Luận văn tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuôi tại ngoại thành hà nội và một số tỉnh lân cận, phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc - Pdf 80

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp I
------------------------------------
Nguyễn Ngọc Điểm Tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt
nuôi tại ngoại thành Hà Nội và một số
tỉnh lân cận. Phân lập, khảo sát đặc tính
sinh học của chủng virus cờng độc
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Bá Hiên
Hà nội - 2005
- 2 -
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực cha đợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thông tin trích dẫn trong
luận văn đã đợc ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Điểm
- 4 -

B¶ng c¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n DEV : Duck enteritis virus
DNA : Dezoxy ribonucleic acid
DTV : DÞch t¶ vÞt
DVE : Duck virus enteritis
Eld
50
: 50 percent Embryo Lethal Dose
EID
50
: 50 percent Embryo Infective Dose
FAO : Food and Agriculture Organization
LD
50
: 50 percent Lethal Dose
OIE : Office International des Epizooties
PCR : Polymerase chain reaction
p.p : pages

50
của chủng virus cờng độc dịch tả vịt
VG-2004....................................................................................................

61
Bảng 4.7: Kết quả xác định chỉ số EID
50
của chủng virus cờng độc dịch tả
vịt VG-2004...........................................................................................

63
Bảng 4.8: Kết
quả kiểm tra bệnh tích đại thể của phôi sau khi gây
nhiễm chủng virus cờng độc dịch tả vịt VG - 2004...............

65
Bảng 4.9: Kết quả xác định chỉ số LD
50
của chủng virus cờng độc dịch tả vịt
VG-2004......................................................................................................

69
Bảng 4.10: T
ỷ lệ triệu chứng, bệnh tích đại thể của vịt sau khi gây
nhiễm chủng virus cờng độc dịch tả vịt VG-2004..............

72
Bảng 4.11: Kết quả phản ứng trung hoà trên phôi..................................... 75
Bảng 4.12: Kết
quả tiêm phòng bệnh của vacxin nhợc độc dịch tả vịt


77
Hình 4.3: So sánh trình tự nucleotid (446bp) của cờng độc
dịch tả vịt phân lập ở Việt Nam (ký hiệu: DEV-VN)
và chủng vacxin của thế giới (DEV-vx).................... 78 - 7 -
Danh mục các ảnh

Thứ tự Tên ảnh trang
ảnh 4.1:
Vịt bại liệt. 89
ảnh 4.2:
Vịt chảy nớc mắt, nớc mũi 89
ảnh 4.3:
Vịt bị phù đầu... 89
ảnh 4.4:
Vịt ỉa chảy 89
ảnh 4.5:
Gan vịt xuất huyết, hoại tử 90
ảnh 4.6:
Ruột xuất huyết, loét. 90
ảnh 4.7:
Gan xuất huyết, thoái hoá không bào... 90
ảnh 4.8:
Gan xuất huyết, tăng sinh tế bào viêm.. 90

dịch bệnh trở thành một yếu tố đáng quan tâm hơn bao giờ hết.
Một trong những bệnh quan trọng nhất và gây thiệt hại nặng nề cho
ngành chăn nuôi vịt là bệnh dịch tả vịt (Nguyễn Đức Hiền, 1999) [17]. Căn
bệnh là một loại DNA virus thuộc họ Herpesvirideae nhóm Herpesvirus. Bệnh
gây nên tình trạng bại huyết, xuất huyết cho vịt với tỷ lệ chết cao lên đến 90%.
- 9 -
Theo kết quả nghiên cứu về vấn đề phát triển vịt ở Việt Nam năm 1992
bệnh dịch tả vịt là một trong 3 bệnh mũi nhọn cần quan tâm nghiên cứu quy
trình miễn dịch cho khu vực nuôi qui mô lớn ở những vùng tập trung.
Điều tra dịch bệnh gia cầm ở 5 tỉnh phía Bắc (năm 1995- 1997), Lê
Minh Chí và cộng sự (1999) [8] cho biết: Bệnh dịch tả vịt là một trong hai
bệnh tác động lớn nhất đến đàn vịt.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh dịch tả vịt,
đã có nhiều nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt và virus gây bệnh dịch tả vịt đợc
tiến hành. Nhiều loại
vacxin dịch tả vịt đã đợc sản xuất và lu hành trên thị
trờng Việt Nam. Song việc sử dụng
vacxin chủ yếu lại do ngời chăn nuôi
quyết định. Hơn nữa do khâu chăn nuôi cha hợp lý, vệ sinh phòng bệnh cha
triệt để đã ảnh hởng rất nhiều đến hiệu quả bảo hộ của
vacxin.
Gần đây, bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm - Bệnh lý (VSV - TN - BL)
trờng Đại học Nông nghiệp I đang có giống vacxin nhợc độc dịch tả vịt
chủng DP-EG-2000 có xuất xứ từ nớc ngoài. Những nghiên cứu ban đầu về
hiệu lực bảo hộ của vacxin này đối với đàn vịt nuôi ở Việt Nam đã cho kết quả
tốt.
Để phục vụ cho việc nghiên cứu vacxin, cần thiết phải có một chủng
virus cờng độc tiêu chuẩn. Chủng virus cờng độc này cũng đồng thời phục
vụ cho công tác nghiên cứu về mặt độc lực, tính kháng nguyên và đặc điểm
bệnh lý học của các chủng virus cờng độc dịch tả vịt gây bệnh ở nớc ta

