BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CƠNG CỘNG
**************************
LÃ THỊ BÍCH THỦY
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC
KHỎE CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN
LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HÀ NỘI, 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CƠNG CỘNG
**************************
LÃ THỊ BÍCH THỦY
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC
KHỎE CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN
LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
Hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trung Anh
Lã Thị Bích Thủy
iv
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................... iii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iv
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................ vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN ........................................................................................ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .....................................................................................3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................4
1.1. Tổng quan về công tác giáo dục sức khoẻ ........................................................4
1.1.1. Một số khái niệm về giáo dục sức khỏe ............................................................4
1.1.2. Nội dung và hoạt động giáo dục sức khỏe ........................................................5
1.2. Công tác giáo dục sức khỏe của NVYT trong bệnh viện ................................8
1.2.1. Mục tiêu của công tác GDSK trong bệnh viện .................................................8
1.2.2. Văn bản quy định công tác GDSK trong bệnh viện ..........................................8
1.2.3. Hoạt động giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện....................................................10
1.3. Nghiên cứu về thực hiện công tác GDSK của NVYT trong bệnh viện .......11
1.3.1. Thực trạng thực hiện công tác GDSK của NVYT trong bệnh viện ................11
1.3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDSK của NVYT tại Bệnh viện.14
1.4. Thông tin khái quát về Bệnh viện Lão Khoa Trung ương ...........................17
1.4.1. Giới thiệu chung về Bệnh viện........................................................................17
1.4.2. Công tác GDSK của Bệnh viện.......................................................................18
1.5. Khung lý thuyết ................................................................................................19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................20
2.1. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................20
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn ........................................................................................20
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ ..........................................................................................20
KẾT LUẬN ..............................................................................................................55
KHUYẾN NGHỊ......................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................57
Phụ lục 1: phiếu khảo sát ý kiến người bệnh về công tác giáo dục sức khỏe của
nvyt cho người bệnh nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2020
Phụ lục 2. Quan sát buổi Giáo dục sức khỏe nhóm
Phụ lục 4: PHỎNG VẤN SÂU
Phụ lục 5. Nhóm biến số chính, các chỉ số nghiên cứu
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVLKTƯ
Bệnh viện Lão Khoa Trung ương
BV
Bệnh viện
CSĐD
Chăm sóc điều dưỡng
CSNB
Chăm sóc người bệnh
CTXH - QLCL
PHCN
Phục hồi chức năng
PVS
Phỏng vấn sâu
TLN
Thảo luận nhóm
TT GDSK
Truyền thơng giáo dục sức khỏe
WHO
World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.Thông tin chung của người bệnh tham gia nghiên cứu (n= 213) ................ 25
Bảng 3.2. Chất lượng nội dung GDSK cho bệnh nhân nội trú (n=213) ...................... 26
Bảng 3.3. Cảm nhận của người bệnh về chất lượng GDSK (n=213) .......................... 27
Bảng 3.4. Cảm nhận của người bệnh về chất lượng GDSK (n=213) .......................... 28
Bảng 3.5. Cảm nhận của người bệnh về thực hiện quy trình GDSK của NVYT
(n=213) ......................................................................................................................................... 29
Bảng 3.6. Tần suất thực hiện công tác GDSK nhóm của các khoa lâm sàng ............ 31
bệnh đánh giá chưa tốt như nội dung và quy trình tổ chức buổi GDSK nhóm; Phản
hồi của người bệnh về quy trình thực hiện GDSK theo nhóm của NVYT đạt tỷ lệ
thấp. Cơ sở vật chất để tổ chức của buổi GDSK chưa được chú trọng như 100% các
khoa lâm sàng khơng có phịng GDSK riêng, khơng có loa đài để thực hiện GDSK,
thiếu tài liệu và phương tiện hỗ trợ truyền thơng GDSK. Bên cánh đó, các yếu tố
ảnh hưởng đến công tác GDSK cho người bệnh của NVYT là về nhân lực còn thiếu
và yếu khi điều dưỡng đang đảm nhận chính; thiếu cơ chế khen thưởng động viên
NVYT làm tốt công tác GDSK và nhất là kinh phí đầu tư cho lĩnh vưc này.
