CÔNG TÁC BẢO QUẢN VỐN TÀI LIỆU QUÝ HIẾM Ở THƯ VIỆN QUỐC
GIA VIỆT NAM
2.1 Công tác bảo quản vốn tài liệu quý hiếm ở Thư viện Quốc gia Việt Nam
2.1.1 Vấn đề nhân sự và cơ sở vật chất trong công tác bảo quản vốn tài liệu quý
hiếm
2.1.1.1 Nhân sự
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh biên giới phía Bắc, công
tác bảo quản tài liệu của Thư viện Quốc gia Việt Nam không được tập trung vì có
nhiều kho sách phải chuyển đi sơ tán ở Việt Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh. Đến
năm 1987, các kho sách đi sơ tán mới được chuyển hết về Thư viện. Lúc này, công
việc bảo quản tài liệu do các phòng có kho sách chịu trách nhiệm. Tổ bảo quản
phân bổ cán bộ đến từng kho làm việc. Mỗi kho tiếp nhận 1- 2 nhân viên bảo quản
trong đó nhiều nhất là kho sách phòng đọc và kho báo, tạp chí. Năm 1989, do tài
liệu nhập về Thư viện ngày càng nhiều, nhu cầu bảo quản tài liệu cũng tăng lên nên
Thư viện Quốc gia Việt Nam đã hình thành một phòng chức năng nữa là: “Phòng
Microfilm - Bảo quản và tu sửa tài liệu”. Đến năm 1992, phòng này chính thức gọi
là: “Phòng bảo quản”.
Đội ngũ cán bộ Phòng Bảo quản của Thư viện Quốc gia hiện nay gồm 24
cán bộ trong đó có: 1 Trưởng phòng (chịu trách nhiệm quản lý chung) và 1 Phó
trưởng phòng có nhiệm vụ hỗ trợ Trưởng phòng trong công tác; Phòng được chia
làm các tổ: in sao chụp, tổng kho, vệ sinh tài liệu, phục chế, đóng sách, chuyển
dạng tài liệu.
Mặc dù, đội ngũ cán bộ này phần lớn chưa được đào tạo một cách bài bản về
bảo quản tài liệu, song do tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong quá trình làm việc
cùng với lòng nhiệt tình, yêu nghề, Phòng luôn hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch do
Giám đốc Thư viện đề ra. Mỗi năm, các cán bộ của Phòng Bảo quản đã tu sửa và
đóng bìa cho khoảng 10.000 cuốn sách báo, tạp chí; tổ chức vệ sinh lần lượt cũng
như định kỳ kiểm tra mối mọt và các loại côn trùng khác trong tất cả các kho của
Thư viện. Ngoài ra, Phòng Bảo quản còn phối hợp với Công ty Bảo quản Nông
Lâm sản thành phố Hà Nội phun thuốc phòng chống sự phá hoại của các loại côn
trùng cho tất cả các kho sách báo ở Thư viện Quốc gia Việt Nam.
rất nhanh và rất khó để có thể bảo quản.
Tài liệu xuất bản trước năm 1954 đa phần làm bằng giấy Dó nhất là các tài
liệu Hán - Nôm. Đây là loại giấy được làm từ vỏ cây Dó và sản xuất hoàn toàn
bằng phương pháp thủ công. Giấy Dó chủ yếu được làm bằng cách giã vôi trong
cối bằng đá, do vậy độ axit trong giấy không tăng cho độ bền trên 500 năm. Tuy
nhiên, với chất lượng tốt như vậy tài liệu Hán - Nôm của Thư viện vẫn bị hư hỏng,
cũ nát rất nhiều theo thời gian. Kho tài liệu Hán - Nôm hiện nay có tình trạng: một
số tài liệu có phần bìa và gáy tách rời ra khởi các trang nội dung, một số các quyển
sách khác thì các trang sách lại bị dính bết vào với nhau không thể nào tách ra mà
không làm rách những trang này và hầu hết các tài liệu có phần chữ viết trong
chính văn đã bị mờ rất khó đọc, thậm chí là không đọc được. Đó là một thiệt thòi
rất lớn cho bạn đọc thế hệ sau, sẽ không được biết đến một kho tàng sách Hán -
Nôm quý giá đến như vậy.