điểm là xuất huyết nội tạng và ỉa chảy nặng nề (Nguyễn Đức Hiền, 1999) [17].
2.1.1. Lịch sử và phân bố bệnh
* Lịch sử bệnh
Năm 1923, một vụ dịch xảy ra ở đàn vịt nhà với triệu chứng ủ rũ, khát
nớc và chết sau 1 ngày. Baudet (1923) [33] đã nghiên cứu về bệnh này. Ông
không tìm thấy vi khuẩn nhng đã gây đợc bệnh cho vịt khoẻ bằng nớc
chiết phủ tạng của vịt ốm sau khi qua nến lọc Chamberland L
3
. Sau đó ông
tiếp tục gây bệnh cho thỏ và gà nhng không thành công. Ông đã kết luận có
thể nguyên nhân do một loại virus. (Trần Minh Châu, 1987) [6].
Năm 1930, cũng tại Hà Lan, De Zeeuw mô tả một trờng hợp bệnh
tơng tự xảy ra ở một đàn vịt 150 con.
Năm 1942, dịch lại tái phát ở đất nớc này làm chết 2600 trong tổng số
5700 vịt. Vịt ốm ỉa phân xanh, mổ khám khi vịt chết thấy xuất huyết cơ tim,
dạ dày tuyến, tá tràng, viêm kiểu bạch hầu ở cuống họng và lỗ huyệt. Lần này,
Boss (1943) [34] đã phân lập ra virus và cấy truyền 18 đời trên vịt. Chủng
virus này đợc giữ lại.
Năm 1949, tại hội nghị thú y thế giới lần thứ XIV; căn cứ vào những kết quả
nghiên cứu của mình về chủng virus do Boss (1943) phân lập đợc; Jansen và
Kunst đã đề nghị gọi tên bệnh là Duck virus enteritis (DVE) (OIE, 2000) [52].
* Phân bố bệnh
Tại Châu Âu, bệnh dịch tả vịt đã đợc Devos phát hiện ở Bỉ năm 1964.
Năm 1970, Gaudry [61] phát hiện bệnh dịch tả vịt ở Pháp; Asplin phát hiện
- 12 -
bệnh ở Anh. Tiếp theo, Bela Toth và Voxapeer Suwathanaviroj công bố bệnh
dịch tả vịt xảy ra ở Đức (Trần Minh Châu, 1980) [4].
Tại Châu Mỹ, Leibovitz & Hwang (1967) [51]; Brand, C.J., and D.E.
Docherty (1984) [35] đã xác nhận bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Mỹ.
Tại Châu á, năm 1944 bệnh xảy ra ở ấn Độ và tái phát vào năm 1963.

Trung Quèc 2000 1100
Ên §é
424 17
1997
Malaysia 770 770
1998 Malaysia 100 100
Ên §é
1215 119
Malaysia 2500 50
Nepal 100 74
1999
ViÖt Nam 123851 51752
Ên §é
141 85
2000
ViÖt Nam 6747 2964
Ên §é
1434 396
Malaysia 790 790
Th¸i Lan 1414 998
2001
ViÖt Nam 46993 24478
Ên §é
1660 681
2002
ViÖt Nam 33831 15680
Ên §é
2430 888
2003
Th¸i Lan 3693 1121

