Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang - Pdf 80

Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
MỞ ĐẦU
1. Mục đích
Quản lý và kiểm soát chất thải nói chung đang là vấn đề bức xúc hiện nay
không chỉ tại mỗi địa phương mà còn là vấn đề nổi cộm trên cả nước. Các vấn
đề liên quan tới quản lý, thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt là một trong những
vấn đề trọng điểm cần quan tâm hiện nay.
Cùng với cả nước, tỉnh Hà Giang đang từng bước phát triển xây dựng cơ
sở hạ tầng từ thị xã đến các huyện lỵ và nông thôn; phát triển các khu kinh tế
cửa khẩu và khu công nghiệp, các ngành khai thác khoáng sản. Đồng thời các
ngành y tế, thương mại, du lịch, giáo dục, thể dục thể thao…ngày càng được
củng cố và phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ các ngành lại là một
trong những tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm và suy thoái môi trường do quá trình
phát triển kinh tế chưa chú ý hoặc tìm cách né tránh chi phí dành cho bảo vệ môi
trường.
Để kịp thời đưa ra những chính sách, biện pháp quản lý và sử dụng tài
nguyên và môi trường một cách hợp lý nhất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Hà Giang phối hợp với Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi
trường thực hiện báo cáo “Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh
hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang”. Báo cáo được xây dựng với mục tiêu trước
mắt là đưa ra cái nhìn tổng thể, khái quát về hiện trạng chất thải sinh hoạt; thực
trạng công tác thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh và mức độ ảnh
hưởng tới môi trường xung quanh. Đồng thời, đưa ra các biện pháp hạn chế,
giảm thiểu lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh. Từ đó, đưa ra
giải pháp quy hoạch, xây dựng các bãi chôn lấp phù hợp nhằm tăng hiệu quả thu
gom và quản lý rác thải, đề xuất các dự án xử lý và tái chế rác thải. Đồng thời,
đưa ra một số định hướng chủ yếu trong việc quản lý và xử lý nước thải sinh
hoạt cho các địa phương trên địa bàn tỉnh.
1
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
2. Cơ sở pháp lý để thực hiện dự án

Các cán bộ tham gia thực hiện:
TT Họ và tên, chức danh Trách nhiệm
1 PGS.TS Lưu Đức Hải
Chủ nhiệm Khoa môi trường - ĐH Khoa học Tự nhiên.
Chuyên gia
cố vấn.
2 PGS.TS Hoàng Xuân Cơ
Phó phòng khoa học - ĐHKHTN
Chuyên gia
cố vấn.
3 CN Tống Khánh Thượng Thành viên
4 CN Trần Nguyễn Trung Thành viên
5 CN Trần Thị Hạnh Trang Thành viên
6 CN Lê Văn Huấn Thành viên
7 CN Phạm Thị Hồng Thành viên
8 CN Trần Hoàng Thanh Thành viên
9 KS Phạm Hoa Cương Thành viên
10 KS Trần Văn Nghĩa Thành viên
11 KS Trịnh Tiến Thành Thành viên
12 KS Nguyễn Thị Tuyết Thành viên
13 KS Vũ Đình Trọng Thành viên
14 KS Hà Phương Tiến Ngữ Thành viên
15 KS Đặng Văn Phong Thành viên
3. Phương pháp thực hiện
*/ Phương pháp kế thừa
Khai thác và kế thừa các kết quả điều tra hiện trạng môi trường hàng năm
của tỉnh, các báo cáo khoa học về hiện trạng môi trường các nhà máy, xí nghiệp
của các viện, các trung tâm nghiên cứu. Thu thập, phân tích các thông tin về
hiện trạng môi trường các ngành. Thu thập số liệu các yếu tố và các nguồn lực
phát triển kinh tế xã hội tác động tới môi trường của tỉnh.

