Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, nhu cầu bảo hiểm cũng ngày
càng cao. Quá trình phát triển mấy trăm năm của bảo hiểm đã ghi nhận vai trò và
những đóng góp to lớn của bảo hiểm trong việc ổn định, thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế xã hội, vị thế của bảo hiểm càng đợc nâng cao trong các ngành kinh tế
quốc dân. Ngày nay, sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật,
quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá diễn ra nhanh chóng đã làm thay đổi sâu sắc bộ
mặt của ngành bảo hiểm. Những thách thức của thị trờng bảo hiểm là rất khó kiểm
soát, cạnh tranh ác liệt và những thay đổi lớn về cơ cấu kết hợp với nhau là những nét
đặc trng của hoạt động bảo hiểm.
ở Việt Nam hoạt động bảo hiểm phát triển khá mạnh trong vài năm gần đây từ
khi chúng ta chính thức mở cửa thị trờng bảo hiểm. Các lĩnh vực, các nghiệp vụ và
các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đợc mở rộng, các hợp đồng bảo hiểm đợc kí kết
ngày càng nhiều. Tuy vậy, bảo hiểm Việt Nam vẫn cha phát triển tơng xứng qui mô
của nó và cũng cha có một qui chế pháp lý vững chắc, một hệ thống pháp luật hoàn
thiện tạo cơ sở pháp lý cho thị trờng bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và có
hiệu quả. Với mong muốn đợc đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về
vấn đề bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm, giúp cho các cán bộ pháp lý có thêm cách
nhìn mới và hiểu rõ hơn về bản chất và những vấn đề cơ bản của hợp đồng bảo hiểm
từ đó đề ra những hớng xây dựng luật cũng nh áp dụng các qui phạm pháp luật về
bảo hiểm một cách chính xác và hiệu quả tôi đã chọn đề tài Hợp đồng bảo
hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là đề tài còn rất mới mẻ và có rất nhiều vấn đề phức tạp.
Tuy đây cha phải là một công trình nghiên cứu hoàn thiện song tôi đã cố gắng đề cập
đến những vấn đề chủ yếu, then chốt nhất của hợp đồng bảo hiểm nói chung có gắn
với thực tiễn cho phù hợp.
Với trình độ và sự hiểu biết có hạn nên chắc chắn tôi không thể tránh khỏi
những sơ suất. Rất mong đợc bạn đọc và các thầy cô giáo góp ý để bản Luận văn của
tôi ngày càng hoàn thiện hơn.
1
Trong nhiều trờng hợp các biện pháp trên tỏ ra rất hiệu quả nhng nhiều trờng
hợp khác chúng lại cho thấy những hạn chế trong việc khắc phục hậu quả. Đó là:
Cho dù con ngời có chú ý đến biện pháp phòng ngừa nhng những rủi ro, tai nạn
vẫn có thể xảy ra nh động đất, núi lửa. Những thiệt hại do thiên tai gây ra không thể
buộc cá nhân hay tổ chức nào đó bồi thờng đợc vì không ai có lỗi. Biện pháp cứu trợ
lại kém hiệu quả đối với trờng hợp thiệt hại do thiên tai gây ra quá lớn. Hay trờng
hợp xảy ra thiệt hại nhng không tìm ra thủ phạm hoặc thiệt hại xảy ra do lỗi của
chính ngời bị thiệt hại khiến họ bị đẩy vào thế suy kiệt kinh tế.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong bối cảnh đó hình thức bảo hiểm ra đời để giải quyết cơ bản những hạn
chế đó. Biện pháp bảo hiểm đợc thực hiện thông qua hoạt động lập và sử dụng quĩ
bảo hiểm nhằm bù đắp thiệt hại, khắc phục hậu quả của các rủi ro. Vậy tại sao bảo
hiểm lại có khả năng khắc phục đợc những thiệt hại to lớn đó. Để trả lời câu hỏi này
ta tìm hiểu vai trò của bảo hiểm.