- 15 -
2.1.2.3. Tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi, tuy nhiên vịt bị nhiễm nhiều nhất từ 15
ngày tuổi trở đi (Nguyễn Xuân Bình, 2004) [3].
2.1.2.4. Chất chứa virus
ở vịt bị nhiễm bệnh, virus có trong máu, các cơ quan phủ tạng, nhiều
nhất là ở gan, lách và óc. Tại Việt Nam đã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở
cơ thể vịt bị gây nhiễm nhân tạo; sau khi nhiễm virus 24 giờ, vịt còn đang
trong thời kỳ mang bệnh thì virus đã nhân lên, xâm nhập vào máu nhng số
lợng virus còn ít. Đến 48 giờ, khi vịt chảy nớc mắt, nớc mũi thì virus đã
xuất hiện trong các dịch này. Và đến 72 giờ, khi vịt bị bệnh nặng, bắt đầu ỉa
chảy thì tế bào niêm mạc đờng tiêu hoá do tác động của virus bị huỷ hoại,
tróc ra cùng với dịch tiết có nhiều virus, theo phân bài xuất ra ngoài (Trần
Minh Châu, 1987) [6].
Ngoài ra, vịt bệnh còn mang virus rất lâu và có thể tái phát bệnh ở thể ẩn
tính. Ngời ta có thể phát hiện bệnh bằng kiểm tra nốt rộp ở mặt dới của lỡi vịt.
ở môi trờng ngoài, với điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm, virus có thể tồn
tại tới 30 ngày (OIE, 2004) [53]. Trong điều kiện tự nhiên, virus có thể tồn tại một
thời gian khá dài, 5 ngày kể từ khi con vật cuối cùng chết vẫn có thể làm lây lan
bệnh cho vịt khoẻ nếu nhốt chúng vào chuồng cũ (Trần Minh Châu, 1987) [6].
2.1.2.5. Đờng xâm nhập và cách lây lan
Trong thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách tiêm dới da, bắp thịt,
tiêm tĩnh mạch hoặc nhỏ mũi.
Trong tự nhiên, đờng xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là đờng
tiêu hoá.
Bởi vậy, bệnh lây lan rất nhanh và mạnh theo phơng thức truyền lây
gián tiếp. Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nớc mắt, nớc mũi làm ô
nhiễm thức ăn, nớc uống. Từ đó bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các động vật
cảm nhiễm khác. Vịt khoẻ và các động vật cảm nhiễm này lại trở thành nguồn
- 16 -

- 17 -
Bệnh kéo dài 4- 6 ngày làm vịt gầy rạc, thân nhiệt hạ và vịt chết.
Các tác giả Nguyễn Vĩnh Phớc (1978) [25], Trần Minh Châu (1987)
[6], Phạm Quang Hùng (2003) [19] và nhiều công trình nghiên cứu khác về
triệu chứng của bệnh dịch tả vịt đều tiến tới xác nhận những triệu chứng đặc
trng nhất của bệnh dịch tả vịt là: sng đầu, liệt chân, chảy nớc mũi, nớc
mắt có dử, ỉa chảy phân trắng xanh. Nguyễn Nh Thanh (2001) [28] cho biết
số liệu điều tra về tỷ lệ phân bố các triệu chứng và bệnh tích của bệnh dịch tả
vịt, trong đó:
- Sốt cao: 100%
- ỉa chảy phân xanh: 100%
- Liệt chân: 90- 95%
- Chảy nớc mắt có dử: 90- 95%
- Sng đầu: 70- 80%
Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu nêu trên, ngời chăn nuôi và thú
y viên có thể nhanh chóng phát hiện và ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.
2.1.3.2. Bệnh tích
Khi mổ khám thấy xác chết gầy, bẩn do vịt ỉa chảy, mất nớc kéo dài. Nhổ
sạch lông thấy da vùng đầu, cổ, ngực, bụng, đùi xuất huyết lấm tấm. Tổ chức liên
kết dới da vùng đầu, cổ thuỷ thũng, có dịch keo nhầy trong suốt hơi hồng hoặc
hơi vàng. Mổ khám các cơ quan nội tạng nh: gan, lách, thận, cơ tim...thì thấy ở
các cơ quan này đều biểu hiện bệnh tích sng, tụ huyết hoặc xuất huyết, đặc biệt
ở gan còn có những điểm hoại tử màu trắng đục, to bằng đầu đinh ghim hoặc hơn
(Trần Kim Anh (2004) [2]; Phạm Sỹ Lăng (2002) [23]).
Theo Trần Minh Châu (1996) [7] thì bệnh tích của bệnh dịch tả vịt đặc
trng là đờng tiêu hoá có những chấm xuất huyết, nhiều nhất là ở cuống mề
và trực tràng; bên trên có phủ lớp màng giả, khó bóc. Phần ruột non xuất
huyết thành những vòng nhẫn nhìn từ ngoài vào thấy có màu nâu hoặc tím rất
đặc trng.
- 18 -