o
23’ độ vĩ Bắc và 104
o
20’ đến 105
o
34’ độ kinh Đông. Phía Bắc và
Tây Bắc giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa với đường biên giới dài
274km. Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía
Tây Nam giáp tỉnh Yên Bái và phía Tây giáp tỉnh Lào Cai.
Về tổ chức hành chính, hiện nay tỉnh Hà Giang có 1 thị xã tỉnh lỵ (thị xã
Hà Giang) và 10 huyện với 195 xã, phường, thị trấn. Trên địa bàn tỉnh có 8 cửa
khẩu, trong đó, cửa khẩu Quốc Gia Thanh Thuỷ đang được đầu tư xây dựng
thành Cửa khẩu Quốc tế.
Hà Giang với 90% diện tích là đồi núi và cao nguyên có độ cao tuyệt đối
từ 50m đến 2.418m. Đặc biệt có nhiều dãy núi cao trên 2000m như Ta Kha-
2.274m, Tây Côn Lĩnh - 2.418m. Hệ thống sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác
ghềnh.
1.1.2. Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
Địa hình: Do cấu tạo địa hình phức tạp, thiên nhiên tạo ra và ưu đãi cho
Hà Giang một nguồn tiềm năng to lớn về khí hậu, đất đai, tài nguyên và khoáng
sản... Vì thế có thể chia Hà Giang thành ba vùng với những điều kiện tự nhiên,
kinh tế và xã hội khác biệt, mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng đó là:
- Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc,
Yên Minh và Quản Bạ. Độ cao trung bình từ 1.000 – 1.600 m, gồm nhiều khu
vực núi đá vôi nằm sát với chí tuyến bắc có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông
suối bị chia cắt nhiều. Vùng này có vùng trũng Yên Minh, chủ yếu là đồi núi
thấp có độ cao trung bình 500 – 700 m. Diện tích toàn vùng là 2.352,7 km
2
, dân
số trên 20 vạn người chiếm xấp xỉ 34,3% dân số toàn tỉnh. Do điều kiện khí hậu

o
C, và trạm Hoàng Su Phì là
20,9
o
C. Nhiệt độ cao nhất trong năm đo được tại trạm Bắc Quang là 28,5
o
C vào
tháng 7 và thấp nhất là 15,0
o
C tháng 1 tại trạm Hoàng Su Phì. Chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm khoảng 8
o
C. Giữa mùa đông và mùa hè khoảng 15-20
o
C.
Về mùa đông có lúc nhiệt độ xuống dưới 5
o
C, kèm theo sương muối và mây mù
vùng cao núi đá có băng giá và tuyết.
Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình thường đạt khoảng 80%. Số liệu
quan trắc năm 2006 cho thấy độ ẩm trung bình tại trạm Hà Giang là 82%, trạm
Bắc Quang là 87%, trạm Hoàng Su Phì là 81%, trạm Bắc Mê là 81%.
Lượng mưa trung bình năm của Hà Giang tại các trạm quan trắc trung
bình trong khoảng từ 1.300 đến 5.000mm (số liệu tổng hợp trung bình nhiều
năm). Năm 2006, lượng mưa giảm hơn so với lượng mưa trung bình nhiều năm.
Tổng lượng mưa tại trạm Hà Giang là 1.475,8mm, lượng mưa tại trạm Bắc
Quang là 4.921,3mm, lượng mưa tại trạm Hoàng Su Phì là 1.326,3mm, tại trạm
Bắc Mê là 1.527,4mm.
6
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang

