Luận án tiến sỹ kinh tế - Ảnh hưởng của niềm tin, cảm nhận rủi ro đến ý định mua thực phẩm của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 77

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN KIM NAM

ẢNH HƢỞNG CỦA NIỀM TIN, CẢM NHẬN RỦI RO ĐẾN
Ý ĐỊNH MUA THỰC PHẨM CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN KIM NAM

ẢNH HƢỞNG CỦA NIỀM TIN, CẢM NHẬN RỦI RO ĐẾN
Ý ĐỊNH MUA THỰC PHẨM CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số:

9340101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

quá cố TS. Nguyễn Văn Dũng đã giúp đỡ tơi hồn thành giai đoạn đầu của luận án.
Tôi xin cảm ơn Viện Đào tạo Sau đại học của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
đã hướng dẫn, hỗ trợ cho tơi hồn thành các thủ tục theo quy định một cách kịp thời.
Cuối cùng, cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, bạn bè và đặc biệt
là người thân trong gia đình đã hỗ trợ, giúp đỡ cũng như động viên để tơi hồn thành
luận án.
Nghiên cứu sinh

Nguyễn Kim Nam


iii

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình
Tóm tắt
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Lý do lựa chọn đề tài
1.2.
Vấn đề nghiên cứu
1.3.
Xác định khoảng trống nghiên cứu
1.4.

2.4.1.
Nhóm yếu tố thuộc mơ hình TRA
2.4.1.1.
Thái độ theo hướng hành vi

i
ii
iii
vi
vii
ix
x
1
1
4
8
9
10
10
12
13
16
18
18
18
20
24
24
26
29

Quy trình nghiên cứu
3.2.
Nghiên cứu định tính
3.2.1.
Lý do thực hiện nghiên cứu định tính
3.2.2.
Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu định tính
3.2.3.
Nội dung thực hiện nghiên cứu định tính
3.2.3.1.
Phỏng vấn chun gia
3.2.3.2.
Thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi với người tiêu dùng
3.2.4.
Kết quả nghiên cứu định tính
3.2.4.1.
Đặc thù tiêu dùng thực phẩm ở Việt Nam
3.2.4.2.
Niềm tin chung
3.2.4.3.
Niềm tin cụ thể
3.2.4.4.
Cảm nhận rủi ro
3.2.4.5.
Niềm tin vào nguồn thông tin truyền thông
3.2.4.6.
Thái độ theo hướng hành vi
3.2.4.7.
Quy chuẩn chủ quan
3.2.4.8.

73
74
82
84
86
86
87
88
88
88
89


v

3.3.1.3.
Kết quả của nghiên cứu định lượng sơ bộ
3.3.2.
Đề xuất mơ hình nghiên cứu chính thức
3.3.3.
Nghiên cứu định lượng chính thức
3.3.3.1.
Mẫu nghiên cứu, phương pháp và đối tượng thu thập dữ liệu
3.3.3.2.
Phương pháp phân tích dữ liệu
3.3.3.3.
Kết quả của nghiên cứu định lượng chính thức
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1
Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Phụ lục 4 Danh sách thảo luận
Phụ lục 5 Bảng khảo sát định lượng chính thức
Phụ lục 6 Tổng hợp các nghiên cứu trước
Phụ lục 7 Thang đo gốc
Phụ lục 8 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ
Phụ lục 9 Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức

92
97
101
101
102
103
105
105
107
110
115
125
125
129
133
136
141
141
145
149
159
161
162