Từ các kết quả trên, nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị chính tới Bệnh
viện như phải rà sốt lại quy trình GDSK để khắc phục những nội dung, các bước
cịn thiếu và yếu trong buổi GDSK; Tăng cường công tác đào tạo để cập nhật kiến
thức, kỹ năng chuyên môn và phương pháp trình bày để NVYT làm tốt cơng tác
GDSK; Khuyến khích và tăng cường bác sĩ thực hiện công tác GDSK cho người
bệnh.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục sức khoẻ (GDSK) giúp người người bệnh nâng cao nhận thức, thay
đổi hành vi đối với sức khoẻ và bệnh tật của mình. Do đó việc đánh giá nhu cầu
được cung cấp kiến thức để thay đổi lối sống và tuân thủ điều trị đối với người bệnh
là rất cần thiết, khơng chỉ có ý nghĩa đối với người bệnh mà còn giúp nhân viên y tế
có những phương án can thiệp phù hợp, cũng như có những chiến lược cho cơng tác
truyền thơng - giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) tại cộng đồng (1), (2).
Công tác giáo dục sức khỏe (GDSK) trong bệnh viện đang được các quốc gia
trên thế giới hết sức chú trọng và là một bộ phận không thể tách rời trong các bệnh
viện cũng là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi
cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở. Tại Việt Nam, Bộ Y Tế (BYT) đã ban hành
thông tư số 07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người
bệnh, trong đó có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn (trực tiếp-gián tiếp)
BVLKTƯ, hay gần đây nhất theo nghiên cứu Trần Thị Hương Trà năm 2018 về
cơng tác chăm sóc của điều dưỡng viên tại BVLKTƯ có đề cập tới khía cạnh
GDSK của điều dưỡng (10). Cho thấy đến thời điểm hiện tại chưa có những đánh
giá hay nghiên cứu phù hợp tại BVLKTƯ để cung cấp đầy đủ thông tin về thực hiện
công tác GDSK.
Từ những lý do nêu trên, nghiên cứu này được thực hiện với mong muốn
đóng góp giúp lãnh đạo bệnh viện có chính sách phù hợp với cơng tác GDSK của
NVYT “Thực trạng thực hiện công tác giáo dục sức khoẻ của nhân viên y tế
cho người bệnh nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Lão khoa
Trung ương năm 2020” với mục tiêu sau.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng thực hiện công tác giáo dục sức khoẻ của nhân viên y tế
cho người bệnh nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2020.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện công tác giáo dục sức
khoẻ cho người bệnh nội trú của nhân viên y tế tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương
năm 2020.
4
Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về công tác giáo dục sức khoẻ
1.1.1. Một số khái niệm về giáo dục sức khỏe
Giáo dục sức khỏe là quá trình tác động có mục đích vào con người nhằm
thay đổi kiến thức, thái độ thực hành của con người. Phát triển những thực hành
lành mạnh mang lại trạng thái sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người (1).
học thực nghiệm ra đời, phát minh ra kháng sinh…(11). Năm 1960 được gọi là kỷ
nguyên y khoa, tư vấn GDSK mang tính độc thoại người thầy thuốc tuyên truyền
hoặc nói chuyện với bệnh nhân, đến năm 1970 tư vấn GDSK chuyển từ độc thoại
sang đối thoại. Năm 1980 là giai đoạn phát triển mạnh của truyền thông tiếp thị xã
hội, chủ yếu sử dụng các cách truyền thơng thiếp thị tích hợp. Đến thập kỷ 90 của
thế kỷ XX, công tác GDSK đã được sử dụng phương thức lồng ghép đa phương tiện
người gửi và người nhận thông tin đã cùng nhau chia sẻ thơng tin (11).
Mã hóa
Chủ
thể
Thơng điệp
Giải mã
Người
Nhận
Phương tiện
truyền
thơng
Nhiễu
Phản hồi
Phản ứng
đáp lại
Chủ thể là người phát tin gửi cho bên còn lại (bên nhận thơng tin), người gửi
chúng chấp nhận và duy trì những hành vi có lợi cho sức khỏe (1), (2)…
1.1.2.2.1. Truyền thông giáo dục sức khỏe
Truyền thông GDSK rất quan trọng, vì có hiểu biết kiến thức sẽ giúp ích cho
mỗi người, cộng đồng có thái độ đến hành vi phịng tránh hay xử trí vấn đề sức
khỏe khi gặp phải. Nếu hiểu nguyên nhân và hậu quả của một hành vi có hại tới sức
khỏe, sẽ giúp họ thay đổi hành vi và duy trì hành vi mới có lợi cho sức khỏe (13),
(12).
