tiến hành phỏng vấn từng điều dưỡng theo các nội dung trong phiếu khảo
sát và yều cầu điều dưỡng viên đánh dấu vào ô tương ứng với câu trả lời, trong quá trình
phỏng vấn nếu điều dưỡng viên thấy nội dung nào chưa rõ thì sẽ hỏi trực tiếp ĐTV để
được giải thích.
Chọn 5 điều dưỡng trưởng để tiến hành phỏng vấn sâu về công tác giáo dục sức
khỏe của điều dưỡng tại 5 khoa lâm sàng
Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về giáo dục sức khỏe bằng các bộ câu hỏi
(theo Phụ lục 1) dựa vào TT 07/2011/BYT và tham khảo đề tài của tác giả Lê Thị Hồng
Loan cho 11 khoa lâm sàng.
Trong bộ câu hỏi đánh giá thực trạng về công tác giáo dục sức khỏe cho người
bệnh được chia thành 30 câu.
 Nếu trả lời đúng 29-30 câu trở lên => Xuất sắc
 Nếu trả lời đúng 25-28 câu trở lên => Giỏi
 Nếu trả lời đúng 21-24 câu trở lên => Khá
 Nếu trả lời đúng 15-20 câu trở lên => Trung bình
 Nếu trả lời đúng dưới 15 câu => Kém



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status