II. Vai trò của bảo hiểm
1. Bảo hiểm là công cụ để xử lý rủi ro, duy trì đời sống và hoạt động bình thờng
của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Hoạt động bảo hiểm đợc thực hiện theo phơng thức lấy ít của số đông bù cho
số ít đã tập trung đợc một lợng của cải cần thiết có khả năng bù đắp thiệt hại cho
các tổ chức và cá nhân gặp rủi ro thuộc diện đợc bảo hiểm. Chính vậy mà việc tham
gia bảo hiểm tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân trong xã hội có thể duy trì đời
sống và hoạt động bình thờng khi gặp rủi ro. Ngay cả khi thiệt hại quá lớn hay không
tìm thấy ngời gây thiệt hại thì bảo hiểm cũng đảm bảo đợc khả năng bồi thờng thiệt
hại. Và vì một thiệt hại khi xảy ra trong phạm vi bảo hiểm đã đợc chia sẻ cho nhiều
ngời cùng gánh chịu nên tác hại của hiểm hoạ không còn lớn nh khi chỉ có một số ít
ngời phải gánh chịu toàn bộ.
Vai trò to lớn của bảo hiểm trong đời sống, sản xuất kinh doanh thể hiện là:
+ Đem lại tâm lý an tâm về mặt tài chính trớc các nguy cơ xảy ra gây thiệt hại.
+ Nhanh chóng đợc bồi thờng tổn thất khi rủi ro gây thiệt hại.
sự hình thành và phát triển lâu bền của nền văn minh xã hội. Ănghen đã nói Quĩ
sản xuất và dự phòng của xã hội đã và vẫn còn là cơ sở của mọi tiến bộ xã hội, về
chính trị và trí tuệ (Ph. Ănghen: chống Duyring - NXB Sự thật, Hà Nội - 1959, Tr
957).
2. Bảo hiểm nâng cao khả năng ngăn ngừa rủi ro và hạn chế hậu quả phát
sinh từ rủi ro đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
Trong nhiều loại hình bảo hiểm nh bảo hiểm thơng mại, lúc đầu là tập quán sau
đó trở thành qui tắc xử sự đợc pháp luật ghi nhận, những ngời tham gia bảo hiểm
(bên mua bảo hiểm) phải thực hiện những biện pháp để phòng ngừa rủi ro và hạn chế
hậu quả khi xảy ra rủi ro. Pháp luật của các nớc đều có các qui định về nghĩa vụ của
ngời tham gia bảo hiểm trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn
chế hậu quả. Nếu ngời tham gia bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ này thì tuỳ mức độ mà bị
bên bảo hiểm từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thờng bảo hiểm. Chính vì
vậy, khi tham gia quan hệ bảo hiểm, các tổ chức và cá nhân tích cực thực hiện các
biện pháp phòng tránh, hạn chế hậu quả của rủi ro.
3. Bảo hiểm là công cụ tập trung vốn
Quĩ bảo hiểm đợc hình thành trên cơ sở phí bảo hiểm do các tổ chức và cá nhân
tham gia bảo hiểm đóng và đợc sử dụng chi trả khi có sự kiện bảo hiểm. Do phơng
thức sử dụng quĩ nh vậy nên tạo ra khả năng tạm thời nhàn rỗi của vốn tiền tệ. Số vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi này đợc các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để tham gia các
quan hệ đầu t. Nh vậy, về phơng diện vốn, các quĩ bảo hiểm là những tụ điểm tài
chính cần đợc khai thác, sử dụng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế.
Với tốc độ phát triển kinh tế hiện nay, bảo hiểm phải đóng vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ đầu t bằng cách cung cấp những sản phẩm bảo hiểm có chất lợng
cao và an toàn. Nhiều công trình đợc các cơ quan tài chính quốc tế và trong nớc cung
cấp tài chính đến 75-90%. Những ngời cho vay tiền muốn chuyển giao rủi ro càng
nhiều càng tốt và điều đó đòi hỏi bảo hiểm phải có khả năng đáp ứng. Trong tình
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hình đó vai trò của bảo hiểm hay vai trò của chuyển giao rủi ro và sự phát triển thói
kinh doanh này, hình thức bảo hiểm ra đời. Các nguyên tắc của hoạt động bảo hiểm
cùng với hợp đồng bảo hiểm ngày càng hoàn thiện đã đem lại sự đảm bảo an toàn
cao cho hoạt động bảo hiểm. Năm 1182 ở Limbardine (Bắc ý) hợp đồng bảo hiểm sơ
khai đã ra đời với tên gọi Police (đơn mua). Ngời bán đơn này ký tên dới đơn
Coghataire cam kết các nội dung ghi trên đơn của mình để phục vụ ngời mua đơn.