thị xã Tuyên Quang nhập vào Sông Lô. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho
phần đông của tỉnh.
7
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn
như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ
cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.
1.1.5. Tài nguyên thiên nhiên
 Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê năm 2006, Hà Giang có tổng diện tích đất tự nhiên
là 794.579 ha trong đó: Đất nông nghiệp là 138.123,2 ha (chiếm 17,38%), đất
lâm nghiệp có rừng là 356.756,54 ha (chiếm 44,89%), đất chuyên dùng là
6.929,53 ha (chiếm 0,87%), đất ở là 4.523 ha (chiếm 0,57%), còn lại là đất chưa
sử dụng (chiếm 36,29%).
Quỹ đất có khả năng sử dụng để phát triển nông lâm nghiệp ở tỉnh còn khá
nhiều nhưng diện tích có thể trồng cây lương thực, đặc biệt để trồng lúa, ngô rất
hạn chế. Đất đai rất manh mún, không bằng phẳng và không liền mảnh, khó khăn
cho việc cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá để hình thành các vùng sản xuất tập trung.
Kết quả điều tra thổ nhưỡng năm 1999 của Viện Quy hoạch và thiết kế
Nông nghiệp cho thấy: Toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính với 19 đơn vị đất chính
và 60 đơn vị đất phụ. Những tính chất chính của từng nhóm đất là:
Nhóm đất phù sa: Diện tích 12.621 ha, chiếm 1,6% diện tích đất tự nhiên
của tỉnh, gặp ở ven sông Lô và các sông suối khác. Nhóm đất này thích hợp
trồng cây ngắn ngày, đặc biệt là cây lương thực.
Nhóm đất Glây: có diện tích 6.804 ha chiếm 0,86% diện tích đất tự nhiên
của tỉnh. Nhóm đất Glây được hình thành ở nơi có địa hình thấp, luôn giữ ẩm.
Nhóm đất này chủ yếu sử dụng để gieo trồng lúa nước.
Nhóm đất đen: Có diện tích 1.141 ha, chiếm 0,14% diện tích đất tự nhiên
của tỉnh. Đất đen hình thành ở ven chân các dãy núi đá vôi hoặc trong thung lũng
đá vôi. Đất thuộc nhóm này thích hợp trồng cây ngắn ngày: ngô, đậu tương…

về thời gian và không gian. Mùa mưa nước ở thượng nguồn sông Lô, sông Gâm,
sông Chảy…đổ về có thể gây ngập lụt cho các khu vực vùng trũng của tỉnh. Vào
mùa khô tại các địa phương có địa hình cao núi đá như: Quản Bạ, Mèo Vạc,
Đồng Văn, Yên Minh lại thiếu nước trầm trọng cho sinh hoạt của con người và
cung cấp nước tưới cho nông nghiệp
*/ Nước ngầm
Nước ngầm ở Hà Giang có hai dạng tồn tại chủ yếu là nước lỗ hổng và
nước khe nứt.
Nước lỗ hổng: Trong phạm vi tỉnh Hà Giang, tầng chứa nước phân bố trên
diện hẹp theo các thung lũng sông, suối nằm rải rác ở các vùng phía Nam tỉnh,
9
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
có chiều dày trầm tích mỏng (3-5m), thành phần đất đá gồm: cuội, sỏi, cát, sét,
đá tảng…Nước có chất lượng tốt, tổng khoáng hoá M = (0,2 đến 0,4) g/l, độ pH
= 6 tuy vậy trữ lượng nhỏ, chỉ khai thác nhỏ lẻ, không có khả năng khai thác với
lưu lượng lớn.
Nước khe nứt: Tồn tại trong các khe nứt của đất đá cố kết trước Đệ tứ,
phân bố hầu hết trên toàn tỉnh Hà Giang.
Nhìn chung, các tầng giàu nước, gồm có: hệ tầng Bắc Sơn, nước tồn tại
dưới dạng Kaster chứa nước, các nguồn lộ rải rác lưu lượng từ = (0,1-1) l/s, có
nơi từ (6-10) l/s, tổng độ khoáng hoá (0,1 - 0,5) g/l, độ pH từ (6-7).
Hệ tầng Phia Phương: phân bố từ Nam Tùng Bá đến núi Pan, nguồn lộ rải
rác lưu lượng từ (0,1 - 1)l/s. Qua một số khảo sát, thăm dò đã xác định hệ tầng
này khá giàu nước nhưng không đồng nhất.
Hệ tầng Hà Giang: phân bố rộng rãi ở phía Tây nam Hà Giang, trong hệ
tầng này do ảnh hưởng của đứt gãy kiến tạo nên đá vôi nứt nẻ và Kaster phát
triển mạnh. Các nguồn lộ thường có lưu lượng (0,01-0,05)l/s đến trên 10 l/s. Tại
thị xã Hà Giang đã tiến hành thăm dò nước trong tầng này cho thấy kết quả : Q
= (2,03 – 10)l/s, q = (0,12 – 2,35)l/s. Nước có chất lượng tốt, tổng khoáng hoá
M = (0,1 – 0,3) g/l.