Bệnh phẩm dùng để chẩn đoán tốt nhất là gan, thận, lách của vịt nghi
mắc bệnh. Nghiền bệnh phẩm với dung dịch PBS (Phosphate Buffer Saline);
cho thêm kháng sinh (Penicillin, Steptomycin) diệt tạp khuẩn, ly tâm tốc độ
1800 vòng/phút trong 15 phút, lấy nớc trong gây nhiễm cho vịt con, phôi vịt
và môi trờng nuôi cấy tế bào.
* Nuôi cấy trên vịt con
Dùng huyễn dịch bệnh phẩm đã đợc xử lý nh trên tiêm cho vịt con
(mỗi con nặng khoảng 1 kg) với liều 0,5ml/con vào dới da hay bắp lờn. Nếu
bệnh phẩm có virus dịch tả vịt, vịt sẽ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đặc
trng của bệnh dịch tả vịt giống nh đã mô tả.
* Nuôi cấy trên phôi vịt
Tiêm huyễn dịch bệnh phẩm vào phôi vịt 12 ngày tuổi với liều
0,2ml/phôi vào xoang niệu. Sau 4 - 6 ngày, nếu bệnh phẩm có virus, phôi sẽ
chết với bệnh tích: Xuất huyết, phù thũng dới da, tổ chức dới da; gan bị hoại
tử, màng nhung niệu sng dày.
* Nuôi cấy trên môi trờng tế bào
Có nhiều loại môi trờng tế bào đợc sử dụng để nuôi cấy virus dịch tả
vịt nh: tế bào xơ phôi vịt, tế bào xơ phôi ngan, ... Với huyễn dịch bệnh phẩm
đợc xử lý nh trên, nếu có virus dịch tả vịt, thì khi nuôi cấy vào tế bào, virus
sẽ gây biến đổi các tế bào trong môi trờng. CPE biểu hiện là sự thoái hoá tế
bào và trong nhân tế bào có các hạt vùi dạng Crowdy A (Trần Minh Châu,
1987) [6]. Ngoài ra, có thể sử dụng phơng pháp phát hiện Plaque (những tế
bào bị virus gây thoái hoá) để xác định virus.
2.1.4.3. Chẩn đoán bằng phản ứng trung hoà
Để làm phản ứng trung hoà có thể dùng kháng huyết thanh dịch tả vịt
trộn với huyễn dịch bệnh phẩm. Sau đó tiêm cho phôi trứng hoặc tiêm cho vịt
thí nghiệm (lô thí nghiệm). Nếu phôi trứng hoặc vịt thí nghiệm không chết mà
- 20 -
ở lô đối chứng có hiện tợng chết với triệu chứng, bệnh tích đặc trng của
bệnh dịch tả vịt thì có thể kết luận bệnh (Nguyễn Xuân Bình, 2004) [3]