Từ thế kỷ 14, bảo hiểm chính thức ra đời, đầu tiên là ở Phơ lo ren xơ, Genois và
Flauder. Xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm mà theo đó một nhà bảo hiểm cam kết với
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
một ngời đợc bảo hiểm qua việc nhận đợc một khoản phí, bồi thờng những thiệt hại
về tài sản mà ngời đợc bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển.
Khi đó ở Gene, vào năm 1336, thống đốc đã ra sắc lệnh về bảo hiểm. ở Bồ Đào
Nha, một chỉ dụ của Vua Ferdinand vào nửa thế kỷ sau thế kỷ 14, thiết lập bảo hiểm
tơng hỗ bắt buộc đối với chủ tàu 500 tấn trở lên. Còn ở Bruge (Bỉ) Uỷ ban
BETHUNE năm 1310, thiết lập phòng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm cổ xa nhất mà
ngời ta tìm thấy ghi ngày 22 tháng 4 năm 1329, hiện còn lu giữ ở Plorenxơ. Sự phát
triển của bảo hiểm hàng hải gắn cùng với sự phát hiện ra ấn Độ Dơng và đơng nhiên
cả việc tìm ra Châu Mĩ.
Vào thế kỷ 17, luật về bảo hiểm hàng hải đã ngày càng phong phú bởi các bộ
luật và sắc lệnh. Đặc biệt là cuốn sắc lệnh về hàng hải xuất bản năm 1680 theo
sáng kiến của Cobert. Tác phẩm này ấn hành vào năm 1680 mà hiện nay ta có thể
tìm thấy đợc, đã đa vào các nguyên tắc lớn của bảo hiểm hàng hải hiện đại, đã có ảnh
hởng rất rộng lớn tới nhiều bộ luật hàng hải.
Thế kỉ XVII, nớc Anh đã chiếm vị trí đáng kể trong buôn bán thế giới và cũng
là nơi hoạt động bảo hiểm phát triển nhất. Tiệm cà phê của Lloyds ở phố Tower
street sau này trở thành nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm, hiện nay vẫn đang là một
trong những hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới. Đến thế kỉ 20, các qui định của luật
hàng hải Anh ban hành năm 1906 dới tên gọi Luật bảo hiểm hàng hải đã ngự trị
bảo hiểm hàng hải thế giới.
Và từ bảo hiểm hàng hải, các loại hình bảo hiểm khác kế tiếp nhau ra đời xuất
thông qua và có hiệu lực ngày 1-7-1996, giành hẳn Chơng 2 phần 3 mục 11 qui định
về hợp đồng bảo hiểm. Tiếp đó Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành một loạt các
văn bản pháp luật để tạo ra một hành lang pháp lý cần thiết cho quan hệ hợp đồng
bảo hiểm.
B. Khái niệm bảo hiểm
Bảo hiểm là hoạt động phân tán rủi ro theo qui luật số đông. Nghĩa là ngời tham
gia bảo hiểm (ngời mua bảo hiểm) chuyển rủi ro cho công ty bảo hiểm theo cơ chế
ngời tham gia bảo hiểm trả cho công ty bảo hiểm một khoản tiền (gọi là phí bảo
hiểm) để khi có tổn thất do thiên tai hoặc tai nạn gây ra thì họ sẽ đợc công ty bảo
hiểm bồi thờng. Chính vì có nhiều ngời đóng phí bảo hiểm nên sẽ tạo ra một quỹ lớn
và công ty bảo hiểm sẽ lấy số tiền từ quĩ này để bù đắp tổn thất cho một số ít ngời
tham gia bảo hiểm. Rõ ràng nếu chỉ có một số ít ngời tham gia bảo hiểm thì sẽ không
lập đợc thành một quỹ lớn và nếu nh rủi ro xảy ra nhiều quá mức thì cũng sẽ không
thể bù đắp đợc thiệt hại. Nên bảo hiểm bao giờ cũng có rất nhiều ngời tham gia và rủi
ro đó cũng không thể là những rủi ro mang tính khách quan. Bằng cách đóng phí bảo
hiểm để tạo ra quĩ lớn thì tổn thất của một ngời, một nhóm ngời hay một tổ chức sẽ
đợc chia nhỏ ra toàn thể cộng đồng những ngời tham gia bảo hiểm. Vì thế mà một
tổn thất lẽ ra rất nặng nếu chỉ có một ngời gánh chịu sẽ trở lên chịu đựng đợc đối với
ngời bị tổn thất nhờ có sự gánh đỡ của cộng đồng những ngời tham gia bảo hiểm.