 Tài nguyên rừng
Do đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, tài nguyên rừng của Hà
Giang tương đối phong phú về chủng loại và được coi là một trong những khu
vực đặc trưng của kiểu vùng nhiệt đới với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có
các loài gấu ngựa, sơn dương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc
am, pơ mu, lát hoa, lát chun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu
như sa nhân, thảo quả, quế, huyền sâm, đỗ trọng…Rừng Hà Giang không những
giữ vai trò bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ
mà còn cung cấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây
dựng, y tế.
Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi
trường sinh thái trong lành, nhiều hang động và các thắng cảnh đẹp… đây chính
là tiềm lực cho Hà Giang mở rộng phát triển du lịch sinh thái.
Theo số liệu thống kê năm 2006, diện tích đất lâm nghiệp của Hà Giang là
7984,4 ha. Chiếm một diện tích lớn so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.
Do nhiều nguyên nhân, một số khu vực rừng của Hà Giang bị tàn phá, trữ
lượng ngày càng cạn kiệt, việc trồng rừng và tái tạo rừng trong những năm qua
không đủ diện tích bù lại diện tích bị khai thác và chặt phá. Diện tích đất trống,
đồi núi trọc còn nhiều. Rừng có ý nghĩa lớn về kinh tế là cơ sở chuyển đổi cơ
cấu kinh tế vùng theo hướng phát triển ngành theo thế mạnh nghề rừng, tạo ra
hàng hoá chất lượng cao, bảo vệ môi trường sinh thái, khống chế phần nào lũ lụt
và đóng góp tích cực phục vụ an ninh quốc phòng.
11
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
1.2. Đặc điểm kinh tế tỉnh Hà Giang
1.2.1. Khái quát thực trạng phát triển kinh tế
Từng bước khắc phục khó khăn, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và đồng
bào các dân tộc trong tỉnh cùng các ngành đã và đang đẩy mạnh áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chú trọng tạo thêm ngành nghề mới, trong khâu
tiêu thụ sản phẩm, tập trung tạo ra môi trường lành mạnh để hàng hoá giao lưu

1.2.2. Thực trạng phát triển các khu vực kinh tế
 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Năm 2006 giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.129.285 tỷ
đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2002 - 2006 đạt 5,78%/năm, cao gấp
1,48 lần tốc độ tăng của ngành nông, lâm nghiệp cả nước (trung bình cả nước là
3,9%/năm).
 Ngành sản xuất nông nghiệp
Năm 2006 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 889,45 tỷ đồng (giá so sánh năm
1994). Cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng có bước chuyển biến tích cực
theo hướng sản xuất hàng hóa, tỷ trọng trồng trọt giảm dần từ 46,71% năm 2002
xuống còn 40,86 % năm 2006.
- Trồng trọt: Diện tích trồng cây hàng năm tăng 21% so với năm 2000.
Giảm diện tích trồng ngô năng suất thấp, tăng diện tích thâm canh, mở rộng diện
tích và đưa vào gieo trồng một số cây có hiệu quả kinh tế cao như: gieo trồng
lúa chất lượng cao; trồng hoa, rau ở Đồng Văn, Quản Bạ; tăng diện tích trồng
đậu tương, lạc, tiếp tục trồng cỏ ở các huyện vùng cao…
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2006 đạt 127.003,7 ha, tăng
2.956,6 ha so với năm 2005, trong đó: Cây lương thực có hạt 79.173 ha; cây
công nghiệp hàng năm 21.146,8 ha, tăng 777,7 ha so với năm 2005.
Diện tích lúa gieo cấy năm 2006 đạt 34.397,5 ha, tăng 433,7 ha so với
năm 2005, năng suất lúa đạt 45,4 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha. Diện tích ngô 43.269,8
ha; diện tích ngô thâm canh chiếm 70,6%, năng suất ngô đạt 20,9 tạ/ha. Tổng
sản lượng lương thực đạt 274.202 tấn, trong đó sản lượng thóc 158.205 tấn, tăng
3,4 ngàn tấn; ngô 90.689 tấn, khoai lang 5.955,8 tấn; sắn 19.351,9 tấn.
Các loại cây rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày được chú trọng đầu
tư mở rộng diện tích, trong đó: Đậu tương gieo trồng 15.893,6 ha, tăng 182 ha,
năng suất đạt 8,9 tạ/ha; cây lạc 4.286,7 ha, tăng 565,5 ha so với năm 2005, năng
suất đạt 11,6 tạ/ha.
Cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm tiếp tục phát triển mạnh. Diện
tích chè trồng mới đạt 165,6 ha, tổng diện tích chè hiện có 15.183,6 ha, trong đó