Về phần kho sách Đông Dương cùng với kho báo, tạp chí xuất bản trước
năm 1954 thì giấy làm nên các tài liệu đó được sản xuất bằng phương pháp cơ giới,
giấy được ra đời trên dây truyền hiện đại hơn giấy Dó. Nhưng những loại giấy này
được sản xuất trên cơ sở sử dụng rất nhiều bột gỗ và nhiều hoá chất rẻ tiền nên
giấy có độ axit cao làm cho tuổi thọ của tài liệu giảm đi đáng kể. Kết quả là kho
Đông Dương hiện nay rất nhiều tài liệu đã bị ố vàng, mục nát, mất độ bền dai, ngày
càng hư hỏng nặng hơn mà chúng ta chỉ còn cách hạn chế dần chứ không thể ngăn
lại sự lão hóa của vốn tài liệu này.
Viện công nghiệp giấy xenluylô đã đưa ra kết quả khảo sát kho sách của Thư
viện là: Một số tài liệu Hán - Nôm sẽ có nguy cơ huỷ hoại hoàn toàn trong vòng 5 -
10 năm nữa. Các tài liệu khác qua đo đạc (nhờ phương pháp lão hoá nhân tạo)
cũng chỉ còn tuổi thọ không quá 50 năm. Hiện nay, đã có rất nhiều tài liệu quý
hiếm đã không còn đủ điều kiện độ bền, độ rõ nét của chữ trừ một số tài liệu được
viết bằng giấy Dó nguyên chất.
Đối với tài liệu luận án, sự lão hoá tài liệu đã được giảm đi đáng kể do sự cải
tiến từ chất lượng giấy in: giấy trắng tinh, nhẵn, độ dày mỏng của tờ giấy vừa vặn,
mực và kỹ thuật in sắc nét, rõ ràng nhưng độ axit trong giấy vẫn là một vấn đề làm
lại nổ ra vào năm 1979. Thư viện Quốc gia Việt Nam buộc phải sơ tán kho sách
của mình vào tận Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích sẽ chuyển lên Thư viện
Đà Lạt để cất giữ một thời gian. Tuy nhiên, kế hoạch này đã không thực hiện được
vì lúc đó ở Đà Lạt đã xảy ra bạo động vì vậy Thư viện lại quyết định chuyển các
hòm sách ra Hà Nội, cất giữ trong các hang núi, trong nhà dân ở Yên Lãng - Vĩnh
Phúc. Cán bộ của Thư viện lúc bấy giờ đã rất cẩn thận trong công tác bảo quản
những hòm sách đó: phun thuốc chống côn trùng vào trong các quyển sách, sau đó
gói lại bằng hai lớp giấy, lớp trong bằng giấy xi măng, lớp ngoài bằng giấy chống
ẩm rồi cho vào hòm gỗ đóng lại và quét thuốc chống mối bên ngoài. Mặc dù vậy,
những hòm sách này vẫn không tránh khỏi tình trạng bị mất mát và hư hại. Nguyên
nhân chính là do điều kiện lưu trữ không tốt, các hòm sách được cất giữ trong núi
có khí hậu ẩm ướt cộng với lũ về bất chợt làm cho tất cả vốn tài liệu bị ướt hết. Các
cán bộ Thư viện lại tiến hành hong khô sách bằng cách phơi ra nắng nên đã làm
cho một số tài liệu bị giòn, mục. Bên cạnh đó còn có một nguyên nhân khác xuất
phát từ chính cách mà các cán bộ Thư viện dùng để bảo quản tài liệu đó là: hoá
chất DDT mà Thư viện sử dụng phun vào tài liệu để chống côn trùng phá hoại thì
lại có tác dụng ngược lại gây ra hư hỏng tài liệu,…
Việc bảo quản vốn tài liệu quý hiếm trong quá trình sơ tán của Thư viện Quốc
gia Việt Nam rất phức tạp, khó khăn mà không phải Thư viện nào cũng có thể làm
được. Mặc dù trong thời gian đầy khó khăn đó, vốn tài liệu bị hư hỏng và thất thoát
khá nhiều nhưng có thể nói rằng các cán bộ Thư viện Quốc gia Việt Nam đã cố
gắng hết sức và hoàn thành nhiệm vụ bảo quản vốn tài liệu của mình.
Công tác xây dựng cơ sở vật chất, dồn kho, chuyển kho cũng là một nguyên
nhân làm cho vốn tài liệu của Thư viện bị hư hỏng, rách nát. Vì lượng sách báo
nhập vào Thư viện ngày càng nhiều nên nhu cầu mở rộng vật chất, kho tàng là điều
không thể tránh khỏi. Khi chưa có kho mới thì sách, báo phải xếp chồng lên nhau
hoặc ken rất chặt để có thêm diện tích chứa tài liệu. Đây cũng là nguyên nhân làm
cho tài liệu hư hỏng nhanh hơn và kém bền hơn.