FAO

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc

GT

Phương pháp xây dựng lý thuyết từ dữ liệu

PMT

Lý thuyết động cơ bảo vệ

SEM

Mơ hình cấu trúc tuyến tính

SPARTA

Mơ hình tích hợp niềm tin và cảm nhận rủi ro trong khung TPB

TPB

Lý thuyết hành vi hoạch định

TRA

Lý thuyết hành động hợp lý


vii


80

Bảng 3.5

Thang đo niềm tin vào Nhà chăn nuôi

80

Bảng 3.6

Thang đo niềm tin vào Nhà giết mổ

81

Bảng 3.7

Thang đo niềm tin vào Nhà bán lẻ siêu thị và Nhà bán lẻ chợ

82

truyền thống
Bảng 3.8

Thang đo Cảm nhận rủi ro chung

83

Bảng 3.9



Thang đo Ý định mua trong tình huống sự cố an toàn thực phẩm

88

Bảng 3.15

Các thang đo sử dụng trong tình huống bình thường

90

Bảng 3.16

Các thang đo sử dụng trong tình huống có sự cố ATTP

90

Bảng 3.17

Độ tin cậy Cronbach‘s alpha của các thang đo

92

Bảng 3.18

Ma trận nhân tố đã xoay EFA tình huống bình thường

93

Bảng 3.19


Kết quả kiểm định độ tin cậy trong mơ hình tới hạn mơ hình 1

118

Bảng 4.6

Kết quả kiểm định giá trị phân biệt mô hình tới hạn mơ hình 1

119

Bảng 4.7

Kết quả kiểm định độ tin cậy trong mơ hình tới hạn mơ hình 2

122

Bảng 4.8

Kết quả kiểm định giá trị phân biệt mô hình tới hạn mơ hình 2

123

Bảng 4.9

Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm (mơ

126

hình 1-chưa chuẩn hóa)


Bảng 4.15

Giá trị trung bình của niềm tin vào nguồn thơng tin

135


ix

DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1

Lý thuyết TRA của Fishbein và Ajzen (1975)

25

Hình 2.2

Lý thuyết PMT của Rogers (1983)

29

Hình 2.3a Mơ hình nghiên cứu dự kiến trong tình huống bình thường

60

Hình 2.3b Mơ hình nghiên cứu dự kiến trong tình huống sự cố ATTP


121

Hình 4.3:

Kết quả SEM mơ hình lý thuyết (Mơ hình 1-đã chuẩn hóa)

126

Hình 4.4:

Kết quả SEM mơ hình lý thuyết (Mơ hình 2-đã chuẩn hóa)

127


x

TĨM TẮT LUẬN ÁN
Tình trạng vệ sinh an tồn thực phẩm tại Việt Nam đang là vấn đề được nhiều đối
tượng quan tâm. Trong đó, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm. Khi xảy ra
sự cố liên quan đến rủi ro an toàn thực phẩm, niềm tin và cảm nhận rủi ro của người tiêu
dùng đóng một vai trị quan trọng. Mục tiêu chính của luận án này là phân tích ảnh hưởng
của niềm tin, cảm nhận rủi ro đến ý định mua thực phẩm của người tiêu dùng dựa trên lý
thuyết hành động hợp lý, lý thuyết động cơ bảo vệ và lý thuyết đánh giá mang tính nhận
thức của cảm xúc trong bối cảnh tiêu dùng thực phẩm ở Việt Nam. Luận án này sử dụng
phương pháp nghiên cứu hỗn hợp bao gồm sự kết hợp giữa phương phương pháp nghiên
cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng.

Nghiên cứu phát hiện cấu trúc niềm tin cụ thể gồm 6 thành phần, trong đó niềm
tin vào tổ chức chứng nhận bên thứ ba là thành phần mới so với các nghiên cứu trước

perceived risk and identifying the relationship between trust, perceived risk and
purchase intention in two situations: with or without a food safety incident. The
findings of this study are also the basis for implications for administration and as for
state management agencies, these findings will provide the basis for implications for
the food sector.
Keywords: Food, Trust, perceived risk, intention.


1

CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
1.1.