thác và chế biến khoáng sản, chế biến lâm sản như: Nhà máy thuỷ điện Nậm
Mu; nhà máy khai thác, tuyển, luyện ăngtimon kim loại; nhà máy Caolin,
Penspát; phân xưởng nghiền Clinke; các cơ sở sản xuất giấy và bột giấy: Long
Giang, Vĩnh Tuy, Cầu Ham, Ngòi Sảo; nhà máy sản xuất và lắp ráp ô tô
TRAEMC, Trường Thanh; nhà máy gạch Tuynel ở huyện Vị Xuyên, huyện Yên
Minh và nhiều cơ sở khác ở Bắc Quang, Vị Xuyên, Quang Bình, Bắc Mê,... Sản
14
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
xuất hàng mây, tre đan v.v. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 2006 đạt
318,87 tỷ đồng (giá so sánh 1994).
Trong đó, nhóm ngành sản xuất điện, nước và chế biến chè tăng khá so với
năm trước, sản lượng điện sản xuất tăng 26,5%, nước máy tăng 24,5%, chè chế
biến tăng 33,7%.
- Xây dựng: Công tác quy hoạch và xây dựng đô thị đã được chú trọng, nhất
là trung tâm các huyện, các thị tứ, thị trấn,...Kết cấu hạ tầng được đầu tư lớn, có
bước phát triển mới. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2006 theo giá so sánh 1994
đạt 688,09 tỷ đồng.
 Khu vực kinh tế dịch vụ
Hoạt động dịch vụ ở Hà Giang thời gian qua phát triển khá phong phú và
đa dạng, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Đặc biệt một số
ngành như dịch vụ - thương mại, du lịch, tài chính ngân hàng, bảo hiểm… có tốc
độ phát triển nhanh.
- Thương mại: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ thị trường xã hội
tăng bình quân hàng năm từ 25% trở lên, năm 2006 đạt 1.090,2 tỷ đồng; giá trị
sản xuất của ngành thương mại, dịch vụ và khách sạn nhà hàng trong năm 2006
của toàn tỉnh đạt 173,62 tỷ đồng (giá so sánh 1994); giá trị xuất khẩu hàng hoá
trên địa bàn đạt 4,348 triệu USD; giá trị nhập khẩu đạt 4,976 triệu USD. Hệ
thống chợ nông thôn, chợ đại gia súc, chợ biên giới được mở rộng.
- Du lịch: Trong năm qua đã thu hút trên 20.000 lượt khách nước ngoài và
trên 23.000 lượt khách nội địa vào Hà Giang, doanh thu du lịch đạt 85,5 tỷ đồng.

