Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh sơn la năm 2019 - Pdf 75

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ HỒNG LOAN

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CỦA ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜIBỆNH TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA TỈNH SƠN LA NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I

NAM ĐỊNH - 2019


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ HỒNG LOAN

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU
DƯỠNG CHO NGƯỜIBỆNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
SƠN LA NĂM 2019

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:TS.BS. NGƠ HUY HỒNG

NAM ĐỊNH - 2019


Tôi làLê Thị Hồng Loan xin cam đoan đây là cơng trình của riêng tơi, do chính tơi
thực hiện, tất cả số liệu trong báo cáo này chưa được cơng bố trong bất cứ cơng trình
nào khác. Nếu có gì sai trái tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.

Sơn La, ngày tháng năm 2019
Người cam đoan

Lê Thị Hồng Loan


3


MỤC LỤC
Lời cảm ơn…………………………...………………………………………………i
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ii
MỤC LỤC .....................................................................................................................
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................. iii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ………………………………………4
1.1. Cơ sở lý luận ......................................................................................................... 4
1.2.Cơ sở thực tiễn ..................................................................................................... 13
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU
DƯỠNG 15
2.1. Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng trong nước và thế giới ... 15
2.2. Thực trạng công tác GDSK cho NB của ĐD tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La . 16
2.3. Phân tích những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện công tác
GDSK của điều dưỡng tại Bệnh viện ĐK tỉnh Sơn La ............................................... 22
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC
GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH ...................... 24


Hội đồng người bệnh

NB

Người bệnh

ĐD

Điều dưỡng


iv
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1 Đặc điểm chung của điều dưỡng

17

Bảng 2.2 Đánh giá chung kiến thức tư vấn- GDSK cho NB của ĐD

18

Bảng 2.3 Đánh giá chất lượng tư vấn giáo dục sức khỏe của ĐD qua kênh

dục sức khỏe cho người bệnh là thực sự cần thiết.
Công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh có vai trị rất quan
trọng, để làm tốt rất cần đến kiến thức và kỹ năng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng.
Mặt khác điều dưỡng chiếm số đông trong nhân lực của bệnh viện và có nhiều thời
gian chăm sóc, tiếp xúc người bệnh trong q trình nằm viện. Nếu làm tốt sẽ đạt mục
tiêu tăng cường chất lượng điều trị, tăng khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng
cuộc sống cho người bệnh, giảm số lần nhập viện, tiết kiệm chi phí cho điều trị. Thay
đổi hành vi từ có hại sang có lợi, có kỹ năng yên tâm sống chung với bệnh. Nếu làm
không tốt, người bệnh không nhận thức đầy đủ về bệnh,không tuân thủ điều trị, không
thay đổi hành vi, kết quả điều trị không tốt, không cải thiện được chất lượng cuộc
sống, số lần nhập viện tăng, chi phí điều trị tăng, bệnh sẽ nặng lên có thể tử vong[6].
Cơng tác giáo dục sức khỏe của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La đã được sự
quan tâm của Đảng ủy, Ban giám đốc bệnh viện. Tuy nhiên, qua kết quả đánh giá công
tác điều dưỡng năm 2018 của các khoa theo Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt
Nam của Bộ Y tế phiên bản 2.0 với đánh giá theo 83 tiêu chíđã cho thấy cơng tác giáo
dục sức khỏe cịn nhiều hạn chế, chỉ đạt mức 3/5.
Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La chưa có chuyên đề, đề tài nào về công tác giáo
dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh. Được sự đồng ý của Bệnh viện và Hội
đồng duyệt ý tưởng chuyên đề,chúng tôi thực hiện chuyên đề“Thực trạng công tác


2
Giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng cho người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn
La năm 2019”nhằm xem xét tại sao công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho
người bệnh cịn hạn chế,để từ đó đề xuất giải pháp giúp điều dưỡng thực hiện tốt
nhiệm vụ giáo dục sức khỏe cho người bệnh để người bệnh thay đổi hành vi có lợi cho
sứckhỏe.