Lý do lựa chọn đề tài

Thực phẩm được coi là loại sản phẩm thiết yếu và được người tiêu dùng sử dụng
hàng ngày trong các bữa ăn. Khi cuộc sống cịn khó khăn người ta chỉ nghĩ đến việc
làm sao để được ăn no mặc ấm. Nhưng khi mức sống được nâng cao con người ngày
càng quan tâm và chú trọng đến việc ăn cái gì và ăn như thế nào để đảm bảo sức khỏe.
Ở Việt Nam, thu nhập tính theo bình quân đầu người tăng nhanh trong những năm gần
đây. Với thu nhập tăng lên, người tiêu dùng ngày càng khó tính hơn trong việc lựa chọn
thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và sự giao thương rộng rãi
giữa các vùng miền, các quốc gia làm cho nguồn cung ứng thực phẩm trở nên đa dạng
và phong phú, nhưng vấn đề liên quan đến an toàn vệ sinh và chất lượng của thực phẩm
vẫn đang là bài tốn khó đối với các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh
nghiệp làm ăn chân chính và trên hết là đối với những người tiêu dùng. Trong những
năm gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện nhiều thơng tin liên
quan đến an tồn thực phẩm (ATTP), chẳng hạn thực phẩm khơng đảm bảo an tồn
như: tiêm thuốc an thần vào heo trước khi giết mổ, thịt heo có chất tạo nạc, thủy sản có

Trong lúc thị trường đang tràn lan hiện tượng thực phẩm không đảm bảo vấn đề
vệ sinh an toàn, các ngành chức năng cũng đang lúng túng trong việc quản lý ATTP thì
những người tiêu dùng vẫn phải mua, tiêu thụ các loại thực phẩm cần thiết cho bữa ăn
hàng ngày. Việc này đã khiến cho người tiêu dùng trở nên lo lắng và hoang mang nhiều
hơn do phải đối diện với các quyết định lựa chọn mua các loại thực phẩm hàng ngày.
Theo kết quả điều tra dư luận xã hội về ATTP do Văn phịng Quốc Hội tiến hành ―chỉ
có 10% n tâm với thực phẩm sử dụng hàng ngày, trong khi có tới 59% chưa n tâm
và 27,5% hồn tồn khơng n tâm‖ (theo baochinhphu.vn). ―Hàng ngày đi chợ, chị
Phạm Mai Hương ở phường Thượng Đình (quận Thanh Xn, Hà Nội) lại có nỗi lo:
Khó khăn nhất là làm thế nào để phân biệt được thực phẩm sạch với thực phẩm độc hại
như đậu phụ có thạch cao hay khơng, miến bẩn nhuộm hóa chất…, chị Phạm Mai
Hương chia sẻ‖ (theo baotintuc.vn).


3

Với thực trạng này, lời khuyên cho người tiêu dùng là họ phải trở nên thông thái
hơn khi lựa chọn mua các loại thực phẩm. ―Trước rất nhiều lo lắng của người tiêu
dùng về nguy cơ thực phẩm không an toàn, đại diện cơ quan quản lý khuyên người tiêu
dùng cần tìm mua những sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ, có hóa đơn chứng từ; cơ sở
đó phải có cửa hàng rõ ràng, có uy tín, minh bạch, cả về địa chỉ, giấy tờ, thủ tục…;
người tiêu dùng phải trở thành người tiêu dùng thông thái khi lựa chọn thực phẩm‖
(theo bnews.vn). Tuy nhiên, ngay cả thực phẩm (như thịt heo) được chứng nhận bởi
Vietgap nhưng vẫn nhiễm chất cấm Salbutamol đã gây hoang mang và làm cho người
tiêu dùng khủng hoảng niềm tin (theo nguoitieudung.com.vn). Ở ngoài thị trường nhiều
khi vàng thau lẫn lộn khiến cho người tiêu dùng gặp phải khó khăn trong việc nhận
diện đâu là thực phẩm đảm bảo an toàn và đâu là thực phẩm khơng đảm bảo an tồn,
ngay cả khi thực phẩm được bán trong các cửa hàng, các siêu thị hay đại lý. Trong lúc
đó các nhà sản xuất nỗ lực cung cấp thơng tin bằng nhiều hình thức khác nhau đến
người tiêu dùng về tính an tồn của thực phẩm.