Xét trên khía cạnh kinh tế, bảo hiểm là một mối quan hệ hợp đồng còn đứng
trên khía cạnh xã hội, bảo hiểm là hoạt động đảm bảo đời sống kinh tế cho các thành
viên trong xã hội trớc các nguy cơ bị mất an toàn về kinh tế do rủi ro gây ra.
Trong bảo hiểm luôn có ba nhân tố đó là: rủi ro - chuyển giao rủi ro - chia nhỏ
tổn thất.
- Rủi ro: là khả năng xảy ra một tổn thất.
Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro nh: do thiên tai, sự phát triển của sản xuất
có thể kéo theo sự thiệt hại lớn hơn khi rủi ro xảy ra; do ảnh hởng của môi trờng xã
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hội: thất nghiệp,...; do sự phát triển của lực lợng sản xuất, khoa học kỹ thuật,... Bảo
A. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
I. Khái niệm
Theo điều 571 Bộ Luật dân sự Việt Nam 1996 thì hợp đồng bảo hiểm đợc định
nghĩa là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo
hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên đợc bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm hiểu theo nghĩa chủ
quan đó là một quan hệ xã hội đợc hình thành từ sự thoả thuận của các bên. Nếu chỉ
có một bên thể hiện ý chí của mình mà không đợc bên kia chấp nhận cũng không thể
hình thành một quan hệ hợp đồng đợc. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống
nhất ý chí giữa các bên thì hợp đồng bảo hiểm mới hình thành. Cơ sở đầu tiên để
hình thành hợp đồng bảo hiểm là việc thoả thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên.
Tuy nhiên hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ đợc pháp luật công nhận và bảo
vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nớc. Các bên đợc tự do thoả
thuận để thiết lập hợp đồng, nhng sự tự do ấy phải đợc đặt trong giới hạn bởi lợi
ích của ngời khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng.
Thông thờng trong hợp đồng bảo hiểm có hai bên tham gia: bên bảo hiểm và
bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) cũng là bên đợc bảo hiểm. Còn trờng hợp
khác có ba bên tham gia khi hợp đồng đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba. Khi đó có
bên bảo hiểm - bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) - ngời thứ ba (bên đợc
bảo hiểm). Ngời thứ ba có các quyền và nghĩa vụ của ngời đợc bảo hiểm, trừ nghĩa
vụ đóng phí bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm gồm bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt
buộc.
Với hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, các bên tự do thoả thuận về các điều kiện
bảo hiểm và mức phí bảo hiểm. Có thể nói đây là loại hình bảo hiểm mà ý chí của
các bên có quyền định đoạt cao. Còn đối với hợp đồng bảo hiểm bắt buộc, các điều
kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm do pháp luật qui định.
II. Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm
1. Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có phát sinh nghĩa vụ có điều kiện
thứ ba (bên đợc bảo hiểm). ở đây việc kí kết hợp đồng chỉ diễn ra giữa hai bên: bên
bảo hiểm và bên mua bảo hiểm và việc kí kết chỉ ra rằng khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra gây tổn thất cho đối tợng bảo hiểm thì ngời thứ ba sẽ là ngời đợc bảo hiểm chứ
không phải là bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm không phải
vì lợi ích của mình mà vì lợi ích của ngời khác (ngời thứ ba). Ví dụ: với loại hình bảo
hiểm tiền gửi, tổ chức tín dụng là bên tham gia bảo hiểm, kí kết hợp đồng bảo hiểm
với bên bảo hiểm để bảo hiểm cho số tiền gửi của khách hàng tại tổ chức mình. Khi
có sự kiện bảo hiểm thì ngời đợc bảo hiểm chính là các khách hàng của tổ chức tín
dụng đó.
Ngời đợc bảo hiểm thờng có mối quan hệ với bên mua bảo hiểm chính vì vậy
mà họ đợc ngời mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm vì lợi ích của mình. Nhng giữa ng-
ời đợc bảo hiểm và bên bảo hiểm lại gần nh không có mối quan hệ nào hoặc là có
nhng rất ít. Quan hệ giữa họ với bên bảo hiểm thờng bắt đầu khi bên bảo hiểm thực
hiện trách nhiệm vật chất và kết thúc khi bảo hiểm thanh toán bồi thờng xong cho
ngời đợc bảo hiểm.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
B. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm
Đối với hợp đồng dân sự chủ thể của hợp đồng là những ngời tham gia vào
quan hệ hợp đồng đó. Phạm vi ngời tham gia vào hợp đồng bao gồm: cá nhân
(công dân Việt Nam, ngời nớc ngoài, ngời không quốc tịch), pháp nhân, hộ gia đình,
tổ hợp tác và trong trờng hợp đặc biệt là Nhà nớc.