Hành vi sức khỏe lành mạnh của một cá nhân cần 5 yếu tố (14):
1) Kiến thức: Hiểu biết đầy đủ về hành vi lành mạnh đó;
2) Niềm tin và thái độ: Tích cực, muốn thực hiện hành vi lành mạnh;
7
3) Kỹ năng: Cố gắng để thực hiện hành vi lành mạnh đó;
4) Các nguồn lực: Có đủ để có thể thực hiện hành vi đó;
5) Sự ủng hộ: Có môi trường và sự hỗ trợ để thực hiện duy trì hành vi lâu
dài.
Truyền thơng GDSK có 3 nhiệm vụ quan trọng là: nâng cao kiến thức; thay
đổi thái độ; thực hành của con người về sức khỏe (1), (15). Muốn thay đổi hành vi
sức khỏe theo hướng có lợi cho sức khỏe cần tryền thông– GDSK và GDSK cần
tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, bằng nhiều biện pháp khác nhau, chứ
khơng phải là một cơng việc có thể làm một lần là được (16).
1.1.2.2.2. Phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe
Các hoạt động –truyền thông GDSK được chia làm hai phương pháp chính:
Truyền thơng gián tiếp: Qua phương tiện truyền thơng đại chúng như
truyền hình, truyền thanh, báo chí, viết bài, tin, ảnh; pano, áp phích, băng rôn, tờ
rơi, sách, sổ tay hướng dẫn, Internet, điện thoại; tin nhắn...
Truyền thông trực tiếp: Tư vấn cá nhân (mọi vấn đề về sức khỏe…), làm
mẫu, thăm hộ gia đình, truyền thơng nhóm, tập huấn, mít tinh, hội thảo, tuần hành,
phục hồi chức năng để phòng các biến chứng, cũng như các kiến thức về dinh
dưỡng chế độ ăn hợp lý nâng cao thể trạng, chế độ ăn bệnh lý trong khi nằm viện và
sau khi ra viện
Hướng dẫn kỹ năng vệ sinh cá nhân và phòng các bệnh lây nhiễm qua đường
hơ hấp, tiêu hố…
Tạo niềm tin và thái độ trong việc thay đổi hành vi có hại cho sức khoẻ
người bệnh thay thế bằng hành vi có lợi cho sức khoẻ của người bệnh
Thông qua tư vấn GDSK cho người bệnh đã gián tiếp mang lại GDSK cho
cộng đồng
Kết quả GDSK trong bệnh viện đã góp phần vào nâng cao chất lượng điều
trị, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ và dự phòng bệnh cho người bệnh và cộng đồng
ngày càng tốt hơn
1.2.2. Văn bản quy định công tác GDSK trong bệnh viện
Công tác GDSK luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm, nâng cao sức
khỏe bảo vệ giống nịi là trách nhiệm của tồn Đảng, tồn dân và tồn xã hội, ngành
y tế là nịng cốt. Sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII và chủ
trương của Đảng, chính phủ, pháp luật của Nhà nước, cơng tác bảo vệ, chăm sóc
sức khỏe nhân dân đã đạt được những kết quả to lớn góp phần xây dựng và bảo vệ
9
tổ quốc (19). GDSK trong bệnh viện rất quan trọng nhằm cung cấp kiến thức về sức
khỏe dinh dưỡng, phòng bệnh tự chăm sóc và phụ hồi chức năng cho người bệnh,
giúp người bệnh tay đổi hành vi sức khỏe xấu sang hành vi sức khỏe tốt. GDSK là
nhiệm vụ quan trọng của cán bộ y tế trong bệnh viện, hoạt động này đã giúp cho
người bệnh hiểu được tình hình sức khỏe của bản thân để phối hợp điều trị tốt, dự
phịng, tự chăm sóc về thể chất tinh thần dinh dưỡng, hướng dẫn tập phục hồi chức
năng sớm, nhằm cải thiện sức khỏe tái hòa nhập cộng đồng.