Trong bối cảnh tràn lan hiện tượng thực phẩm không đảm bảo an toàn ở Việt
Nam đã khiến cho người tiêu dùng trở nên khó khăn hơn trong việc đưa ra lựa chọn và
tiêu thụ thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày. Nếu như thực phẩm đảm bảo vấn đề an toàn,
người tiêu dùng sẽ trở nên dễ dàng hơn khi đưa ra quyết định lựa chọn vì lúc này nó
cũng giống như quá trình ra quyết định lựa chọn tiêu thụ những sản phẩm thông thường
khác. Tuy nhiên trong trường hợp thực phẩm khơng đảm bảo tính an tồn, có thể gây
hại đến sức khỏe và thậm chí là tính mạng của người tiêu dùng thì việc lựa chọn tiêu
thụ thực phẩm sẽ khó khăn và thận trọng hơn rất nhiều.
Đã có nhiều cơng trình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến hành vi lựa chọn
thực phẩm của người tiêu dùng. Nếu xét theo khía cạnh của sản phẩm thực phẩm, có ba
hướng tiếp cận chủ yếu về hành vi tiêu dùng: Thứ nhất là các nghiên cứu tập trung vào
hành vi lựa chọn thực phẩm thông thường của người tiêu dùng (chẳng hạn như
Ariyawardana & cộng sự, 2017; Kumar & Smith, 2017; Lobb & cộng sự, 2007). Thứ
hai là các nghiên cứu tập trung xem xét hành vi lựa chọn thực phẩm bền vững, thực
phẩm xanh, thực phẩm hữu cơ (chẳng hạn như Karahan Uysal & cộng sự, 2013; Smith


5

&

Paladino, 2010; Vassallo & cộng sự, 2016). Thứ ba là hướng tiếp cận về hành vi tiêu

dùng các thực phẩm do sử dụng các công nghệ hiện đại như biến đổi gen, chiếu xạ,
công nghệ nano (chẳng hạn như Puduri & cộng sự, 2010). Hướng tiếp cận thứ hai và
thứ ba được xem là hướng mới và còn xa lạ trong bối cảnh Việt Nam, thậm chí là pháp
luật chưa cho phép tại Việt Nam, chẳng hạn như thực phẩm biến đổi gen. Hướng
nghiên cứu thứ nhất mặc dù đã được thực hiện nhiều ở các nước trên thế giới nhưng
phần lớn vẫn tập trung chủ yếu ở các quốc gia phát triển. Số lượng các nghiên cứu ở

tiêu dùng thực phẩm chưa nhất quán qua nhiều nghiên cứu khác nhau. Một số nghiên
cứu ủng hộ mối quan hệ này như Thøgersen (2007), Dean và cộng sự (2008), Thong và
Olsen (2012). Nhưng một số nghiên cứu khác lại không ủng hộ mối quan hệ này như
Tuu (2015), Yazdanpanah và Forouzani (2015). Trong cùng một nghiên cứu của Dean
và cộng sự (2008) cho thấy kết quả vừa ủng hộ vừa không ủng hộ đối với mối quan hệ
giữa kiểm soát hành vi cảm nhận và ý định tiêu dùng thực phẩm, nó tùy thuộc vào loại
thực phẩm dùng để khảo sát. Chính vì vậy việc kiểm định lại mối quan hệ giữa các
biến số trong mơ hình TPB ở bối cảnh hiện tại của Việt Nam là điều cần thực hiện.
Mặc dù mơ hình TPB khá hữu ích cho việc giải thích hành vi tiêu dùng thực
phẩm, song các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận những hạn chế của mơ hình và đề nghị
bổ sung thêm những biến số khác vào mơ hình để gia tăng tính giải thích. Các biến số
thường được bổ sung vào mơ hình như sự tự tin, hành vi trong quá khứ, thói quen,
niềm tin, rủi ro. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh luận trong việc bổ sung thêm một số
biến vào mơ hình cũng như việc xác định vai trò của các biến số.
Thực tiễn tại Việt Nam, nhiều loại thực phẩm tươi sống nói chung được bán tại
các cơ sở như chợ truyền thống hoặc hệ thống siêu thị. Tuy nhiên, nhiều loại thực
phẩm chưa có truy xuất nguồn gốc (ngoại trừ một số thực phẩm bán trong siêu thị), rất
ít thực phẩm thể hiện đầy đủ các thông tin liên quan đến những đối tượng trong chuỗi
cung ứng thực phẩm. Ngoài ra, thói quen của người tiêu dùng tại Việt Nam thường