. Như vậy, vùng đông dân cư có mật
độ cao gấp 6-7 lần vùng ít dân cư. Đây là một trở ngại cho việc đồng đều hoá
mức sống giữa các khu vực.
Lao động: Toàn tỉnh có 312.855 lao động, lao động khối nông lâm nghiệp
là chủ yếu, chiếm 93,17% lao động toàn tỉnh, lao động dịch vụ chiếm 5,41%, lao
động công nghiệp chiếm 1,42%. Hiện nay, Hà Giang còn 4-5 vạn lao động chưa
có việc làm, dự kiến đến năm 2010 Hà Giang có khoảng 36-37 vạn lao động.
Như vậy, tỉnh phải tạo việc làm cho khoảng 15 vạn lao động trong những năm
tới, đây là sức ép lớn trong công cuộc xây dựng kinh tế của tỉnh.
Thu nhập và đời sống: của đồng bào các dân tộc trong Tỉnh còn gặp nhiều
khó khăn, tỉnh có 10 huyện thì có tới 4 huyện thuộc các huyện đặc biệt khó
khăn. Trong tổng điều tra trước đây thì thu nhập bình quân chung của các hộ ở
nông thôn chỉ bằng 43% thành thị. Tăng trưởng GDP đạt tốc độ tăng trưởng cao,
giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân 10,3%/năm, thu nhập bình quân đầu người
năm 2006 khoảng 3,5 triệu đồng/năm, hệ thống điện- đường - trường - trạm
được tập trung đầu tư đáp ứng nhu cầu của người dân. Phấn đấu đến năm 2010
sẽ giảm tỷ lệ nghèo từ 26% xuống còn 15%.
1.3.1. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Toàn tỉnh Hà Giang có 11 đơn vị hành chính bao gồm 1 thị xã và 10
huyện với tổng số 195 xã, phường thị trấn với 5 phường nội thị của thị xã Hà
Giang, 9 thị trấn (trong đó có 7 thị trấn huyện, lỵ) và 181 xã. Dân cư phân bố
16
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
không đồng đều giữa các đơn vị hành chính cấp huyện và tập trung với mật độ
cao ở thị xã Hà Giang.
1.3.1.1. Thực trạng phát triển đô thị
Mạng lưới đô thị của tỉnh Hà Giang hiện nay phân bố theo dạng chuỗi
trên hai trục không gian chính là trục Bắc – Nam và trục Đông – Tây. Trục
không gian đô thị Bắc – Nam nằm dọc theo quốc lộ 2 bao gồm các đô thị như thị
trấn Vĩnh Tuy, Việt Quang (Bắc Quang), Việt Lâm, Vị Xuyên và thị xã Hà

17
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Dân cư vùng biên: Toàn tỉnh Hà Giang có 34 xã vùng biên thuộc địa bàn
của 7 huyện có chiều dài đường biên là 274 km, có tổng diện tích tự nhiên
khoảng 1.185,14 km
2
và khoảng 85.109 người với 20 dân tộc anh em sinh sống,
ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp. Trong vùng có 8 cửa khẩu quan trọng giao
lưu với Trung Quốc. Vì vậy đây là vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.
Dân cư nông thôn ngoài vùng biên: Hệ thống dân cư nông thôn phân thành
các dạng chủ yếu sau:
Dân cư nông nghiệp ở các làng xã, hoạt động sản xuất lúa màu, phần lớn
tập trung ở các huyện vùng thấp như Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê. Khu vực
này mật độ dân cư nông thôn tập trung cao nhất toàn tỉnh. Các trung tâm cụm
xã, trung tâm xã phân bố tập trung các trục lộ chính như Quốc lộ 2, Quốc lộ
279…
Dân cư nông, lâm nghiệp thuộc các nông trường khai thác các loại cây
công nghiệp, trồng và quản lý rừng mới được hình thành và phát triển.
Dân cư sống rải rác, không tập trung, chủ yếu canh tác lúa, ngô và trồng màu tại
các huyện vùng cao như Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh, Hoàng Su
Phì và Xín Mần. Các điểm dân cư nông thôn miền núi nhìn chung đời sống còn
thấp, điều kiện hạ tầng xã hội và kỹ thuật chưa phát triển. Việc xây dựng phát
triển còn chậm và mang tính tự phát, chưa có sự quản lý.
1.3.2. Văn hoá dân tộc và lễ hội truyền thống
Hà Giang có 22 dân tộc anh em như: Mông, Dao, Nùng, Tày, Lô Lô,
Giáy, PU Péo, Cờ Lao, Kinh…với các nhóm ngôn ngữ khác nhau: Tày - Thái,
Mông - Dao, Việt - Mường, Hoa, Tạng - Miến… mỗi dân tộc đều có nét văn hoá
đặc trưng riêng.
Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô: Lễ mừng nhà mới kéo dài khoảng 2