Hợp đồng bảo hiểm gồm có hai chủ thể là bên bảo hiểm và ngời tham gia bảo
hiểm (ngời mua bảo hiểm) cũng đồng thời là ngời đợc bảo hiểm. Trong trờng hợp
hợp đồng đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba thì có ba bên tham gia hợp đồng là:
bên bảo hiểm - ngời tham gia bảo hiểm (ngời mua bảo hiểm) và ngời thứ ba (ngời đ-
ợc bảo hiểm).
I. Bên bảo hiểm
Bên bảo hiểm là tổ chức tham gia hợp đồng bảo hiểm thu phí bảo hiểm đồng
thời chịu trách nhiệm bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy
dự phòng bảo hiểm trên 1.600 tỷ đồng, với số nhân viên chiếm khoảng 70% tổng số
lao động toàn ngành. Bảo Việt luôn là doanh nghiệp dẫn đầu thị trờng, với thị phần
toàn quốc hiện tại là 66,9%.
Trong giai đoạn hiện nay, thị trờng bảo hiểm Việt Nam đã khá phát triển với sự
đa dạng về các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đó là điều tất yếu
của nền kinh tế thị trờng, xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, nó tạo ra môi trờng
khuyến khích và cởi mở đối với các nhà đầu t nớc ngoài. Các vấn đề hỗ trợ đào tạo và
chuyển giao công nghệ cũng nh việc tiếp thu kinh nghiệm quản lý của nớc ngoài
đang là đòi hỏi đối với sự phát triển của bảo hiểm Việt Nam. Nhà nớc ta đã ban hành
rất nhiều văn bản pháp luật tạo nên cơ chế pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo
hiểm. Ngày 18/12/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP, văn bản này đánh
dấu cho sự ra đời một thị trờng bảo hiểm hoạt động theo cơ chế thị trờng, thay cho sự
độc quyền của Bảo Việt là sự cạnh tranh gay gắt giữa nhiều chủ thể.
Các chủ thể đợc phép tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo Nghị định
này bao gồm:
- Các doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp Nhà nớc, công ty cổ phần,
công ty bảo hiểm tơng hỗ, công ty liên doanh bảo hiểm, chi nhánh của tổ chức bảo
hiểm nớc ngoài, công ty bảo hiểm 100% vốn nớc ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam.
- Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) là doanh nghiệp Nhà nớc,
có t cách pháp nhân, có chức năng chuyên kinh doanh tái bảo hiểm.
- Tổ chức môi giới bảo hiểm.
- Đại lý bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm muốn tiến hành hoạt
động kinh doanh bảo hiểm, phải đợc Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn
và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Thống kê về các công ty bảo hiểm tại Việt Nam:
- Từ 1965 đến hết 1993, Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất tại Việt
Nam.
- Năm 1995 công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh và công ty tái bảo hiểm
bảo hiểm hoặc có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm theo qui định của pháp luật, là ngời
trực tiếp ký kết hợp đồng bảo hiểm với bên bảo hiểm nhằm đảm bảo sự an toàn cho
các đối tợng là tài sản, tính mạng, sức khoẻ của mình hay của ngời khác.
Trong xã hội có nhiều loại hình tổ chức nh: doanh nghiệp, cơ quan Nhà nớc,
đơn vị thuộc lực lợng vũ trang, tổ chức chính trị,... tất cả các tổ chức này đều có thể
trở thành chủ thể tham gia bảo hiểm mà không phụ thuộc họ có t cách pháp nhân hay
không, là tổ chức trong nớc hay tổ chức nớc ngoài.
Đối với cá nhân để trở thành một bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm thì phải
có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và phải thoả mãn các điều kiện đợc
qui định trong từng chế độ bảo hiểm cụ thể. Cá nhân là chủ thể giao kết hợp đồng
bảo hiểm có thể là ngời Việt Nam hoặc ngời nớc ngoài.
