NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNGNGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 75

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNGNGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIRRTD ngân hàng
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mạiHoạt động của NHTM
NH là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, là
người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân và hộ gia đình) và
với hầu hết cơ quan Chính quyền địa phương, và là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn
nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại các NH. NH đóng vai trò người
thủ quỹ cho toàn xã hội. Và có thể nói rằng trên toàn thế giới đây là loại hình tổ
chức trung gian tài chính cung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng
với quy mô lớn nhất. NH bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ
trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các NH.
Tóm lại, NH là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế.
Tùy theo yêu cầu của người quản lí có thể phân chia các NH theo nhiều hình
thức khác nhau như phân chia theo hình thức sở hữu, hoặc theo tính chất hoạt động
hoặc theo cơ cấu tổ chức. Tuy nhiên phổ biến nhất hiện nay là phân loại các
NHTM theo hình thức sở hữu bao gồm có các loại như: NH sở hữu tư nhân, NH sở
hữu của các cổ đông (NH cổ phần), NH sở hữu Nhà nước, NH liên doanh.
1.1.2 Hoạt động tín dụng NHngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại tín dụng ngân hàng
• Khái niệm
Có thể định nghĩa tín dụng NH theo nhiều cách như:
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên khi gắn
tín dụng với chủ thể nhất định như NH hoặc các trung gian tài chính khác thì chỉ
bao hàm nghĩa NH cho vay.

Tín dụng thương mại dịch vụ
Tín dụng nông, lâm nghiệp
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng của ngâ hàng a NH thương mại
● Cho vay
Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của NH đối với các khách hàng
không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện vay để được cấp hạn mức
thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu
thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay NH, tức là vốn từ NH chỉ tham gia
vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh.
Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó NH thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn
mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối
đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh
doanh, nhu cầu vốn và vay vốn của khách hàng.
Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó NH cho phép người vay chi trội trên
y
x
Trục y: số dư tiền gửi thanh toán (đồng)Trục x: thời gian : Hạn mức thấu chi: Vay NH (thực hiện thấu chi) : Số dư tiền thanh toán
số dư thanh toán của mình đến một giới hạn và trong khoảng thời gian nhất định.
Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin NH hạn mức thấu chi và thời
gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho NH). Trong quá trình hoạt động,
khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ séc…vượt quá số dư tiền gửi
để chi trả. Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi NH sẽ thu nợ gốc và
lãi. Số lãi mà NH phải trả:
Lãi suất thấu chi × Thời gian thấu chi × Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử
dụng hình thức này.

một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ
tài sản thế chấp. Để bù đắp một phần chi phí trung gian, NH trích một phần thu
(1) Phân tích tín dụng trước khi cho vay
(2) NH phát tiền vay trực tiếp cho khách hàng
(3) Các tổ chức trung gian thu nợ hộ NH
nhập lại cho trung gian.
NH cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của
quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền
sai mục đích.
Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. Doanh nghiệp khi
mua hàng có thể thiếu vốn. NH có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh
nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quí, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển.
NH và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các
nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thỏa
thuận trong một năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời
hạn để NH xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định có cho vay nữa
hay không tùy mối quan hệ giữa NH và khách hàng cũng như tình hình tài chính
của khách hàng. Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ thì NH sẽ gặp khó
khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được qui định rõ
ràng.
● Cho thuê tài sản
Cho thuê của NH thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn. NH mua tài
sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho NH phải thu gần đủ hoặc thu đủ giá
trị của tài sản cho thuê cộng lãi. Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản
đó.
Cho thuê (thuê – mua) giống một khoản cho vay thông thường ở chỗ NH
phải xuất tiền với kì vọng thu về cả gốc và lãi sau thời hạn nhất định; khách hàng
phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kì. NH cũng phải đối đầu với rủi
ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quả không trả được tiền thuê đầy đủ

ứng trước thụ thuộc vào lãi suất chiết khấu và thời hạn cũng như lệ phí chiết khấu.
Bên cạnh việc áp dụng lãi suất chiết khấu, NH có thể yêu cầu khách hàng trả
thêm lệ phí chiết khấu đối với những trường hợp cụ thể có liên quan đến rủi ro và
chi phí đòi tiền.
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa NH
và người kí tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách, NH thường kí với
khách hợp động chiết khấu. Khi cần chiết khấu, khách hàng chỉ cần gửi thương
phiếu lên NH xin chiết khấu. NH sẽ kiểm tra chất lượng thương phiếu và thực hiện
chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết trả tiền cho NH nên độ an toàn của
thương phiếu tương đối cao trừ trường hợp NH kí miễn truy đòi đối với khách
hàng. Hơn nữa, NHTM có thể tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng
nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp.
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụngRRTD
NHTM là loại doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt – hàng hóa tiền
tệ. Đa phần trong đoa các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu cầu. Nguồn tiền của
các NHTM đang có thay đổi mạnh mẽ do gia tăng cạnh tranh trong hệ thống NH,
giữa các NH với các TCTC dưới dưới ảnh hưởng của công nghệ thông tin và quá
trình toàn cầu hóa. Các nguồn tiền gửi của cá nhân và doanh nghiệp trở nên dễ
dàng di chuyển hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Điều này tạo thuận lợi hơn cho một
NH trong việc tìm kiếm nguồn tiền song lại làm tăng tính mỏng manh, kém ổn
định của cả hệ thống. Tài sản của NH chủ yếu là các động sản tài chính (các khoản
cho vay, chứng khoán) với tính rủi ro thị trường, RRTD cao. Công nghệ NH cho
phép NH có thể chuyển nguồn tiền của mình đầu tư tới các vùng, các thị trường
khác nhau ngày càng xa trụ sở chính. Điều này, một mặt cho phép NH giảm bớt rủi
ro thông qua đa dạng hóa khách hàng, đa dạng sản phẩm và thị trường, song mặt
khác cũng làm tăng tín dụng rủi ro do tính biến động lớn trên thị trường thế giới và
khu vực, do thông tin sai lệch…
Phân chia rủi ro theo các loại tài sản gồm có: Rủi ro trong quản lí kinh doanh
ngân quỹ, rủi ro tín dụng, rủi ro trong quản lý và kinh doanh chứng khoán, rủi ro

trạng cán bộ quản lý NHTM, hoặc người đi vay lợi dụng, đặc biệt nguy hại khi cán
bộ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của NHTM bị sa sút phẩm chất đạo
đức nghề nghiệp.
1.2.2 Bản chất, nguyên nhân và dấu hiệu của rủi ro tín dụngRRTD
1.2.2.1 Bản chất rủi ro tín dụngRRTD
RRTD gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của
NHTM – hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, NH cố
gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn cao nhất. Và nhìn
chung NH chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên, không một nhà kinh
doanh NH tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn
trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa,
nhiều cán bộ NH không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do
vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ NH, RRTD là không thể tránh khỏi, là khách
quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, RRTD la bạn đường trong kinh doanh, có thể
đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác
định trước trong chiến lược hoạt động chung của NH.
1.2.2.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụngRRTD
● Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất khả
năng thanh toán cho NH. Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay đổi tầm vĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status