3

Trong thực tế đã thấy rõ, nếu không làm tốt GDSK thì nhiều chương trình y tế
sẽ đạt kết quả thấp và khơng bền vững, thậm chí có nguy cơ thất bại.
So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, GDSK là một cơng tác khó làm và khó
đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất,
nhất là ở tuyến y tế cơ sở.
Vì thế:
GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức
năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từTrung ương
đến cơ sở. Nó là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của một cơ sở y tế [11],[15].
1.1.1.3. Các phương pháp GDSK
Phương pháp GDSK trực tiếp[1],[2].


5
Phương pháp GDSK trực tiếp là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp xúc
với đối tượng GDSK.Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả
cao nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng. Người GDSK có thể nhanh chóng nhận
được các thơng tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh cao và có hiệu
quả tốt trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành vi.
Cách thức
+) Tư vấn trong GDSK:
Là một hình thức thường được sử dụng trong GDSK, đặc biệt đối với cá nhân
và gia đình.Trong tư vấn, người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng, động viên
đối tượng suy nghĩ về vấn đề và chọn các hành động riêng để giải quyết vấn đề. Tư
vấn còn hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang mang, lo sợ về vấn đề sức khỏe
nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ chúng.
+) Nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức:
Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp mọi người trực tiếp được nghe
những thông tin mới nhất về các vấn đề sức khỏe liên quan tới cá nhân, gia đình và
cộng đồng nhằm giúp các đối tượng suy nghĩ và hướng tới việc thay đổi hành vi. Tuy

- Xác định mục tiêu của thảo luận nhóm.
- Xác định đối tượng mời vào thảo luận nhóm.
- Cần chuẩn bị trước câu hỏi trọng tâm cho chủ đề thảo luận dựa trên những
thơng tin phù hợp với tình hình thực tế.
Trong một số trường hợp, tư vấn cần đáp ứng nhu cầu bí mật cho các đối tượng
bị các bệnh xã hội có định kiến như bệnh lây qua đường tình dục.
+) Đối thoại trực tiếp giữa người làm GDSK với từng cá nhân trong lúc tiến
hành các dịch vụ y tế.
Phương pháp GDSK gián tiếp[1],[2]
GDSK gián tiếp là phương pháp giáo dục mà người giáo dục không trực tiếp
tiếp xúc với các đối tượng giáo dục, các nội dung giáo dục cần được chuyển tải qua
các phương tiện thông tin đại chúng.
Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức
thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dân
một cách có hệ thống. Đó là phương pháp hiện nay vẫn được sử dụng khá rộng rãi trên
thế giới cũng như ở nước ta.
Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận hành sử
dụng các phương tiện thông tin đại chúng.


7
Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp GDSK
gián tiếp là:
- Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, video.
- Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi.
- Pano, áp phích.
- Sách chuyên đề, sách hỏi đáp về sức khỏe bệnh tật.
1.1.1.4. Phương tiện GDSK [1],[2],[15]
Phương tiện GDSK là công cụ mà người GDSK sử dụng để thực hiện một
phương pháp GDSK và qua đó truyền đạt nội dung GDSK cho đối tượng phân loại các