bằng cách chạy điện di trên thạch agarose nồng độ 0,8%- 2%, và DNA đợc
nhìn thấy rõ dới tia cực tím, sau khi đã nhuộm Ethidium Bromid (một loại
hoá chất có khả năng bám và làm hiển thị DNA). Độ dài DNA sản phẩm đợc
tính bằng cách so sánh với chỉ thị DNA (DNA Marker), hay sử dụng DNA của
thực khuẩn thể Lambda cắt bằng enzym giới hạn HindIII (Lê Thanh Hoà,
2002) [18]. ứng dụng trong công tác chẩn đoán bệnh dịch tả vịt, với đoạn mồi
đợc xác định trớc là của chủng virus dịch tả vịt chuẩn trên thế giới có trong
ngân hàng gen. Khi đa mẫu bệnh phẩm cần chẩn đoán vào và tiến hành phản
ứng PCR, đoạn mồi nói trên sẽ làm một đoạn DNA của virus dịch tả vịt (nếu
có trong bệnh phẩm) nhân lên nhanh chóng với số lợng lớn. Sản phẩm này
đợc phát hiện khi điện di trên thạch agarose 0,8 - 2%.
Để xác định trình tự các nucleotid của vùng gen cần nghiên cứu, có thể
lấy sản phẩm PCR để xác định trực tiếp trình tự trên máy giải trình tự động
(automated sequencer), nếu sản phẩm PCR tốt và đơn nhất. Tuy nhiên trong
nhiều trờng hợp, khi xác định trình tự nucleotid cần thiết phải tạo dòng sản
phẩm PCR (gọi là dòng hoá, cloning), vì trong phản ứng PCR, đôi khi có
những vùng nhân lên không đặc hiệu nh mong muốn mà qua điện di không
thể phát hiện đợc. Do đó nó sẽ bị lẫn vào sản phẩm PCR, và khi đọc trình tự
sẽ làm chuỗi nucleotid bị rối và không chính xác. Mặt khác, số lợng DNA
trong sản phẩm PCR thờng ít, chất lợng kém nên khi giải trình trình tự sẽ
gặp khó khăn.
Nguyên lý của dòng hoá là đa đoạn DNA sản phẩm của PCR gài vào
trong hệ gen của một vòng DNA đã đợc thiết kế trớc, gọi là plasmid (hay
plasmid dẫn truyền, cloning vector). Sau đó plasmid chứa DNA ngoại lai này
đợc chuyển nạp vào tế bào chủ thích ứng để nuôi cấy với số lợng lớn và
tách DNA plasmid chứa đoạn PCR nói trên (plasmid tái tổ hợp), nhằm thu
đợc một số lợng lớn bản sao DNA một cách chính xác nhất. Để thực hiện
- 22 -
tạo dòng, phải có các thành phần sau: DNA ngoại lai (DNA của PCR nhân
vùng gen mong muốn), vector dẫn truyền (plasmid mang) và dòng tế bào chủ

đàn vịt tốt thì có thể cứu đựơc tới 90% vịt (Trần Minh Châu, 1996) [7].
2.1.5.2. Phòng bệnh
Để phòng bệnh hiệu quả, cần thực hiện tốt cả hai khâu: Vệ sinh phòng
bệnh và tiêm phòng bằng vacxin
* Vệ sinh phòng bệnh
ở những nơi cha có bệnh tốt nhất nên tự túc con giống. Khi tạo đàn
không nên nhập chung nhiều đàn nhỏ lại. Lò ấp trứng cũng không nên ấp
trứng của quá nhiều đàn. Sau mỗi lần ấp trứng cần tẩy uế lò ấp rồi sát trùng kỹ
bằng hơi formol (Nguyễn Vĩnh Phớc, 1978) [25].
Ngày nay, bệnh dịch tả vịt có những diễn biến phức tạp. Tác giả Phạm Quang
Hùng (2003) [19] nêu một số nguyên tắc phòng bệnh bằng vệ sinh nh sau:
- Chuồng trại vịt cách xa khu dân c. Cổng trại phải có hố sát trùng
(thờng sát trùng bằng Cloramin 3%). Hạn chế ngời đi lại, ngời ra vào trại
phải sát trùng giày dép, tay chân.
- Điều kiện nuôi dỡng tốt, máng ăn, máng uống phải sạch sẽ. Thức ăn,
nớc uống phải vệ sinh. Thực hiện tiêu độc, sát trùng dụng cụ, chuồng trại giữa
hai lứa vịt. Chú ý tiêu diệt chuột và các loài gặm nhấm quanh khu vực trại.
- Vịt mới mua về phải nuôi cách ly ít nhất ba tuần lễ.
* Tiêm phòng bằng vacxin
- Vacxin dùng để phòng bệnh dịch tả vịt có 2 loại là vacxin vô hoạt và
vacxin nhợc độc.
+ Vacxin vô hoạt:
Để vô hoạt virus dịch tả vịt, trớc đây thờng dùng hoá chất là formon,
gần đây sử dụng chất BPC (Beta propiolactore). Tại Việt Nam, đã chế thử
vacxin vô hoạt nh: vacxin dịch tả vịt gan máu glyxin tím, vacxin formon gan.
- 24 -
Theo OIE (2000) [52]: vacxin vô hoạt tạo đợc miễn dịch cho đàn vịt nhng
hiệu lực thấp hơn so với vacxin nhợc độc, hiện nay vacxin vô hoạt chỉ sử
dụng trong phòng thí nghiệm, cha đợc áp dụng trong sản xuất.
+ Vacxin nhợc độc:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status