Năm 1997, Bộ Y tế ban hành Quy chế bệnh viện số 1895/1997/BYT-QĐ
dung giải pháp đã nêu rõ GDSK giúp người dân chủ động thực hiện các hành vi có
lợi cho sức khỏe.
1.2.3. Hoạt động giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện
1.2.3.1. Đối tượng được giáo dục sức khỏe và nguồn cung cấp thông tin
Đối tượng được GDSK bao gồm tất cả người bệnh đến khám và điều trị tại
bệnh viện, người nhà người bệnh và tất cả mọi người đến bệnh viện với nhiều mục
đích khác nhau (3).
Nguồn cung cấp thơng tin GDSK gồm người chuyên trách phụ trách công tác
GDSK, các nhân viên y tế các bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên đang
làm việc tại bệnh viện hay các phương tiện nghe nhìn: loa, đài, băng đĩa, màn hình
tivi, tranh ảnh, paner, tờ rơi…(3).
1.2.3.2. Các hình thức GDSK tại bệnh viện
GDSK gián tiếp: Thông qua các phương tiện nghe nhìn như loa, đài, màn
hình tivi, băng đĩa, tranh ảnh, áp phích, tờ rơi…
GDSK trực tiếp: Thơng qua các buổi truyền thông lớn cấp bệnh viện, hay các
buổi họp hội đồng người bệnh các cấp, các lớp học GDSK, các buổi tư vấn, thảo
luận, khi thăm khám triệu trị và chăm sóc cho người bệnh… là hình thức giao tiếp
trực tiếp của NVYT với người bệnh (3).
Bên cạnh đó việc GDSK cá nhân người bệnh mang lại hiệu quả cao và tác
động trực tiếp đến sự thay đổi của người bệnh, các hình thức truyền thơng trực tiếp
tại bệnh viện như:
Cung cấp thơng tin về tình hình sức khỏe hiện tại của người bệnh và hướng
dẫn người bệnh biết cách tự theo dõi các dấu hiệu bất thường của mình, phản hồi lại
với NVYT phối hợp giúp NVYT trong chẩn đốn chăm sóc và điều trị
11
Hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc an toàn, tuân thủ điều trị để có kết quả
điều trị cao nhất
12
(UNICEF) tổ chức hội nghị bàn về chiến lược chăm sóc sức khỏe con người đến
năm 2000 với sự tham gia của 134 quốc gia và 67 tổ chức quốc tế, nội dung GDSK
được đặt lên hàng đầu (23). Theo tuyên bố Alma Ata, Hiến chương Ottawa và nhiều
tài liệu quan trọng khác của quốc tế, các nước trên thế giới đã thực hiện tăng cường
sức khỏe bằng hành động của hệ thống y tế, trong những năm 1980 đã có một số
lượng lớn các bệnh viện ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc và New zealand đã thực hiện các
biện pháp tăng cường sức khỏe tuy nhiên chỉ được triển khai ở mức độ hẹp, hầu hết
chỉ giới hạn trong giáo dục, thay đổi hành vi từ cá nhân và sàng lọc sức khỏe cho cá
nhân (24).