tư 07/2011 của BYT hướng dẫn cơng tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong
bệnh viện. Trong đó, nhiệm vụ thứ nhất là tư vấn GDSK, có vai trị to lớn trong việc
góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người. Nếu GDSK đạt hiệu quả nó sẽ
giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong.
Điều dưỡng chiếm gần 50% trong tổng số nhân lực của bệnh viện và có nhiều
thời gian tiếp xúc với người bệnh từ khi mới vào viện đến khi ra viện. Do đó vai trị
của GDSK trong cơng tác điều dưỡng là rất quan trọng, nếu điều dưỡng làm tốt giúp
người bệnh thay đổi hành vi từ có hại sang có lợi, góp phần nâng cao chất lượng chăm
sóc, điều trị và tăng cường sự hài lòng người bệnh [3].
1.1.2.1. Giáo dục sức khỏe cho người bệnh
- GDSK nhằm giúp người bệnh hiểu rõ về bản chất của bệnh, các yếu tố nguy
cơ cho sự tiến triển của căn bệnh, vai trò của người bệnh trong việc đạt đến kết quả
điều trị tối ưu.
- GDSK giúp cải thiện tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị: dùng thuốc đều đặn,
luyện tập vận động đều đặn, duy trì tình trạng dinh dưỡng ổn định.
- Loại hình GDSK: phân phát các tài liệu in ấn, tổ chức các buổi trình bày có
minh họa bằng hình ảnh và tài liệu phát tay, thảo luận trong nhóm nhỏ giúp hiểu rõ nội
dung thơng tin, trao đổi kinh nghiệm.
- Các nội dung giáo dục sức khỏe: Sinh bệnh học bệnh, kỹ năng sử dụng thuốc,
hướng dẫn về dinh dưỡng, nhận biết và xử trí các dấu hiệu cảnh báo dấu hiệu nặng,
cách vệ sinh.
-Kỹ thuật sử dụng thuốc
 Có vai trị rất quan trọng giúp tuân thủ điều trị.
 Ưu khuyết điểm của từng dạng thuốc
 Hướng dẫn chi tiết, có hình ảnh minh họa, có thực hành.


9
- Các dấu hiệu cảnh báo tiến triển nặng:
 Giúp người bệnh nhận biết sớm nhất khi có các triệu chứng khởi đầu.

10
Bước sang thế kỷ XXI, ngành Điều dưỡng được xem như là một nghệ thuật,
một môn khoa học. Điều dưỡng là một ngành, nghề chăm sóc người bệnh. [15].
Chăm sóc đóng một vai trị quan trọng trong q trình phục hồi sức khỏe cũng
như toàn bộ những vấn đề khác của người bệnh, chính vì vậy ngay từ những năm 1950
Virginia Henderson đã nêu: chăm sóc phải thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tâm lý, văn
hóa-xã hội và tinh thần của người bệnh. Dựa trên cơ sở nền tảng này, năm 1988
Danielsson và công sự đã nhận định “Về mặt nào đó cơng tác chăm sóc trùng hợp với
cơng tác điều trị đồng thời bổ sung cho công tác điều trị nhằm tập trung giải quyết
những vấn đề thể chất, tâm lý, xã hội và văn hóa cho người bệnh” [15].
Từ những quan điểm trên cho thấy để công tác chăm sóc mang đúng nghĩa của
nó và đảm bảo được chất lượng chăm sóc người bệnh góp phần nâng cao chất lượng
điều trị, từ đó tạo dựng niềm tin với người bệnh, nâng cao uy tín của bệnh viện thì
cơng tác chăm sóc người bệnh phải được thực hiện theo phương châm chăm sóc tồn
diện như chỉ thị của Bộ Y tế nhằm đưa chất lượng công tác chăm sóc người bệnh ở
nước ta đi dần vào nề nếp và đảm bảo hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế
giới [15].
Virginia Hendersson đưa ra định nghĩa về chức năng chăm sóc như sau: “Chức
năng đặc trưng nhất của người điều dưỡng là giúp đỡ những cá nhân ốm yếu thực hiện
những hoạt động của cơ thể mà họ khơng tự mình thực hiện được để góp phần cho sự
bảo vệ hoặc phục hồi sức khỏe hoặc nếu chết thì cũng được chết thanh thản. Thực hiện
nhiệm vụ này bằng một cách nào đó nhằm giúp người bệnh lấy lại được sự độc lập của
cơ thể càng nhanh càng tốt. Khía cạnh cơng việc này, phần chức năng này là do người
điều dưỡng chủ đồng thực hiện và tự điều khiển-về lĩnh vực này người điều dưỡng là
bậc thầy” [15].
Để thực hiện đầy đủ vai trò và chức năng nghề nghiệp của mình, trong cơng
việc hàng người người điều dưỡng cần phải thực hiện các chức năng:
- Chức năng phụ thuộc: đây là chức năng mà người điều dưỡng phải thực hiện
những y lệnh của bác sỹ như tiêm thuốc, phát thuốc, thay băng, …
- Chức năng độc lập: đây là chức năng đặc trưng của người điều dưỡng. Với

sốt. Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc nhóm người và địi hỏi người điều
dưỡng phải có kỹ năng để phân tích tình hình, tổng hợp thơng tin, đánh giá quá trình
tiến triển của người bệnh sau khi đã được tư vấn. Người bệnh cần có thêm kiến thức để
tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằm viện.
- Người biện hộ cho người bệnh:Người biện hộ nghĩa là thúc đẩy những hành
động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm cho những nhu cầu của người bệnh được