- Bạn đọc và cán bộ Thư viện
Có thể nói, Thư viện Quốc gia Việt Nam là Thư viện có lượng bạn đọc lớn
xây dựng vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX và đã tính tới việc thiết kế kho
tàng Thư viện thích hợp với công tác bảo quản tài liệu.
Hiện nay, kho sách chính của Thư viện (tính từ sách không năm cho đến
sách năm 2007 trong đó có cả kho sách Đông Dương, kho Hán - Nôm, kho luận
án) đang được lưu giữ tại khu nhà K1 của Thư viện. Số sách xuất bản từ năm 2008
trở lại đây thì được lưu trữ tại kho tự chọn nằm ở tầng 4 của khu nhà nhà 6 tầng
nhìn thẳng từ cổng Thư viện vào. Kho báo tạp chí (trong đó có báo, tạp chí Đông
Dương) cùng với một số loại sách ngoại khác được lưu trữ tại dãy nhà bên phải từ
cổng chính của Thư viện nhìn vào. Khu nhà này được thiết kế từ năm 1960 nhưng
do chiến tranh nên đến khoảng đầu những năm 70 của thế kỷ XX mới được hoàn
chỉnh. Đây là công trình duy nhất của Thư viện được xây dựng theo đúng tiêu
chuẩn kho sách do chuyên gia nổi tiếng về kiến trúc vật lý thiết kế: sàn kho sách
không kín mà có nhiều lỗ thông từ tầng này sang tầng kia, các giá sách được đặt
ngay trên các lỗ đó và tạo nên sự thông gió tự nhiên rất hiệu quả giữa các tầng
trong kho. Đây thực sự là biện pháp tốt cho việc bảo quản sách của Thư viện,
những lỗ thông hơi giúp cho không khí giữa các tầng của kho sách được điều hoà,
tạo điều kiện lý tưởng nhất cho môi trường kho sách. Tuy nhiên, các lỗ thông giữa
các tầng có một nhược điểm đó là: bụi từ tầng trên sẽ rơi xuống tầng dưới khi tiến
hành vệ sinh kho. Do vậy mà phương án này không được áp dụng như ý đồ thiết kế
ban đầu, các lỗ hổng trên sàn các kho được che lại bằng các tấm ván và giá sách
được đặt trên nền đó dẫn đến không phát huy được tác dụng làm thông thoáng kho
sách. Việc điều hoà khí hậu cho kho sách dựa vào điều kiện kho tàng không khả thi
đã gây bất lợi không nhỏ cho vốn sách báo của Thư viện trong tình hình thời tiết
phức tạp như ở Hà Nội.
Khí hậu ở Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè rất nóng cộng với
mưa nhiều. Điều đó làm ảnh hưởng tới độ bền của giấy, các ấn phẩm bị lão hoá, ố
vàng, dễ gãy, mùa xuân ẩm ướt thích ứng cho các loại nấm mốc phát triển, không
khí bị ô nhiễm, nhiều bụi tác động trực tiếp tới sách báo vì vậy việc bảo quản vốn
tài liệu này gặp rất nhiều khó khăn.
Vốn tài liệu quý hiếm (trừ luận án) là kho sách có tuổi thọ lâu đời thì công
một thư viện nào có thể kiểm soát được, đó là nấm mốc và vết bẩn. Đôi khi các
loại nấm mốc và vết bẩn làm xấu cuốn sách và tài liệu lưu trữ. Các nấm mốc ăn
thủng do có độ ẩm quá cao trong không khí. Ngoài ra vết bẩn sẽ dễ dàng hình
thành và phá huỷ tài liệu nếu kho tàng không được vệ sinh sạch sẽ. Sự xuất hiện
của nấm mốc tạo ra các vết bẩn, vết đen trên giấy, làm mờ, hư hỏng chính văn và
làm cho vốn tài liệu có mùi hăng hắc khó chịu mà ta vẫn thường gọi là “ mùi mốc”.
Hiện nay, vốn tài liệu quý hiếm của Thư viện Quốc gia Việt Nam đã bị nấm
mốc xâm nhập và gây hại rất nhiều. Các trang sách hầu như đã bị ố vàng do thời
gian cộng với các vết nấm mốc. Tuy nhiên, công tác vệ sinh kho được diễn ra
thường xuyên để giảm tối thiểu sự hình thành các vết bẩn bấm trên sách và mạng
nhện chăng trên các giá sách giúp bảo quản sách tốt hơn.