xuất kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá một cách tích cực và bền vững.
*/ Khó khăn, hạn chế
Địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc lớn đã ảnh hưởng lớn đến khả
năng khai thác đất nông nghiệp ở quy mô tập trung, đến phát triển giao thông,
thuỷ lợi, xây dựng các công trình kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Để phát triển tỉnh
phải có đầu tư đáng kể cả công sức và tiền của.
Tài nguyên đất và nguồn nước của tỉnh không thuận lợi cho phát triển đặc
biệt là với vùng cao và vùng sản xuất cây lương thực.
Một số nguồn tài nguyên chưa được đánh giá, khảo sát đầy đủ đã hạn chế
phần nào khả năng khai thác và sử dụng trên địa bàn tỉnh.
20
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trên địa bàn tỉnh có cửa khẩu Thanh Thuỷ khá lớn song so với các cửa
khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), Hữu Nghị (Lạng Sơn), Lào Cai (Lào Cai)…thì vị
thế và khả năng khai thác vẫn còn hạn chế.
2.2. Đánh giá chung về hiện trạng môi trường Hà Giang
*/ Môi trường công nghiệp
Với đặc thù là nền công nghiệp chưa phát triển nhưng vốn những nhà máy
xí nghiệp đang hoạt động, tình trạng ô nhiễm môi trường đã diễn ra cục bộ.
Theo quy hoạch đến năm 2010 giá trị sản lượng công nghiệp - xây dựng trong
cơ cấu GDP là 37,5%, mức độ phát thải của các nhà máy xí nghiệp sẽ rất lớn.
Việc quy hoạch chi tiết các vùng phát triển và ngành công nghiệp thân thiện với
môi trường, đồng thời đề ra các giải pháp bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết.
Đến nay, các hoạt động khoáng sản trên địa bàn Hà Giang đã tuân thủ
nghiêm theo quy định của Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn. Công tác
quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản căn cứ vào các quy định để hướng
dẫn cho các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động khoáng sản.
Với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ hiện tại có công nghệ lạc hậu nằm xen kẽ
với khu dân cư là nguồn gây ô nhiễm và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của

văn hoá sinh sống nên ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế. Rác
vẫn bị đổ ra sông, suối…nơi công cộng ở nhiều khu vực. Bên cạnh đó, lượng rác
thải phát sinh ngày càng lớn nhưng số lượng nhân công trực tiếp cũng như cán
bộ quản lý môi trường còn thiếu. Trang thiết bị hỗ trợ thu gom rác còn ít và lạc
hậu dẫn đến tình trạng rác thải và chất thải khác vẫn chưa được thu gom và xử lý
triệt để (kể cả ở trung tâm các huyện), gây mất mỹ quan và ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng.
2.3. Hiện trạng môi trường không khí tỉnh Hà Giang
*/ Các nguồn khí thải chính trên địa bàn tỉnh Hà Giang bao gồm:
- Khí thải của công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, bao gồm: sản xuất
xi măng, sản xuất gạch nung, khai thác đá xây dựng. Các loại hình sản xuất này
phát thải các loại khí thải như: SO
2
, NO
2
, CO, CO
2
, VOC và bụi.
- Khí thải công nghiệp sản xuất giấy, phát thải các loại khí thải như:
metacaptan, Cl
2
, SO
2
, NO
2
, CO, CO
2
, VOC và bụi.
- Khí thải công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, phát thải các loại
khí thải như: SO