12
đáp ứng. Ngồi ra, người điều dưỡng cịn có vai trị là người lãnh đạo, người quản lý,
người làm cơng tác nghiên cứu điều dưỡng và là những chuyên gia giỏi về chăm sóc
lâm sàng [1].
Tại các nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada... cũng như các nước đang phát
triển như Thái Lan, Philippines, Malaysia... điều dưỡng viên đã được nâng cao vai trò
trong việc quản lý các cơ sở y tế ban đầu, bệnh viện, đội chăm sóc sức khỏe, tham gia
khám và điều trị – chăm sóc các bệnh cấp và mạn tính theo chuyên ngành của điều
dưỡng và có mặt trong hầu hết các lĩnh vực khác và là nghề đang được kính trọng hiện
nay [15].
Trước năm 1990, ở Việt Nam người điều dưỡng có tên gọi Y tá với chứcnăng
phụ thuộc và vai trò phụ giúp, thực hiện y lệnh của thầy thuốc là chính. Họđược đào
tạo ngắn hạn dưới một năm, làm theo phương pháp cầm tay chỉ việc. Hiệnnay, Việt
Nam đang thực hiện nâng cao chương trình đào tạo điều dưỡng với độingũ điều dưỡng
cao đẳng (3 năm), cử nhân điều dưỡng (4 năm) và thạc sĩ điềudưỡng (2 năm). Năm
2000, ngành Điều dưỡng Việt Nam đã hình thành được hệthống quản lý điều dưỡng ở
các cấp. Có 65% Sở Y tế các tỉnh đã bổ nhiệm điềudưỡng trưởng, 84,7% các bệnh viện
có Phịng điều dưỡng, công tác đào tạo điềudưỡng đã nâng lên ở trình độ cao đẳng và
đại học. Thực hành điều dưỡng đang cóchuyển biến thơng qua thực hiện chăm sóc
người bệnh tồn diện, vị trí xã hội củangười điều dưỡng đã được nhìn nhận [15].
Tuy nhiên, hiện tại ở nước ta, cứ 1 bác sĩ thì có 1,8 điều dưỡng, trong khi tỷ lệ tối
thiểu mà Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo là 1 bác sĩ/4 điều dưỡng. Tỷ lệ này ở Việt

dưỡng, của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở. Kỹ năng
GDSK cũng là một trong những tố chất cơ bản giúp người điều dưỡng thực thi chức
năng, nhiệm vụ của mình[1].
1.1.2.3. Tầm quan trọng của GDSK đối với người bệnh
- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe.
- Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người.
- Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ
lệ tàn phế và tỷ lệtử vong nhất là ở các nước đang phát triển.
- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Phương pháp tiến hành
 Đánh giá kiến thức bằng các bộ câu hỏi test
 Phỏng vấn trực tiếp Điều dưỡng về những thuận lợi, khó khăn và các đề xuất về
công tác GDSK.


14
 Quan sát trực tiếp về công tác GDSK của Điều dưỡng đối với NB.
 Thu tập thông tin Tư vấn – GDSK trong hồ sơ người bệnh
 Thu thập qua kênh thơng tin phiếu khảo sát hài lịng người bệnh theo mẫu của
Bộ Y tế.


15
Chương 2.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG
2.1. Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng trong nước và thế giới
Thực tế cho thấy có rất ít nghiên cứu đánh giá trực tiếp và cụ thể về công tác
giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng. Hoạt động này cơ bản chỉ dừng lại ở mức là một
phần của hoạt động kiểm tra công tác chăm sóc điều trị nói chung hoặc trong các đợt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status