Công tác GDSK đối với môi trường bệnh viện thực sự cần thiết và để nhấn
mạnh vai trị trung tâm của cơng tác GDSK trong bệnh viện khái niệm “Bệnh viện
nâng cao sức khỏe - Health promoting hospital” đã được khởi xướng, nhiệm vụ là:
Bệnh viện không chỉ khám, điều trị bệnh, mà phải tích cực GDSK, phịng bệnh,
phục hồi chức năng cho người bệnh, thân nhân người bệnh và nhân viên bệnh viện
để đạt được sự thoải mái tối đa về thể chất tinh thần xã hội. Bệnh viện phải cung
cấp đủ cho người bệnh trong suốt quá trình điều trị và can thiệp. Mạng lưới bệnh
viện nâng cao sức khỏe bắt đầu từ 1988 tại Vienne (Austria) và đến 2005 đã gồm
700 bệnh viện thành viên ở châu Âu, Úc, Canada, Mỹ, Đài Loan và các nước Châu
Á (25). Tại Canada mô hình bệnh viện nâng cao sức khỏe được coi là quốc gia có
mạng lưới GDSK phát triển nhất thế giới, tuy nhiên năm 2014 cơng việc phát triển
mơ hình này trong các bệnh viện cịn gặp nhiều khó khăn (26). Tại Thụy Điển năm
2002, nghiên cứu về chất lượng chăm sóc và xác định các khu vục cải tiến chất
lượng của cho thấy có 20% người bệnh cho rằng điều dưỡng khơng thể hiện quan
tâm đến tình hình cuộc sống của họ, người bệnh cũng không nhận được những
thông tin hướng dẫn về cách tự chăm sóc bản thân (27).
Theo Aghakhani và cộng cự (2012), khi tiến hành nghiên cứu trên 240 điều
dưỡng tại Bệnh viện đại học khoa học sức khỏe Urmia, Iran, cho rằng rào cản quan
trọng nhất của GDSK cho người bệnh là tình hình làm việc hay có kiến thức thấp và
được NB đánh giá GDSK đạt yêu cầu; những tồn tại chính trong thực hiện nhiệm vụ
tư vấn, hướng dẫn và GDSK cho NB như cơng tác GDSK cịn lơ là, trình độ của
điều dưỡng trung cấp cịn e ngại chưa chủ động đối với người bệnh có trình độ hiểu
biết cao, việc tổ chức GDSK chưa bài bản, khơng có tiêu chuẩn bắt buộc phải thực
hiện, nên chưa chủ động (31).
14
Nghiên cứu cắt ngang của Nguyễn Thị Thùy Trâm (2014) tại 10 khoa lâm
sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre cho kết quả nhiệm vụ được thực
hiện kém nhất là tư vấn hướng dẫn GDSK đạt 20,2% và chăm sóc vệ sinh cá nhân
cho người bệnh đạt 27,2%; đánh giá chung về mức độ hoàn thành 12 nhiệm vụ
chăm sóc người bệnh của ĐDV đạt 60,6% (32). Bên cạnh đó cũng có những đánh
giá cho thấy cơng tác tư vấn GDSK của cho người bệnh nội trú trong bệnh viện đạt
tỷ lệ khá cao, như nghiên cứu năm 2011 của Phạm Anh Tuấn và Trần Thị Thảo năm
2013 tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển ng Bí tỷ lệ thực hiện tư vấn GDSK đạt
cao lần lượt từ 83,3% và 74,1% (33); (34).
Tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2018, theo nghiên cứu của Phạm
Minh Thông khi phỏng vấn trên 105 NVYT đã cho thấy 75,2% NVYT gặp khó
khăn khi thực hiện GDSK, trong đó 63% NVYT cho là thiếu phương tiện để
GDSK, 35,2% NVYT cho ràng không đủ thời gian để thực hiện GDSK và có 11,4%
NVYT khơng biết GDSK như thế nào cho có hiệu quả. Tác giả đã phỏng vấn 101
người bệnh, có quan sát thực hiện quy trình GDSK cho cá nhân và nhóm, phỏng
vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa phòng chức năng, CBYT làm TT GDSK. Bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định
tính, tác giả đã làm rõ GDSK cá nhân ở mức đạt chiếm 66%, chưa đạt chiếm 34%.
GDSK nhóm các khoa lâm sàng mới đạt trên 54,7% số buổi GDSK, trong đó nội
dung người bệnh muốn GDSK nhiều nhất là về cách chăm sóc chiếm 91,4%, các
biện pháp phịng bệnh là thấp nhất chiếm 70,9% (7).