7

mua những thực phẩm thịt dưới dạng tươi sống hơn là các dạng thịt khác chẳng hạn
như thịt đông lạnh. Vì thế có thể tồn tại những khác biệt nhất định về hành vi tiêu dùng
thực phẩm đặc biệt là khi xảy ra sự cố ATTP ở Việt Nam.
Trong bối cảnh xảy ra nhiều sự cố ATTP, cảm nhận rủi ro đóng vai trị rất quan
trọng để giải thích ý định tiêu dùng thực phẩm. Bởi người tiêu dùng rất khó khăn trong
việc nhận diện thực phẩm nào là an tồn hay khơng an tồn. Khi xuất hiện cảm nhận
rủi ro về ATTP thì niềm tin của người tiêu dùng trở nên quan trọng. Cảm nhận rủi ro và

hiện trong các tình huống nghiên cứu khác nhau.
Tại Việt Nam, các sự cố liên quan đến vấn đề ATTP đang trở nên phức tạp
nhưng gần như chưa có các cơng trình nghiên cứu đề cập và phân tích đầy đủ về hành
vi

lựa chọn thực phẩm của người tiêu dùng, đặc biệt là xem xét đồng thời yếu tố cảm

nhận rủi ro và niềm tin trong bối cảnh xảy ra rủi ro về ATTP. Chính vì vậy, nghiên cứu
này tập trung vào hướng tiếp cận theo niềm tin và cảm nhận rủi ro dựa trên cơ sở của
các lý thuyết khác nhau để xem xét hành vi tiêu dùng thực phẩm trong bối cảnh xảy ra
sự cố ATTP đối với những sản phẩm thực phẩm thông thường ở thị trường Việt Nam.
Đây là hướng tiếp cận mà các nghiên cứu trước chưa thực hiện đầy đủ, còn để lại nhiều
khoảng trống nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu này nếu được giải quyết sẽ giúp cho việc
bổ sung vào các luận cứ khoa học liên quan đến hành vi tiêu dùng thực phẩm ở thị
trường đang phát triển như Việt Nam và là cơ sở để để các nhà quản trị, các nhà làm
chính sách đưa ra quyết định thuyết phục và khoa học hơn.
1.3.

Xác định khoảng trống nghiên cứu

-

Sự kết hợp của lý thuyết hành động hợp lý, lý thuyết động cơ bảo vệ và lý
thuyết đánh giá nhận thức để phân tích mối quan hệ giữa niềm tin, cảm nhận rủi
ro và ý định mua trong tình huống xảy ra sự cố ATTP là ít được thực hiện.

-

Tại Việt Nam, rất hiếm nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa niềm tin chung,
niềm tin cụ thể, cảm nhận rủi ro chung (hoặc cảm nhận rủi ro về mặt cảm xúc và

Mục tiêu 2: Xác định và đo lường mối quan hệ giữa niềm tin và cảm nhận rủi
ro; giữa cảm cảm nhận rủi ro và ý định mua thực phẩm của người tiêu dùng
trong tình huống có và khơng có xảy ra sự cố ATTP.

-

Mục tiêu 3: Kiểm định vai trò trung gian của thái độ, cảm nhận rủi ro đến ý định
mua thực phẩm của người tiêu dùng.