Đối với hợp đồng mà ngời tham gia bảo hiểm kí kết nhằm bảo vệ lợi ích của
bản thân thì ngời tham gia bảo hiểm cũng đồng thời là ngời đợc bảo hiểm, còn đối
với hợp đồng đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba thì ngời đợc bảo hiểm là ngời thứ
ba.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
III. Ngời thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm ngời thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm xuất hiện khi hợp đồng bảo
hiểm đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba.
Ngời thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm là ngời vì lợi ích, quyền lợi của ngời đó
khiến ngời tham gia bảo hiểm kí kết hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng tạo ra hai mối quan hệ pháp lý: thứ nhất giữa ngời tham gia bảo hiểm
và bên bảo hiểm, thứ hai giữa bên bảo hiểm và ngời thứ ba.
Giao kết hợp đồng bảo hiểm vì lợi ích của ngời thứ ba phải đáp ứng một số điều
kiện khi thì liên quan đến các bên giao kết, khi thì liên quan đến ngời thứ ba.
Trớc hết, giữa các bên giao kết phải có một hợp đồng, trong đó bên tham gia
bảo hiểm đã chuyển tất cả các quyền lợi của mình do hợp đồng mang lại cho ngời
thứ ba.
Đối với ngời thứ ba có hai vấn đề đặt ra:
bảo hiểm vì nó có ý nghĩa quyết định cho vấn đề có bồi thờng hay không bồi thờng.
Quá trình lịch sử phát triển của bảo hiểm đã ngày càng hoàn thiện những nguyên tắc
của hoạt động bảo hiểm trong đó việc xác định những rủi ro đợc bảo hiểm cho từng
nghiệp vụ bảo hiểm có ý nghĩa rất quan trọng vì nó phải làm sao bảo đảm lợi ích của
khách hàng mà lại đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của bên bảo hiểm. Xin đợc nêu
ra một số nguyên tắc bảo hiểm mà đợc coi là nền tảng của hoạt động bảo hiểm:
- Nguyên tắc bảo hiểm đối với rủi ro khách quan: theo nguyên tắc này, chỉ
những rủi ro tham gia bảo hiểm mới có thể đợc bảo hiểm. Những rủi ro do ngời đợc
bảo hiểm cố ý gây ra không thuộc sự kiện bảo hiểm vì rõ ràng hành vi cố ý đó là một
sự gây thiệt hại cho xã hội không đúng với mục đích, ý nghĩa của bảo hiểm. Đây là
một nguyên tắc mà nghiệp vụ bảo hiểm nào cũng ghi nhận. Điều 5 khoản 1 - Qui tắc
bảo hiểm tai nạn con ngời (ban hành kèm theo Quyết định số 391/TCBH ngày
20/9/1991) qui định: Hành động cố ý tự gây ra tai nạn của ngời đợc bảo hiểm
hoặc của ngời thừa kế hợp pháp đều không thuộc phạm vi bảo hiểm. Và ở Điều 11
- Qui tắc bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với ngời thứ ba cũng qui định: Bảo Việt
sẽ không bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm các tổn thất liên quan đến hành động cố
ý của ngời đợc bảo hiểm hay ngời đại diện của họ. Cần hiểu rằng không phải mọi
trách nhiệm đều đổ hết lên công ty bảo hiểm mà ngời tham gia bảo hiểm cũng phải
có trách nhiệm trong việc không để xảy ra rủi ro hoặc hạn chế hậu quả của rủi ro
trong phạm vi khả năng của mình do đó khi họ cố ý gây ra rủi ro để hởng bảo hiểm
thì đó là hành vi trục lợi và họ đã không thực hiện trách nhiệm của mình do vậy mà
chính họ phải gánh chịu rủi ro đó.
- Nguyên tắc bảo hiểm đối với rủi ro có tính ngẫu nhiên: điều đó có nghĩa là
những rủi ro đợc bảo hiểm không phải là những rủi ro xảy ra có tính tất yếu trên thực
tế. Những rủi ro đã biết trớc chắc chắn sẽ gây ra thiệt hại không thuộc sự kiện bảo
hiểm vì bảo hiểm chỉ có thể nhận bảo hiểm những rủi ro mang tính chất bất ngờ
không lờng trớc đợc. Điều 6 - Qui tắc bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ
tàu đối với tàu thuyền hoạt động trên sông hồ, vùng nội thuỷ (ban hành kèm theo
Quyết định 254/TCQD ngày 25/5/1990 của Bộ Tài chính) có qui định: Bảo Việt
không chịu trách nhiệm bồi thờng nếu tổn thất xảy ra do nguyên nhân tàu không đủ
Không phải mọi nguyên nhân gây ra rủi ro đều đợc bảo hiểm mà chỉ một số nguyên
nhân nhất định mà gây ra rủi ro mới đợc bên bảo hiểm bồi thờng. Ví dụ phạm vi bảo
hiểm trong bảo hiểm tai nạn con ngời là những trờng hợp ngời đợc bảo hiểm bị chết
hay thơng tật do tai nạn bất ngờ hoặc do có hành vi cứu ngời, tài sản của Nhà nớc,
của cá nhân hoặc tham gia chống các hành động phạm pháp. Trong bảo hiểm hoả
hoạn bên bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thờng nếu tài sản đợc bảo hiểm bị h
hỏng hoặc huỷ hoại do bị cháy. Nếu do những nguyên nhân khác thì bảo hiểm sẽ
không chịu trách nhiệm.