Qua các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy thực trạng thực hiện tốt thực hiện
sát quy trình GDSK, cơ chế khuyến khích NVYT tăng cường chất lượng cho công
tác GDSK cho NB nội trú. Một số nghiên cứu trong nước đã chỉ ra rằng nhân lực
mỏng, chất lượng còn hạn chế chưa đáp ứng tốt yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, đa số
trình độ của điều dưỡng là trung cấp nên còn e ngại chưa chủ động đối với người
bệnh có trình độ hiểu biết cao, việc tổ chức GDSK chưa bài bản, khơng có tiêu
chuẩn bắt buộc phải thực hiện, nên chưa chủ động. Mặt khác, sự quá tải người bệnh,
sự quá tải công việc tại các bệnh viện hiện nay…nên chưa có đủ thời gian vừa thực
hiện nhiệm vụ chuyên môn vừa tư vấn GDSK (31), (5) (32).
Thông tin y tế: Việc cập nhật kiến thức, và đưa các thơng tin chính xác đến
người bệnh là việc khó khăn; các NVYT nói chung và điều dưỡng viên nói riêng
cần có những buổi tập huấn về kiến thức. Bên cạnh đó việc cung cấp được cái tài
16
liệu, phương tiện chuẩn để chuẩn bị cho quá trình truyền thông cũng là yếu tố cần
quan tâm.
Trang thiết bị: Việc tổ chức một buổi tư vấn GDSK không thể thiếu những
trang thiết bị hỗ trợ giúp người bệnh có cái nhìn trực quan và cụ thể hơn. Theo
nghiên cứu của Bùi Minh Thông đã chỉ ra trang thiết bị truyền thông như máy
chiếu, tài liệu, tờ rơi, paner, tranh ảnh…cịn thiếu hoặc khơng có, 100% các khoa
lâm sàng khơng có phịng GDSK (7).
Tài chính: Để thực hiện được các chương trình truyền thơng GDSK thì tài
chính là một trong những vấn đề quan trọng, từ việc in ấn các tờ rơi, đến việc vận
hành các buổi truyền thông; nguồn kinh phí từ bệnh viện cho các buổi truyền thơng
GDSK còn hạn chế, thường được lồng ghép với các buổi tư vấn của các công ty
dược cũng như các chương trình, hội thảo của bệnh viện, quốc gia tổ chức tại bệnh
viện. Vậy vấn đề đặt ra là nguồn vốn để duy trì thường xuyên các chương trình
GDSK cho người bệnh sẽ được lấy từ đâu và duy trì như thế nào? Đây là một trong
những vấn đề sẽ được làm rõ trong nghiên cứu.
điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại Việt Nam. Bên cạnh đó bệnh
viện phục vụ khám chữa bệnh cho tất cả đối tượng có nhu cầu, tuy nhiên chăm sóc
sức khỏe cho người cao tuổi được bệnh viện luôn quan tâm và chú trọng. Bệnh viện
với quy mơ hơn 300 giường bệnh, 10 phịng chức năng, 10 khoa lâm sàng, 6 khoa
cận lâm sàng và 2 khoa khám bệnh, bệnh viện có khả năng tiếp nhận từ 500 đến 800
người bệnh đến khám và điều trị mỗi ngày. Bệnh viện đã và đang tiến hành triển
khai xây dựng cơ sở 2 ở Hà Nam với diện tích 10.000 m2 đã được Nhà nước phê
duyệt (8).
Tình hình cơng tác chun mơn năm 2019 của bệnh viện: tổng số lượt khám
bệnh là: 73.920 lượt người bệnh, số lượt người bệnh điều trị nội trú 8.862 lượt
người bệnh, quản lý 5 chương trình điều trị ngoại trú (Tăng huyết áp biến chứng tim
mạch, Đái tháo đường, Parkinson, Sa sút trí tuệ, Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) với
3.291 người bệnh, Bệnh viện đã đạt 90% công suất sử dụng giường bệnh, bệnh viện
đã và đang thực hiện được các kỹ thuật cao. Bên cạnh đó bệnh viện cịn là cơ sở đào
tạo của các trường đại học, cao đẳng y dược. BVLKTƯ cịn là đơn vị có nhiệm vụ
chỉ đạo tuyến trên toàn quốc, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về chuyên
ngành Lão khoa (8). Cơ cấu nhân lực tính đến tháng 9/2019: tổng số cán bộ viên
chức của bệnh viện là: 459 người, trong đó: Bác sĩ: 95, Dược sĩ: 17, Điều dưỡng:
223, KTV: 25, Chuyên ngành khác: 60, Lao động khác: 39 (8).