Theo kết quả đo đạc, phân tích chất lượng môi trường không khí tỉnh Hà
Giang trong năm 2007 của Công ty cổ phần kỹ thuật và phân tích môi trường đã
đưa ra cái nhìn tổng thể về chất lượng môi trường không khí tại Hà Giang như
sau:
Tại các khu vực huyện, thị: hầu hết các vị trí quan trắc, các thông số quan
trắc đều nằm trong khoảng cho phép theo tiêu chuẩn TCVN 5937-2005 và
TCVN 5938 - 2005. Tại trung tâm thị xã Hà Giang, huyện Vị Xuyên, Bắc
Quang là những nơi tập trung đông dân cư và các cơ sở sản xuất, tuy nhiên,
nồng độ các khí độc hại không cao, nồng độ bụi ở nhiều nơi bị ảnh hưởng của
các phương tiện giao thông và công nghiệp lớn hơn tiêu chuẩn cho phép nhưng
không nhiều. Tại khu vực bến xe tạm thị xã Hà Giang, hàm lượng bụi cao hơn
tiêu chuẩn cho phép từ 1.1 đến 1.2 lần. Tại khu vực cửa khẩu Thanh Thuỷ và
cổng nhà máy gạch Tuynel Vị Xuyên, kết quả cho thấy hàm lượng bụi và nồng
độ khí NO
2
đều vượt tiêu chuẩn cho phép (theo TCVN 5937-2005), tuy nhiên,
cao hơn không đáng kể.
Tại các khu vực nông thôn: tất cả các vị trí đo đều có chất lượng môi
trường không khí đạt tiêu chuẩn cho phép theo TCVN 5937-2008 và TCVN
5938-2005.
Trên địa bàn tỉnh Hà Giang, ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tập trung ở
những khu vực đông dân cư, cạnh các nhà máy, xí nghiệp. Đối với ô nhiễm
không khí và tiếng ồn gây ra bởi các phương tiện giao thông là điều không thể
tránh khỏi trong quá trình đô thị hoá. Tại tỉnh Hà Giang, mức độ ảnh hưởng bởi
độ ồn là không lớn, hiện tại mới chỉ diễn ra trong những giờ cao điểm.
Đối với ô nhiễm do công nghiệp gây ra, điều kiện thời tiết có ảnh hưởng
lớn đến những tác động của ô nhiễm không khí đến đời sống nhân dân. Một
trong những ảnh hưởng có thể nhận thấy rõ nhất là ảnh hưởng của khí thải nhà
23
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang

tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên tại một số điểm cá biệt có hiện tượng ô nhiễm
bởi vài chỉ tiêu đặc trưng:
+ Nước Sông Lô gần cửa khẩu Thanh Thuỷ có hàm lượng TSS, COD cao
hơn tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 cho phép.
+ Nước suối Đỏ và nước sông Chảy tại cầu Cốc Pài -Xín Mần có các chỉ
tiêu TSS, COD, BOD
5
, Zn, Pb cao hơn tiêu chuẩn cho phép.
+ Nước suối (sau khi đã nhận nước thải của các nhà máy sản xuất giấy)
đều có hàm lượng TSS, pH, COD cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên nước
24
Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang
suối sau nhà máy giấy Thuỳ Linh có chất lượng tốt hơn do tại thời điểm lấy mẫu
nhà máy đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải.
+ Nước suối (nhận nước thải từ phòng cháy chữa cháy, bệnh viện, bãi rác)
có COD và BOD
5
cao hơn so với tiêu chuẩn TCVN 5942-1995.
2.4.2. Nước ngầm
Theo số liệu quan trắc của Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường trong
03 đợt, đợt I (tháng 9/2006), đợt II (tháng 12/2006) và đợt III (tháng 4/2007). Có
thể kết luận chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Hà Giang như sau:
Đối với nước tại các giếng khoan: Hàm lượng các kim loại nặng, NO
2
-
,
NO
3
-
, xyanua, clorua, độ cứng và coliform đều đạt tiêu chuẩn theo TCVN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status