Không chỉ có tài liệu chữ viết, đa số tài liệu vi phim của Thư viện trước đây
cũng bị nấm mốc phá huỷ: hàng nghìn mét vi phim bị mốc, dính bết vào nhau do
chất lượng phim kém, phòng kho không có phương tiện bảo quản. Hiện nay, điều
kiện vật chất cho công tác bảo quản có tốt hơn nhiệt độ, độ ẩm lý tưởng luôn được
để 24/24h.
Không chỉ nấm mốc đang hoành hành tại kho tài liệu quý hiếm của Thư viện
mà còn một tác nhân gây hại khác làm huỷ hoại tài liệu nghiêm trọng phải kể đến
đó là côn trùng và động vật. Một số loại (côn trùng và động vật) chủ yếu xuất hiện
trong các kho sách là: mối, mọt, con dài đuôi cùng với gián và chuột. Đây là những
tác nhân chính làm cho vốn tài liệu quý hiếm trong Thư viện Quốc gia bị phá huỷ,
gây khó khăn cho các cán bộ Phòng Bảo quản trong công tác tìm ra biện pháp để
ngăn chặn sự phá huỷ của chúng.
Khi nói đến sách bị hư hỏng, chúng ta thường nhắc đến loài côn trùng dễ
dàng xâm nhập vào làm tài liệu bị huỷ hoại nhất, đó chính là con mọt. Hầu như mọi
kho tàng lưu trữ tài liệu của Thư viện Quốc gia Việt Nam đều bị mọt xâm hại kể cả
mọt gỗ và mọt sách. Kho sách bị mọt xâm hại nhiều nhất chính là kho sách Đông
Dương. Sở dĩ, mọt có thể dễ dàng xâm nhập và phá huỷ tài liệu như vậy là do các
giá xếp sách, báo của Thư viện trước kia đều sử dụng giá gỗ. Trong những năm
gần đây, để khắc phục tình trạng mọt ăn tài liệu, các giá sách của Thư viện đều
2.1.3 Các phương pháp bảo quản vốn tài liệu quý hiếm
Kế hoạch bảo tồn, bảo quản vốn tài liệu quý hiếm trong Thư viện là một vấn
đề lớn, cấp thiết, phải được sự quan tâm thường xuyên của các ngành các cấp nhất
là ở một thư viện lớn như Thư viện Quốc gia Việt Nam. Thực tế vốn tài liệu quý
hiếm ở Thư viện Quốc gia Việt Nam đã có những chương trình bảo quản để khắc
phục và ngăn chặn những tác nhân có hại đang diễn ra từng ngày từng giờ tác động
một cách trực tiếp hay gián tiếp, làm huỷ hoại vốn tài liệu này. Sự quan tâm, bảo
vệ để chống lại sự nguy hại từ tự nhiên, trộm, môi trường ẩm ướt và côn trùng,
động vật được đặt lên hàng đầu. Thư viện đã có những biện pháp thiết thực và
mang tính dự án khả thi trong công tác bảo quản vốn tài liệu quý hiếm như sau:
2.1.3.1 Phương pháp chung
* Phương pháp bảo quản thường xuyên
- Dùng các loại hóa chất diệt vi sinh vật và động vật gặm nhấm
Khi phát hiện ra các loại vi sinh vật và động vật gặm nhấm làm nguy hại đến
vốn tài liệu, điều quan trọng nhất là tìm ra cách và biết cách tiêu diệt chúng. Việc
sử dụng hoá chất để tiêu diệt các loại vi sinh vật và động vật gặm nhấm đã được áp
dụng ở những kho tàng lưu trữ sách báo từ xa xưa.
Nếu như dầu bá hương là chất đầu tiên được các Thư viện trên thế giới trước
Công nguyên sử dụng bôi vào sách làm bằng giấy papyrus rồi đựng chúng trong
các hòm gỗ thông đánh bóng để bảo vệ thì đến thế kỷ thứ III sau Công nguyên,
người Trung Quốc đã sáng chế ra chất huang - nich, một loại thuốc trừ sâu được triết
từ hạt giống của cây bấc. Và đến năm 674 sau Công nguyên thì luật pháp đã buộc
các nhà sản xuất phải thêm chất thuốc này vào giấy trong quá trình chế tạo nhằm bảo
vệ giấy chống lại các cuộc tấn công của lũ sâu bọ.
Đến khi công nghệ hoá học và sản xuất giấy được nâng cao hơn thì người ta
đã phát hiện và ứng dụng theo nhiều cách, một vài chất và vật liệu khác để làm