Các điểm loại trừ bảo hiểm (hay còn gọi là những sự kiện không thuộc sự kiện
bảo hiểm) cũng đợc qui định cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm nhằm làm rõ ràng hơn
ranh giới trách nhiệm của bên bảo hiểm và để giúp khách hàng hiểu rõ đợc phạm vi
quyền lợi của mình. Nó sẽ chỉ ra những thiệt hại, những nguyên nhân, những lĩnh
vực hoạt động, những vùng địa lý,... mà công ty bảo hiểm không nhận bảo hiểm. Bởi
lẽ những điều này trớc hết để đảm bảo an toàn cho hoạt động quá lớn vợt quá khả
năng thanh toán của công ty bảo hiểm, hay những nguyên nhân mà làm mất đi
nguyên tắc bảo hiểm khách quan, ngẫu nhiên,... Bên cạnh đó nó còn có mục đích
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhằm hạn chế bớt những rủi ro tơng đối rộng có thể xảy ra cho đối tợng bảo hiểm từ
đó mà giữ đợc phí bảo hiểm ở mức hợp lý. Bởi lẽ công ty bảo hiểm khi đa ra mức phí
bảo hiểm bao giờ cũng phải tính toán trên cơ sở xác suất xảy ra rủi ro. Nếu rủi ro
càng cao thì phí bảo hiểm càng lớn và khi đó sẽ có rất ít ngời chịu đợc mức phí cao
nh vậy. Những điểm loại trừ làm giảm khả năng xảy ra rủi ro nên tất nhiên phí bảo
hiểm cũng đợc giảm xuống. Trong các hợp đồng bảo hiểm, những rủi ro xảy ra do
các nguyên nhân chiến tranh, bạo loạn thờng đợc liệt vào những điểm loại trừ vì
những rủi ro này có tính chất thảm hoạ tàn khốc và hậu quả rất lớn mà một mình
công ty bảo hiểm không thể gánh chịu (riêng đối với bảo hiểm hàng hải có ngoại lệ
là các rủi ro trên có thể trở thành rủi ro đợc bảo hiểm nếu ngời tham gia bảo hiểm có
thoả thuận bảo hiểm thêm những rủi ro này).
II. Tổn thất
Việc tính toán mức tổn thất đều phải dựa vào giá trị thiệt hại thực tế của tai nạn,
tổn thất. Trong một số hợp đồng bảo hiểm tài sản, đặc biệt là bảo hiểm hàng hải ngời
ta còn phân biệt tổn thất chung, tổn thất riêng, tổn thất toàn bộ, tổn thất bộ phận.
Việc phân biệt này có ý nghĩa trong giải quyết bồi thờng khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra.
- Căn cứ vào qui mô và mức độ tổn thất: tổn thất đợc chia thành tổn thất toàn bộ
và tổn thất bộ phận.
+ Tổn thất bộ phận: là việc hàng hoá bị mất mát hoặc giảm giá trị và giá trị sử
dụng ở một mức độ nhất định. Các trờng hợp hàng hoá bị mất mát thì dễ xác định giá
trị tổn thất còn sẽ rất khó xác định chính xác đối với hàng hoá bị giảm giá trị và giá
trị sử dụng. Cũng cần phân biệt tổn thất bộ phận với sự hao hụt tự nhiên của hàng
hoá. Có nhiều hàng hoá có đặc tính bị hao hụt một cách tự nhiên. Ví dụ: xăng có thể
bị bay hơi, muối có thể bị chảy nớc,... đó hoàn toàn là do đặc tính tự nhiên của hàng
hoá không phải là rủi ro và do đó không đợc tính số hao hụt tự nhiên vào tổng số tổn
thất để đòi bảo hiểm bồi thờng. Các bên khi bảo hiểm hàng hoá có hao hụt tự nhiên
thờng thoả thuận khấu trừ theo một tỷ lệ nào đó để loại trừ hao hụt tự nhiên ra khỏi
tổn thất đợc bồi thờng.