-

Mục tiêu 4: Phân tích sự khác biệt về ý định mua thực phẩm của người tiêu dùng
theo mức độ niềm tin vào nguồn thông tin truyền thông.

-

Mục tiêu 5: Từ kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra các hàm ý quản trị trong lĩnh
vực thực phẩm.

Để đạt các mục tiêu như trên, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
-

Cấu trúc niềm tin và cảm nhận rủi ro được xác định như thế nào trong bối cảnh
tiêu dùng thực phẩm ở Việt Nam?


10

-


phố Hồ Chí Minh, có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên bởi tại khu vực thành thị như Thành phố
Hồ Chí Minh, đối tượng học sinh (dưới 18 tuổi) ít khi tham gia vào việc mua thịt cho
bữa ăn gia đình. Thời gian thực hiện nghiên cứu là từ 2016 đến 2019.
1.6.

Phƣơng pháp nghiên cứu

Luận án này sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, nghĩa là sự kết hợp giữa
nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, trong đó phương pháp chính là phương
pháp nghiên cứu định lượng. Trình tự nghiên cứu này được thực hiện qua ba bước:


11

Bước 1: Nghiên cứu định tính
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, mơ hình nghiêu cứu dự kiến
được phác thảo. Tuy nhiên, do tồn tại nhiều đặc điểm khác nhau giữa các quốc gia, dẫn
đến mô hình nghiên cứu cần phải được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với đặc
điểm của Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu định tính được sử dụng. Nghiên cứu định tính
trong luận án này được thực hiện qua phỏng vấn chun gia, thảo luận nhóm, thảo luận
tay đơi với người tiêu dùng để khám phá các thành phần và đề xuất mơ hình nghiên
cứu dự kiến. Các thang đo và mục hỏi cũng được xây dựng trong giai đoạn này (hình
thành bảng khảo sát lần 1) để làm cơ sở cho bước nghiên cứu định lượng sơ bộ tiếp
theo.
Bước 2: Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Trong giai đoạn này, bảng khảo sát lần 1 sẽ được sử dụng để khảo sát người tiêu
dùng nhằm đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị của các thang đo trước khi tiến hành
nghiên cứu định lượng chính thức. Các mục hỏi không đạt yêu cầu sẽ được loại bỏ
trong giai đoạn này để hoàn chỉnh bảng câu hỏi dùng cho bước nghiên cứu chính thức.
Đánh giá sơ bộ thang đo bằng cách sử dụng hệ số đo lường độ tin cậy Cronbach‘s

ba. Ngoài ra thành phần niềm tin vào nhà bán lẻ được tách thành hai thành
phần là niềm tin vào Nhà bán lẻ siêu thị và niềm tin vào Nhà bán lẻ chợ
truyền thống.

-

Trong tình huống xảy ra sự cố ATTP, cảm nhận rủi ro gồm hai thành phần là
cảm nhận rủi ro về mặt cảm xúc và cảm nhận rủi ro về mặt nhận thức. Chưa
có nghiên cứu nào xem xét mối quan hệ giữa niềm tin cụ thể với cảm nhận
rủi ro về mặt cảm xúc và cảm nhận rủi ro về mặt nhận thức trong lĩnh vực
thực phẩm và ở tình huống xảy ra sự cố ATTP. Nghiên cứu này phát hiện,
niềm tin vào tổ chức chứng nhận bên thứ ba ảnh hưởng trực tiếp đến cảm
nhận rủi ro về mặt cảm xúc lẫn nhận thức.

-

Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào kiểm định mối quan hệ giữa cảm
nhận rủi ro về mặt cảm xúc, cảm nhận rủi ro về mặt nhận thức và ý định mua
trong lĩnh vực thực phẩm. Kết quả nghiên cứu này cho thấy cảm nhận rủi ro
về mặt cảm xúc ảnh hưởng gián tiếp đến ý định mua thông qua vai trò trung
gian của cảm nhận rủi ro về mặt nhận thức.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status