+ Tổn thất toàn bộ: là hàng hoá bị mất hết hoặc bị phá huỷ hoàn toàn làm cho
mất hẳn giá trị sử dụng. Tổn thất ở đây là mức độ lớn nhất không có khả năng khôi
phục lại. Tổn thất toàn bộ khác tổn thất toàn bộ ớc tính. Tổn thất toàn bộ ớc tính là
dạng tổn thất không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế hay vì chi phí cứu hàng, tu
bổ lại hàng hoá, tài sản có thể vợt quá giá trị bảo hiểm (giá trị của tài sản, hàng hoá
đó). Trong trờng hợp xác định tổn thất toàn bộ ớc tính thì chủ hàng (ngời đợc bảo
hiểm) có quyền tuyên bố từ bỏ hàng để đợc bồi thờng nh tổn thất toàn bộ. Ngời bảo
hiểm phải bồi thờng toàn bộ giá trị tài sản, hàng hoá đồng thời đợc quyền sở hữu
hàng hoá đó.
- Căn cứ vào các quyền lợi có mặt: có hai loại là tổn thất riêng và tổn thất
chung.
+ Tổn thất riêng: là tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ ngẫu nhiên gây ra chỉ
liên quan đến từng quyền lợi bảo hiểm riêng biệt. Tổn thất riêng chỉ gây ra thiệt hại
hoá. Nó đợc coi là sự hy sinh chứ không phải là một hành động có hại vì nếu không
hành động nh vậy thì tổn thất sẽ lớn hơn. Những trờng hợp này đợc công ty bảo hiểm
bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm theo mức đóng góp vào tổn thất chung.
D. Đối tợng của hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm: đối tợng của hợp đồng bảo hiểm là những thực thể có thể bị rủi ro
xâm hại (con ngời, tài sản) hoặc là trách nhiệm pháp lý do rủi ro mà phát sinh nghĩa
vụ dân sự về đền bù vật chất (trách nhiệm dân sự).
Chính vì sự an toàn hay bảo toàn cho đối tợng này mà các bên kí kết hợp đồng
bảo hiểm.
Điều 573 Bộ Luật dân sự qui định: đối tợng của bảo hiểm bao gồm con ngời,
tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tợng khác theo qui định của pháp luật.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1. Đối tợng bảo hiểm là tài sản.
Không phải tất cả các loại tài sản đều có thể là đối tợng đợc bên bảo hiểm nhận
bảo hiểm. Bởi vì trong đời sống xã hội, trong nền kinh tế có nhiều loại tài sản. Đó có
thể là tài sản hữu hình hoặc là tài sản vô hình. Tài sản hữu hình là tài sản có hình thái
vật chất cụ thể, có thể xác định đợc giá trị theo các cách thức thông thờng. Tài sản vô
hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể, đợc biểu hiện dới các hình
thức nh bản quyền nhãn hiệu hàng hoá, các quyền lợi tài chính,... việc xác định giá
trị rất khó khăn, phức tạp. Bởi vậy bên bảo hiểm thờng chỉ nhận bảo hiểm đối với
những tài sản có thể xác định chính xác giá trị. Trong thực tế, các hợp đồng bảo hiểm
tài sản có đối tợng bảo hiểm thờng có giá trị lớn và nguy cơ bị rủi ro xâm hại cao.
Đối với những tài sản có giá trị quá lớn nh tàu biển, máy bay thì ngời ta có thể chỉ
bảo hiểm đối với một bộ phận của vật nh thân tàu, thân máy bay,... vì nh vậy thì
khách hàng mới có thể trả đợc phí bảo hiểm không quá cao và cũng đảm bảo khả
năng bồi thờng của công ty bảo hiểm.
Bảo hiểm tài sản phát triển mạnh trên thế giới và ở Việt Nam, các nghiệp vụ bảo
hiểm tài sản ngày càng đa dạng, mở rộng ứng với sự đa dạng của các đối tợng là tài
sản. Ví dụ trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới thì đối tợng bảo hiểm là chiếc xe cơ